Tìm hiểu chính sách đối ngoại của trung quốc ở đông nam á từ sau chiến tranh lạnh đến nay - Pdf 32

Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

tìm hiểu chính sách đối ngoại của trung quốc
đối với đông nam á từ sau chiến tranh lạnh đến nay
---------------------------------

Phần mở đầu
I - lý do chọn đề tài:

Sau chiến tranh lạnh cùng với sự sụp đổ của "trật tự hai cực Ianta", thế
giới bớc vào quá trình hình thành một trật tự thế giới mới với sự hiện diện của
các nớc lớn và các trung tâm quyền lực: Mỹ - Tây Âu - Nhật Bản, Nga, Trung
Quốc... Trong đó Trung Quốc nh là một cờng quốc đang trổi dậy ở Châu á và
có xu hớng tác động đến sự thay đổi thế cân bằng của Châu á - Thái Bình Dơng trong tơng lai.
Trong sự biến chuyển của tình hình quốc tế thập kỷ qua, xu thế nhất cực
hay đa cực vẫn cha đợc xác định, nhng đối với Trung Quốc thì một thế giới đa
cực là mong muốn và là mục tiêu của họ trong đó họ muốn mình sẽ là một cực
với vị trí nhất định trên trờng quốc tế.
Xuất phát từ mục tiêu chiến lợc đó, trong sự biển đổi của tình hình thế
giới hiện nay, Trung Quốc đã thực hiện điều chỉnh chính sách đối ngoại đối
với các nớc Đông Nam á, điều này đã đa đến những tác động không nhỏ tới
khu vực trong những năm qua.
Sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam á từ sau
chiến tranh lạnh đến nay đợc các nhà lãnh đạo Trung Quốc khẳng định những
mục tiêu trên kinh tế, vì môi trờng hoà bình... nhng vấn đề đặt ra là, trên thực
tế thì những mục tiêu đó chỉ là một mặt trong chính sách của Trung Quốc ở
Đông Nam á. Những tranh chấp vẫn thờng xuyên diễn ra và ngày càng có
phần căng thẳng giữa Trung Quốc với các nớc Đông Nam á với thái độ cứng
rắn của Trung Quốc, những nguy cơ đe dọa đến tình hình an ninh và môi trờng

Đã có không ít các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm đến
vấn đề này, song mới chỉ là bớc đầu với những bài viết, bài bình luận, thờng
là nghiêng về mặt này hoặc mặt khác của vấn đề.

2


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc trên cơ sở nhìn nhận về bình diện thế
giới đã khẳng định chính sách mở cửa đối ngoại để phát triển của Trung Quốc
từ thời Đặng Tiểu Bình là một sự hoà nhập hợp quy luật vì "Sự phát triển của
Trung Quốc không thể tích khỏi thế giới". Lu Vĩnh Đoạn trong" Kinh tế Châu
á bớc vào thế kỹ XXI" cũng đã đề cập đến một phần nhng không nhiều về hớng phát triển kinh tế, chính trị của Trung Quốc hiện tại và tơng lai.
Các nhà nghiên cứu phơng Tây có sự chú ý đặc biệt đến Trung Quốc từ
sau chiến tranh lạnh đến nay, nhng cũng chỉ mới dừng lại ở mặt này hay mặt
khác của vấn đề nh: Những biến đổi kinh tế và xu hớng địa chính trị qua tình
hình thế giới năm 1993 - 1994 - 1996 và việc đánh giá " Trung Quốc trên bàn
cân. Gần đây nhất, G.Klinworth trong" Đông Nam á - Trung Quốc mối quan
hệ đang mở ra" đã nói đến sự tiến triển trong quan hệ Trung Quốc - Đông
Nam á... Nhng tất cả cũng mới chỉ là những bài viết phục vụ cho quân sự, nên
nó thiên về chính sách quân sự của Trung Quốc.
Hiện nay, trên các tài liệu đặc biệt phục vụ nghiên cứu đã có những bài
biết ngắn nh: "Những u tiên chính sách và quan hệ gần đây nhất của Trung
Quốc với Đông Nam á" của Robert Sutter và "Các mối quan hệ đang biến đổi
của Trung Quốc với Đông Nam á, Nam á và Trung á " của Ross Munrô, đã
khái quát đợc xu hớng điều chỉnh chính sách của Trung Quốc với Đông Nam
á nhng trên quan điểm của các nhà nghiên cứu phơng Tây, ít nhiều có những

Trung Quốc.

