Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của nhật bản đối với đông nam á từ sau chiến tranh lạnh đến năm 2001 - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học Vinh
----------***---------

Đậu thị hoa

Sự đIều chỉnh chính sách đối ngoại của
nhật bản đối với đông nam á từ sau
chiến tranh lạnh đến năm 2001

Luận văn thạc sĩ lịch sử

Vinh 2007

1


Bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học Vinh
----------***---------

Đậu thị hoa

Sự đIều chỉnh chính sách đối ngoại của
nhật bản đối với đông nam á từ sau
chiến tranh lạnh đến năm 2001
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số
: 60.22.50

Luận văn thạc sĩ lịch sử

nguồn thu lợi ích kinh tế chủ yếu mà còn chứa đựng nhiều tiềm năng phát
triển, giàu khoáng sản, nguồn lao động dồi dào và mang đậm bản sắc văn hoá
độc đáo. Không những thế, Đông Nam á còn là khu vực rất quan trọng về địa
lý, chính trị vì có thể nói rằng, bất kỳ một sự biến động nào của khu vực này
đều có ảnh hởng trực tiếp và sâu sắc đến lợi ích an ninh chính trị và ngoại giao
trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng.

3


Xuất phát từ những yếu tố đó, từ sau Chiến tranh lạnh cùng với những
chuyển biến cơ bản của tình hình thế giới và khu vực, hầu hết mọi quốc gia đều
ra sức hoạch định chiến lợc, từng bớc có chính sách phù hợp để thích ứng với
điều kiện trong nớc và ngoài nớc nhằm tăng cờng, củng cố vai trò, vị trí của
mình. Có thể nói, nét nổi bật trong nền chính trị thế giới kể từ khi Chiến tranh
lạnh chấm dứt là sự điều chỉnh của tất cả các nớc, nhất là các nớc lớn, nhằm dành
cho mình một vị trí tối u trong hệ thống quan hệ quốc tế đang đợc cơ cấu lại.
Nhật Bản không nằm ngoài xu hớng chung đó của thế giới.
Nhật Bản là một cờng quốc kinh tế trong khu vực, lại có những mối
quan hệ sâu rộng về lịch sử, kinh tế, văn hoá lâu đời với Đông Nam á. Nhật
luôn coi đây là khu vực thân thiết, gắn bó với sự sống còn và phát triển của
mình. Vì thế, ngay từ khi mới bớc ra khỏi hơi nóng của cuộc chiến tranh lạnh,
Nhật Bản đã nhanh chóng hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của
mình với quốc tế và khu vực Đông Nam á. Nhật chú trọng đến Đông Nam á,
coi đó là tiểu khu vực trọng điểm có ảnh hởng đến vai trò nớc lớn của
Nhật. Xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhật Bản với Đông Nam á trong suốt
thời kỳ Chiến tranh lạnh, có thể thấy chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời
kỳ này đạt đợc những kết quả đáng kể, đáp ứng đợc phần nào lợi ích của cả
hai bên. Với một nớc Nhật đang trong quá trình lựa chọn chiến lợc hậu Chiến
tranh lạnh của mình để vơn lên trở thành một cờng quốc toàn diện, tìm sức

của các nớc lớn trong khu vực, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản tại Hà Nội đã
xuất bản cuốn sách Chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến
tranh lạnh, xuất bản năm 2000, do Ngô Xuân Bình chủ biên, nhng mang
tính chất tạo ra cái nhìn tổng thể về chính sách đối ngoại của Nhật. Bên cạnh
đó, có cuốn Quan hệ của Nhật Bản với các nớc Đông Nam á sau chiến
tranh thế giới thứ II năm 1945 1975 do Dơng Lan Hải (chủ biên), Nhà xuất
bản KHXH, Hà Nội, năm 2000, đã đề cập đến một số mối quan hệ ngoại giao