Phần nội dung:
Chơng I
Vài nét về chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam á
trớc năm 1989 và sự chuyển hớng sau chiến tranh lạnh

6


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

I - Vài nét về chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam
á trớc năm 1989:

Từ sau năm 1949, nớc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa bắt đầu công
cuộc xây dựng đất nớc, cũng là thời kỳ Trung Quốc phải bảo vệ sự tồn tại của
mình trong bối cảnh thù địch đợc tạo ra bởi cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới
đã lan rộng ở Châu á. Vì vậy, chính sách của Trung Quốc ở giai đoạn này
luôn có hai mục tiêu hàng đầu là củng cố an ninh quốc gia và nâng cao địa vị
trên trờng quốc tế với t cách là một nớc lớn.
Do những tác động của sự phân chia quyền lực chính trị trong chiến
tranh lạnh và việc theo đuổi những mục tiêu chiến lợc của mình, nên chính sách
của Trung Quốc đối với Đông Nam á thời kỳ này rất phức tạp, tạo nên mối quan
hệ giữa Trung Quốc với các nớc Đông Nam á đầy quanh co, uốn khúc.
1/ Chính sách của Trung Quốc với các nớc Đông Dơng:
Vào đầu những năm 50, Trung Quốc đứng trớc mối nguy cơ an ninh cả
từ phía bắc và phía nam. ở phía Bắc, Trung Quốc phải đối phó với cuộc chiến

Xuất phát từ bối cảnh đó, Trung Quốc đã đi từ chính sách chống Mỹ
công khai đến thoả hiệp với Mỹ để chống lại Liên Xô. Đỉnh cao của sự thoả
hiệp trên giữa Trung Quốc với Mỹ là việc ký kết "Thông cáo Thợng Hải"
tháng 12/1972. Một trong những nội dung của "Thông cáo Thợng Hải" là:
Mỹ và Trung Quốc công nhận quyền lợi của nhau ở vùng Châu á- Thái Bình
Dơng, đặc biệt là ở Đông Nam á. Trung Quốc chấp nhận sẽ giúp đỡ Mỹ trong
chiến lợc của Mỹ ở Việt Nam và Đông Dơng. Trung Quốc sẽ liên minh với
Mỹ nhằm chống lại Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa.
Sự thoả hiệp với Mỹ của Trung Quốc là một bớc có ý nghĩa quyết định
đối với việc triển khai âm mu bành trớng của Trung Quốc, trớc hết là ở Đông
Dơng.
Sau khi ký "Thông cáo Thợng Hải", Trung Quốc đã ngừng viện trợ,
ngừng giúp đỡ Việt Nam, đồng thời tìm mọi cách kiềm chế Việt Nam thống
nhất đất nớc, cản trở việc thi hành hiệp định Pari, âm mu thi hành chính sách
8


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

giữ cho Việt Nam không thắng không bại, bị chia cắt lâu dài lệ thuộc vào
Trung Quốc.
Sau hiệp định Pari tháng 1/1973, Trung Quốc đã từng bớc đẩy mạnh
hơn nữa những hành động nhằm chống phá Cách mạng Việt Nam. Trung Quốc
đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa để khống chế Việt Nam từ mặt biển; đồng thời
tăng cờng những hành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở những tỉnh biên
giới phía bắc Việt Nam nhằm duy trì tình hình căng thẳng ở biên giới Việt Trung để phân tán lực lợng của Cách mạng Việt Nam. Mặt khác, Trung Quốc
"nuôi dỡng" và sử dụng bè lũ Pôn Pốt -Iêng Xary để thi hành chính sách chống
Việt Nam, từng bớc nắm trọn Campuchia dới chế độ Pôn pốt - Iêng Xari để