5


giữa Nhật Bản với Đông Nam á ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết
thúc. Tác phẩm An ninh kinh tế ASEAN và vai trò của Nhật Bản của Nhà
xuất bản CTQG, Hà Nội, năm 2001 đã nêu lên sự phát triển kinh tế và an ninh
của các nớc châu á - Thái Bình Dơng, trong đó có nói đến sự tác động của
Nhật Bản đối với khu vực này. Cuốn sách Chiến lợc quốc gia của Nhật Bản
trong thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Thông tấn Hà Nội, năm 2004 nêu lên những
yếu tố và nội dung chính mà Nhật Bản sẽ đa ra trong thế kỷ XXI
Ngoài ra, trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á có các bài
viết Tìm hiểu chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với các nớc ASEAN
(4/2004), An ninh châu á và chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong thời
kỳ sau Chiến tranh lạnh của Kamao Kaneko (1995), Chiến lợc đối ngoại
của Nhật Bản trong những thập niên đầu thế kỷ XXI của Hồ Châu (4/2005 ),
Điều chỉnh chính sách đối ngoại và an ninh của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến
tranh lạnh khía cạnh đa phơng hoá và quan hệ với Hoa Kỳ của Ngô Xuân
Bình (10/1999), Quan hệ Việt Nhật thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh những
dấu ấn ngoại giao đậm nét của Nguyễn Thanh Hiền (2003)
Trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế có những bài: Nhật Bản điều chỉnh
chính sách Đông á của Võ Sơn Thuỷ (1883), Vai trò an ninh của Nhật Bản
thời kỳ sau Chiến tranh lạnh của Lê Linh Lan (1995 ), Sự điều chỉnh của

Bản đối với khu vực Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh trên các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, an ninh, văn hoá. Từ đó nêu lên bản chất, mục tiêu và tác động
của việc điều chỉnh những chính sách của Nhật đối với Việt Nam, nhằm phát
huy những thuận lợi trong quá trình hợp tác, phục vụ cho quá trình đổi mới,
đồng thời thực hiện đúng phơng châm hợp tác hai bên cùng có lợi, cảnh
giác với những hoạt động xấu, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
3.3. Phạm vi nghiên cứu

7


Thông qua những nguồn tài liệu thu thập đợc, chúng tôi đã tổng hợp và
mạnh dạn đa ra những phân tích một số điều chỉnh trong chính sách đối ngoại
của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh đến năm
2001. Chủ yếu đề cập sự điều chỉnh của Nhật xung quanh lĩnh vực kinh tế,
chính trị an ninh và văn hoá chung cho toàn khu vực chứ cha đi sâu vào khía
cạnh của từng quốc gia, chỉ phần nào cố gắng nói đến tác động của những
chính sách đó đến mối quan hệ hai nớc Việt Nam Nhật Bản.
4. Nguồn tài liệu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã tham khảo các Tạp chí Nghiên
cứu Nhật Bản, Tạp chí Ngiên cứu Quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp
chí của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Tạp chí Kinh tế thế
giới, Tạp chí của Học viện Quan hệ quốc tế.
Bên cạnh đó, còn sử dụng sách của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Học viện chính trị quốc
gia, Nhà xuất bản Thông tấn xã
5. Phơng pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài khoa học chuyên ngành lịch sử, từ đặc điểm riêng của
đề tài là sử dụng phơng pháp nghiên cứu tổng hợp, kết hợp phơng pháp lịch sử
và lô gích để nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối



Chơng 1
Những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách
đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á sau chiến
tranh lạnh
1.1. Nhân tố quốc tế
Bớc vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, loài ngời đang chứng
kiến những thay đổi lớn lao đang diễn ra trong nền chính trị và kinh tế thế
giới. Cái bắt tay lịch sử giữa hai nhà lãnh đạo Xô - Mỹ trên đảo Malta và sự
sụp đổ của bức tờng Beclin năm 1989 đã đánh dấu cuộc kết thúc của cuộc
chiến tranh lạnh kéo dài suốt gần nửa thế kỷ. Nh vậy, sự thay đổi lớn vào cuối
thế kỷ XX là sự sụp đổ của trật tự hai cực và sự chấm dứt chiến tranh lạnh,
chấm dứt sự đối đầu của hai hệ thống chủ nghĩa t bản - chủ nghĩa xã hội về
quân sự, chính trị, t tởng và ngoại giao. Sự sụp đổ nhanh chóng, bất ngờ của
Liên Xô và các nớc Đông âu đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mà cộng đồng
quốc tế phải quan tâm. Có thể nói, những sai lầm trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bệnh duy ý chí là một trong những nguyên nhân sâu xa và trực tiếp đẩy
Liên Xô, các nớc xã hội chủ nghĩa rơi vào một cuộc khủng hoảng toàn diện
mà lối thoát duy nhất là tiến hành phát triển kinh tế thị trờng. Song điều đáng
buồn là khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng, họ đã thiếu đi những điều kiện
cần thiết mà ở đó sự nhận thức của giới lãnh đạo đất nớc cha nhận thức kịp
thời, ít nhất những điều kiện này gồm tự do hoá sản xuất và lu thông, sự ổn
định chính trị, những điều tiết vĩ mô nền kinh tế và sự trợ giúp quốc tếChính
thiếu những điều kiện đó nên cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị đã diễn ra
sâu nặng kéo dài và mới chấm dứt trong thời gian gần đây.