một căn cứ, một bàn đạp để khống chế Đông Dơng. Sau năm 1975, khi
Campuchia đã giải phóng, Trung Quốc đã xây dựng nên một chế độ diệt chủng
có một không hai trong lịch sử loài ngời, nhằm thông qua đó để hoàn toàn kiểm
soát Campuchia và chống Việt Nam từ phía Tây Nam.
Sang thập kỹ 80, cách mạng các nớc Đông Dơng đã giành đợc thắng lợi
quyết định, Trung Quốc thực hiện đờng lối cải cách mở cửa, đa quan hệ
Trung Quốc và ba nớc Đông Dơng đến chỗ có phần dịu hơn, nhng trên thực tế,
chính sách "nớc lớn" t tởng "đại dân tộc" của Trung Quốc vẫn đợc thể hiện rõ
ràng qua quá trình đàm phán với Việt Nam, quá trình lợi dụng tình hình phức
tạp ở Campuchia đề tăng cờng ảnh hởng đối Đông Dơng cũng nh khu vực
Đông Nam á.
2/ Chính sách của Trung Quốc đối với các nớc Đông Nam á khác:
Mặc dù có những nét khác biệt, nhng chính sách của Trung Quốc với
các nớc Đông Nam á khác cũng cùng chung một điểm xuất phát từ t tởng chỉ
đạo chủ nghĩa đại dân tộc và chiến lợc chủ nghĩa nớc lớn của những nhà cầm
quyền Trung Quốc trong thời kỳ này. Cụ thể là trớc hết Trung Quốc muốn
thôn tính ba nớc Đông Dơng, dùng Đông Dơng làm bàn đạp, bành trớng
xuống các nớc Đông Nam á khác. Điều này đợc thể hiện rõ qua khẳng định
của Chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc họp của Bộ chính trị, Ban Chấp
hành Trung ơng Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 8/1965: "Chúng ta phải
giành cho đợc Đông Nam á bao gồm cả Thái Lan, Miến Điện, Malaixia và
Singapore..."
10


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

Trong những năm 50, 60, do chính sách "nhất biên đảo" và chính sách

Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

ợng Pônpốt - Iêng Xari để cùng với Trung Quốc chống lại cách mạng Việt
Nam và Đông Dơng.
Đến thập kỷ 80, Trung Quốc thấy không thực hiện đợc mục tiêu chiến lợc của mình ở Đông Dơng. Bên cạnh đó, do việc thực hiện chính sách cải cách
mở cửa, Trung Quốc rất cần thu hút vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý... Đó
chính là động cơ để Trung Quốc hớng tới tăng cờng cải hiện quan hệ hợp tác
với các nớc ASEAN, coi đây là hớng mở cửa quan trọng của Trung Quốc ở
Châu á - Thái Bình Dơng. Tuy vậy, trong thời kỳ này, quan hệ giữa Trung
Quốc và các nớc ASEAN vẫn chỉ là bớc đầu, rất dè dặt và mang tính chất
quan hệ kinh tế đơn thuần.
Chính sách của Trung Quốc với các nớc Đông Nam á trong những năm
trớc 1989 là xuất phát từ những mục tiêu chiến lợc của Trung Quốc, thực hiện
t tởng chủ nghĩa nớc lớn, bành trớng, bá quyền bằng mọi hình thức. Chính vì
vậy mà chính sách đối ngoại của Trung Quốc nh những nớc cờ lắt léo, đầy
quanh co và phức tạp, điều chỉnh theo những biến đổi của tình hình quốc tế.
Sự xoay vần ấy đã tạo nên sự thất thờng trong chính sách của Trung Quốc đối
với khu vực Đông Nam á.