10




dân chủ hoá ở các nớc ngày một tăng lên, không chấp nhận các nớc lớn áp đặt
ý chí đối với họ.
Song song với những thay đổi lớn trong bức tranh chính trị thế giới là
xu hớng mới xuất hiện trong nền kinh tế thế giới. Chiến tranh lạnh kết thúc đã
phá vỡ bức tờng ngăn cách chia kinh tế thế giới thành hai nền kinh tế song
song và đối lập nhau. Kinh tế thế giới giờ đây đã trở thành một thị trờng thống
nhất cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã giải phóng
sức sản xuất của toàn thế giới, thúc đẩy xu hớng liên kết kinh tế, toàn cầu hoá
và khu vực hoá. Hợp tác và giao lu kinh tế đợc đẩy mạnh, làm cho sự phụ
thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ ngày càng trở nên chặt chẽ
hơn. Vấn đề kinh tế trở thành mối u tiên hàng đầu của mọi quốc gia và là nhân
tố quyết định sự hng vong của mỗi dân tộc.
Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, nền
kinh tế thế giới đã trở thành một thị trờng duy nhất. ở đó hình thành một nền
kinh tế đa cực với ba trung tâm cạnh tranh là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Đồng
thời, trên thế giới cũng đã hình thành các khối kinh tế mang tính chất khu vực,
thậm chí tiểu khu vực. Điểm nổi bật trong thơng mại quốc tế những năm sau
Chiến tranh lạnh là sự chuyển dịch của bảo hộ mậu dịch sang tự do hoá thơng
mại. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này là kết quả của sự đấu tranh lâu dài giữa
các nhà buôn quốc gia trên thơng trờng quốc tế thông qua vòng thơng lợng
Uragoay. Sau 7 năm thơng lợng và tranh cãi (1986-1993), cuối cùng 116 nớc
thành viên GATT ký thoả ớc tiến tới tự do hoá thơng mại toàn cầu. Một điểm
nữa trong thơng mại quốc tế là sự cố kết của các khối liên kết theo khu vực.
Đây là một xu thế tất yếu vì các quốc gia muốn khai thác tới mức cao nhất
tiềm năng hợp tác của các nớc láng giềng. Đáng chú ý là sự xuất hiện của
APEC - tổ chức hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dơng. Các cuộc gặp thợng
đỉnh thờng niên của APEC phản ánh nhu cầu mở rộng nền thơng mại khu vực
sau chiến tranh lạnh ở một trình độ cao hơn trớc rất nhiều, dờng nh đánh dấu


hơn, yên tâm hơn vì nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân đã bị đẩy lùi, dờng

13


nh các quốc gia đều hớng tới sự liên kết chặt chẽ hơn trong các diễn đàn an
ninh. Đây là cơ hội cho đối thoại và hợp tác, các nớc lớn nh Trung Quốc, Mỹ,
Nhật Bản ngày càng muốn có một vị thế lớn hơn trên diễn đàn quốc tế. Bên
cạnh đó, những bất ổn trong lĩnh vực an ninh khu vực vẫn còn tồn tại, nhiều
lúc vẫn còn nổi cộm trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia. Các dân tộc
lần lợt nâng cao ý thức độc lập tự chủ, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can
thiệp của nớc ngoài, bảo vệ văn hoá dân tộc. Các lực lợng xã hội chủ nghĩa
cách mạng và tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, các nớc có chế độ chính trị xã hội khác nhau
vừa hợp tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hoà bình.
Có thể nói Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo ra một diện mạo mới cho
các quan hệ quốc tế, ở đó tồn tại nhiều xu hớng mang tính đa dạng, phụ thuộc
lẫn nhau, bổ sung cho nhau, thậm chí đối lập nhau. Đặc biệt là các xu hớng đó
thể hiện rõ trong các quan hệ song phơng và đa phơng, trong các quan hệ kinh
tế, chính trị và an ninh quốc tế. Chính sự chuyển dịch của thế giới hai cực
đối lập sang thế giới đa cực mang tính chất cạnh tranh và hợp tác đã tạo nên
một môi trờng quốc tế mới ẩn chứa nhiều cơ hội và không ít những thách thức.
Nh vậy, Liên Xô tan rã, Chiến tranh lạnh kết thúc làm thay đổi so sánh lực lợng trên thế giới, trong thời kỳ hình thành trật trự thế giới mới hậu chiến tranh
lạnh, mọi quốc gia đều phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình cho
phù hợp với điều kiện mới. Chính những đặc điểm chung nổi bật của tình hình
thế giới trên đây, buộc các nớc lớn phải điều chỉnh chiến lợc phát triển và
chiến lợc đối ngoại của mình, đặc biệt sẽ có tác động sâu sắc đến chính sách
ngoại giao của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, trong đó có sự điều
chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam á.
1.2. Tình hình khu vc Đông Nam á