II - Những nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại của
Trung Quốc sau chiến tranh lạnh:

1/ Tình hình quốc tế:
Sự kết thúc của chiến tranh lạnh vào cuối thập kỷ 80 đã khiến cho tình
hình thế giới chuyển sang một thời kỳ mới. Sự thay đổi lớn đó đã làm cho mục
tiêu, phơng hớng, sách lợc, chiến lợc phát triển của nhiều nớc bị đảo lộn. Trong
bối cảnh đó, các nớc đều ra sức tìm cho mình một con đờng mới để có thể tiếp
tục phát triển trong thế giới đầy biến động sau "chiến tranh lạnh".

đảm bảo an ninh và tạo sự ảnh hởng của mình.
Nh vậy sau chiến tranh lạnh, những chuyển biến trong tình hình
quốc tế đã tạo nên những nhân tố cơ bản buộc các quốc gia, nhất là những
nớc đang nổi lên, ra sức điều chỉnh chiến lợc phát triển của mình, đặc biệt

13


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

là điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại để hoà nhập với xu thế mới của
thế giới.
2/ Những chuyển biến ở Châu á - TBD sau chiến tranh lạnh:
2.1/ Tình hình Châu á - Thái Bình Dơng:
Sau chiến tranh lạnh, Châu á -Thái Bình Dơng đợc coi là nơi yên bình
nhất, năng động nhất và ổn định nhất của thế giới hiện nay.
Về kinh tế: Sự sôi động và thần kỳ của Châu á - Thái Bình Dơng trớc
hết là ở lĩnh vực kinh tế và tốc độ tăng trởng kinh tế. Qua thống kê của các
nhà nghiên cứu kinh tế, Châu á -Thái Bình Dơng có tốc độ tăng trởng kinh tế
cao nhất thế giới sau chiến tranh lạnh. Mức tăng GDP của Châu á -Thái Bình
Dơng bình quân mỗi năm đạt trên dới 6%, trong khi tốc độ tăng trởng kinh tế
của Bắc Mỹ là 2,4% và Tây Âu 1,5% năm. Theo dự báo của tổ chức kinh tế
thế giới năm 1990 thì tổng sản phẩm của Châu á -Thái Bình Dơng chiếm 1/4
tổng sản phẩm của toàn thế giới và đang tiếp tục phát triển.
Sự xuất hiện và vơn lên của những "con rồng" Châu á nh Nhật Bản,
Hồng Kông, Đài Loan, Sinhgapore.... đã là biểu hiện cho sự phát triển thần kỳ
của kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng. Đặc biệt sự kết thúc của chiến tranh
lạnh đã tạo ra môi trờng hoà nhập trong dòng phát triển và hợp tác của Châu

Sự tranh giành bá quyền giữa các nớc lớn vẫn đang diễn ra một cách âm
thầm. Nổi bật là sự cạnh tranh quyền lực giữa Nhật Bản và Trung Quốc, và
quá trình hai bên tập hợp lực lợng vẫn diễn ra từng ngày với một hình thức kín
đáo. Nhật một mặt đẩy mạnh đầu t buôn bán ở Châu á -Thái Bình Dơng và
xem đó nh một phơng tiện để giành quyền lãnh đạo trên thực tế, mặt khác tiếp
tục tìm kiếm vai trò chính trị lớn hơn thông qua ảnh hởng kinh tế và nâng cao
vị trí của mình ở Liên Hiệp Quốc. Đồng thời việc duy trì Hiệp ớc an ninh Mỹ Nhật cũng tạo nên sức mạnh cho Nhật. Đây thực sự là vấn đề có ý nghĩa
không nhỏ tác động đến Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải chú ý đến sự điều
chỉnh chính sách của mình.
Đáng chú ý hơn là sau chiến tranh lạnh, sự sụp đổ của Liên Xô đã làm
cho quan hệ hợp tác Mỹ - Trung trong việc chống Liên Xô không còn cần
thiết nữa. Song song với nó là sự cải thiện quan hệ Trung - Nga cho phép
Trung Quốc hớng trọng tâm chú ý đến nơi khác. Và hiện nay, sự rút đi của
Mỹ và Nga đã tạo nên "khoảng trống quyền lực" và tình trạng mất cân bằng
15


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

sức mạnh ở Châu á -Thái Bình Dơng. Những yếu tố đó trở thành cơ hội
quyết định để Trung Quốc điều chỉnh chính sách của mình với hy vọng sẽ là
ngời lấp khoảng trống đó bắt đầu bằng sự tạo ảnh hởng lớn và khẳng định vai
trò của mình ở Châu á -Thái Bình Dơng.
2.2/ Khu vực Đông Nam á sau chiến tranh lạnh:
Nằm trong sự chi phí phối chung của tình hình thế giới, Đông Nam á
sau chiến tranh lạnh đã có sự chuyển mình về mọi mặt. Sự ổn định của chính
trờng đã loại trừ những đối kháng, những căng thẳng trong khu vực, tạo điều
kiện cho Đông Nam á đẩy mạnh sự tăng cờng hợp tác và phát triển trong

đặc biệt là địa vị chính trị, kinh tế của khu vực Đông Nam á tại Châu á -Thái
Bình Dơng. Quá trình liên kết có tính khu vực đã đợc ASEAN quyết định tại
Hội nghị cấp cao ASEAN tổ chức lần thứ 4 ở Singapore 1992, xây dựng một
thị trờng thống nhất phi thuế quan: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA:
ASEAN Free Trade Area), đã làm tăng thêm sức hấp dẫn mạnh mẽ của khu
vực.
Hiện nay khu vực Đông Nam á đợc coi là thị trờng đầu t của các nớc
do sự ổn định và hấp dẫn của nó. Nguồn đầu từ bên ngoài và khu vực ngày
càng tăng đã có tác động lớn đối với sự phát triển của Đông Nam á cả về
kinh tế và giao lu về khoa học kỹ thuật.
Sự phát triển kinh tế của các nớc Đông Nam á hiện nay đợc đánh giá
rất cao cả về quy mô và thực lực. Vai trò độc đáo của khu vực với Châu á
-Thái Bình Dơng, ý thức độc lập tự chủ và cùng chung tiếng nói đã ngày càng
nâng cao uy tín và ảnh hởng quốc tế của Đông Nam á, đặc biệt là Đông Nam
á ngày càng tạo nên sức hấp dẫn với thế giới. Tất cả những điều đó đã có tác
động không nhỏ đến chính sách của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh. Trung
Quốc với t cách là một nớc lớn đã hớng trọng tâm hợp tác với Đông Nam á.
Đó sẽ là trọng tâm chú ý của thế giới.
Về an ninh chính trị: Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, gần nửa thế kỷ
Đông Nam á là một trọng điểm trong chiến lợc của Mỹ và bên cạnh đó là
hàng loạt các vấn đề bất ổn nh: Vấn đề Campuchia, sự đối đầu ASEAN Đông
Dơng... tình hình đó đã ảnh hởng đến quan hệ hoà bình trong khu vực.
17


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

Sau chiến tranh lạnh, tình trạng căng thẳng trong khu vực từng bớc đợc


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

Nh vậy, Đông Nam á đã đi từng bớc từ tính liên kết khu vực, tạo môi trờng hòa bình, ổn định an ninh, phát triển chính trị, đến chổ khẳng định vị trí và
vai trò độc đáo của mình ở Châu á - Thái Bình Dơng dới hình thức tổ chức
quốc tế có tính khu vực. Tất cả những nhân tố nội tại và tích cực của Đông
Nam á chính là nhân tố quyết định để Đông Nam á ngày càng nâng cao địa vị
quốc tế của mình và Đông Nam á ngày càng trở thành một trọng tâm trong hớng đặt quan hệ ngoại giao của các nớc đặc biệt là với Trung Quốc.
3/ Tình hình Trung Quốc từ sau chiến tranh lạnh:
3.1/ Những chuyển biến về chính trị:
Mọi sự chuyển biến trong xã hội đều đợc xuất phát từ những biến đổi
về lực lợng sản xuất, nhng nếu không có những chuyển biến cách mạng trong
đờng lối chính trị, hệ thống t tởng cho phù hợp với lực lợng sản xuất, thì
không thể gặt hái đợc những thành tựu kỳ diệu trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội.
Về đờng lối đối nội năm 1992, quan điểm của Đặng Tiểu Bình về
"Kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa " đã thắng quan điểm"Kinh tế hàng hoá
xã hội chủ nghĩa có kế hoạch", dẫn tới đờng lối đại hội XIV của Đảng cộng
sản Trung Quốc tháng 10/1992 là: "Mục tiêu cải cách thế chế kinh tế và thiết
lập nền kinh tế thị trờng xã hội chủ nghĩa ". Đến tháng 9/1997, đại hội XV
của Đảng cộng sản Trung Quốc đã đa ra vấn đề cải cách "Kinh tế quốc hữu".
{4- Tr15}Đây đợc coi là bớc đột phá mới về quan điểm lý luận và đờng lối cải
cách. Nhng ta thấy rằng trên thực tế, kể từ 1978, Trung Quốc đã từng bớc
chuyển từ "Nền kinh tế kế hoạch tập trung" sang "Nền kinh tế thị trờng xã hội
chủ nghĩa", với mục tiêu kinh tế chiến lợc là: Phát triển sức sản xuất, tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Gắn liền với kinh tế thị trờng, chính sách đối ngoại của Trung Quốc
cũng có sự chuyển biến cơ bản.

khẳng định "chính sách mở cửa đối ngoại là quốc sách cơ bản và lâu dài của
Trung Quốc". {25-Tr36}.
Có thể nói, những chuyển biến trong hệ t tởng, trong đờng lối chính trị
của Trung Quốc đã đa đến những biến đổi cơ bản về chính sách đối nội và
chính sách đối ngoại, đây sẽ là xuất phát điểm, là nền móng cho mọi biến

20


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

chuyển trong xã hội Trung Quốc và biểu hiện của nó trớc hết là trên lĩnh vực
kinh tế.
3.2/ Những chuyển biến về kinh tế:
Trong những năm trớc 1978, những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bất
chấp các quan hệ kinh tế Trung Quốc và thực trạng tình trạng tình hình đất nớc, muốn nhanh chóng đa Trung Quốc đuổi kịp và vợt các nớc khác, từ đó
tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Song chính sách và sự chỉ đạo sai lầm đó đã làm
cho nền kinh tế Trung Quốc bị rối loạn và sa rút nặng nề. Việc thực hiện
chính sách "Ba ngọn cờ hồng" và cuộc " Đại cách mạng văn hoá vô sản" cùng
với những vấn đề phức tạp trong nền chính trị Trung Quốc đã tạo nên sự cản
trở vô cùng lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc. Thực tế đó
đã trở thành mối lo ngại, sự thách thức với Trung Quốc khi họ đối mặt với tình
hình thế giới. Đòi hỏi cấp bách cải cách đất nớc.
Từ sau 1978 với việc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, hiện đại hoá
đất nớc, Trung Quốc đã từng bớc đa nền kinh tế của mình biến đổi về chất.
Công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc đã đem đến tốc độ tăng trởng
kinh tế mạnh mẽ cha từng có, mở ra thời kỳ huy hoàng và thịnh vợng nhất
trong lịch sử, đa đất nớc cùng hoà nhập với thế giới hiện đại.

Quốc đã thúc đẩy những nhân tố tiềm tàng nội tại của đất nớc, đa nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ, mặt khác gắn liền với cải cách kinh tế để phát triển, đòi
hỏi Trung Quốc phải mở cửa đối ngoại. Đây là một trong những yếu tố cốt lõi
để Trung Quốc điều chỉnh chính sách của mình nói chung và với khu vực
Đông Nam á nói riêng, nhằm giao lu kinh tế, khoa học kỹ thuật và tạo phạm
vi ảnh hởng để phát triển và khẳng định vị thế của mình trên trờng quốc tế.
III - Sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc đối với Đông
Nam á sau chiến tranh lạnh:

1/ Quan điểm của Trung Quốc về cục diện thế giới sau chiến tranh lạnh:
1.1/ Về cục diện thế giới:
Để định ra chính sách của mình, vấn đề trớc hết là Trung Quốc phân
tích một cách rõ ràng, chính xác về sự biến đổi của cục diện thế giới. Sau
chiến tranh lạnh, Trung Quốc nhận định rằng trật tự thế giới đã thay đổi, cục
diện thế giới có xu hớng phát triển theo chiều đa cực hoá với biểu hiện "nhất

22


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp

siêu, đa cờng". Cái gọi là" nhất siêu" là chỉ nớc Mỹ, còn "đa cờng" chỉ các nớc, các khu vực nh Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga. Trong đó, Trung
Quốc muốn xây dựng một thế giới đa cực. Hiện nay thực lực của "đa cờng"
tuy tạm thời cha sánh ngang với Mỹ, nhng khoảng cách thì đang dẫn rút ngắn
lại và xu hớng đa cực vẫn có nhiều u thế hơn với tổng lực của "đa cờng".
Ngoài ra Trung Quốc còn nhận định hệ thống quốc tế hiện nay đang phát
triển theo hớng đa cực hoá và trong cục diện biến động đó, các nớc đang ra
sức tìm kiếm vị trí quốc tế mới của mình. Trong điều kiện đó, Trung Quốc

Về phía mình, từ sau chiến tranh lạnh, Trung Quốc cũng nhận thấy sức
mạnh của mình trong chiến lợc địa chính trị và trên trờng quốc tế tăng lên.
Trung Quốc đã trở thành một trong những chủ thể cạnh tranh trên trờng quốc
tế. Đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á năm 1997 đến nay,
Trung Quốc cũng khẳng định đợc vị thế của mình hơn ở Châu á - Thái Bình
Dơng.
Với mục tiêu khẳng định mình, tìm kiếm sự tham gia quốc tế tăng cờng
sức mạnh quốc gia, Trung Quốc đã nhìn nhận một cách toàn diện về cục diện
thế giới sau chiến tranh lạnh. Song bên cạnh đó, hiển nhiên việc nhìn nhận và
đánh giá về cục diện khu vực cũng là một vấn đề hết sức quan trọng.
1.2/ Về Cục diện Châu á - Thái Bình Dơng:
Với cục diện Châu á - Thái Bình Dơng, Trung Quốc dễ dàng nhận thấy
sức mạnh của mình trong lĩnh vực địa chính trị cũng nh trong lĩnh vực địa kinh tế. Nền kinh tế của Trung Quốc đã vơn lên cùng với quá trình tiến hành
"Cải cách mở cửa". Điều đó thể hiện rõ trong năm 1998, mức tăng trởng kinh
tế toàn cầu đạt khoảng 2%, trong khi đó Trung Quốc vẫn đảm bảo mức tắc trởng 7,8% theo tính toán, tổng sản phẩm quốc dân GDP của Trung Quốc đạt
1.000 tỷ USD đứng thứ 7 thế giới. Nếu tính sản phẩm quốc dân GNP thì đạt
4.700 tỷ USD, chiếm khoảng 60% của Mỹ và đứng thứ hai thế giới. [17-Tr
28,29]Vì vậy có thể khẳng định rằng, Trung Quốc ngày càng khẳng định đợc
vị trí của mình, nhất là ở Châu á - Thái Bình Dơng.
ở Châu á - Thái Bình Dơng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nớc này có vị trí là trung tâm sức mạnh chủ yếu, tính theo giá hối đoái thì GNP
của nớc này chỉ kém Nhật Bản, cao hơn ASEAN, Nga, ấn Độ và Hàn Quốc.
Tính theo sức mua của GNP ở Trung Quốc gấp 2,5 lần GNP của 8 nớc: Thái

24


Trơng Thế Anh

Luận văn tốt nghiệp



Trích đoạn Chính sách đối với các nớc Đông Nam á: Chính sách chính trị ngoại giao của Trung Quốc đối với các n Những cơ hội cho sự phát triển của Đông Nam á: Những thách thức với Đông Nam á trớc chính sách của Trung Quốc: Phần kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status