Campuchia. Một Đông Nam á đoàn kết hơn, độc lập và tự chủ hơn đang đợc
hình thành, không còn chia cắt giữa hai khối thù địch ASEAN và Đông Dơng
nh trớc. Trên phơng diện an ninh, ASEAN đã xây dựng đợc cho mình những

15


cơ chế đối thoại song phơng cũng nh một diễn đàn an ninh đa phơng với tất cả
các cờng quốc trên thế giới. Rõ ràng, vai trò và vị thế quốc tế của các nớc
Đông Nam á đợc nâng cao trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh. Hơn ba thập kỷ
vừa qua đã chứng minh ASEAN luôn đạt mức tăng trởng kinh tế thuộc vào
loại cao trên thế giới. Giá trị tổng sản phẩm quốc dân cũng nh kim nghạch
buôn bán so với các khu vực khác trên thế giới đang tăng nhanh. Tuy nhiên,
những thành tích này không chỉ dừng lại ở lĩnh vực kinh tế. Chỉ cha đầy nửa
thập kỷ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và hiệp định Pari về vấn đề
Campuchia đợc ký kết, ASEAN đã thành công trong việc nâng cao vị trí và vai
trò của mình ở khu vực, ASEAN cũng đẩy mạnh quan hệ với Nhật thông qua
cơ chế song phơng và đa phơng. Có thể thấy trong quan hệ với các nớc lớn,
ASEAN ngày một tự chủ hơn.
Trớc những bài học kinh nghiệm do lịch sử để lại, các nớc ASEAN
cũng lo ngại trớc bất kỳ sự lớn mạnh nào của Trung Quốc và Nhật Bản. Mặt
khác, mối quan hệ giữa các nớc Đông Nam á cũng có ảnh hởng trực tiếp đến
tình hình các nớc Đông Nam á. Tuy nhiên, thái độ của ASEAN với Nhật Bản
cũng có những cải thiện đáng kể, bên cạnh thái độ tôn trọng, các nớc Đông
Nam á cũng hoan nghênh việc Nhật Bản đóng vai trò mở rộng các vấn đề
chính trị anh ninh trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, coi Nhật Bản là nhân tố
chủ chốt góp phần quan trọng trong thế cân bằng quyền lực ở khu vực.
Với tình hình quốc tế và khu vực nh trên, Nhật Bản đã nhanh chóng
nhận thấy và có những chính sách phù hợp đúng đắn của mình ở khu vực châu
á - Thái Bình Dơng nói chung và Đông Nam á nói riêng, nhanh chóng lấp

lớn cho nền kinh tế Nhật, bởi nền kinh tế ngoại thơng rất nhạy cảm với mọi
biến động trên thị trờng quốc tế, đặc biệt là thị trờng tài chính. Trong 3 năm
1993 - 1995 giá đồng yên liên tục tăng, năm 1994: 94,38 yên/USD, năm 1995
đồng yên Nhật Bản đạt mức tăng cha từng thấy 95 yên/ USD [36;96]. Do đồng
yên tăng giá liên tục làm cho hàng xuất khẩu của Nhật bản tính theo đôla trở
nên quá đắt và làm giảm sự cạnh tranh trên thị trờng thế giới, đồng thời gây
cản trở cho các ngành công nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản, đồng Yên tăng

17


giá làm tổn hại đến lòng tin của các nhà đầu t vào kinh doanh. Tình trạng phá
sản, đổ vỡ kinh doanh diễn ra nhiều nhất là các công ty vừa và nhỏ, đặc biệt là
các công ty có tỷ lệ xuất khẩu cao. Theo báo cáo ngày 14/4/1995 của cơ quan
điều tra ở Nhật Bản về vấn đề tài chính của các doanh nghiệp cho thấy, sự phá
sản của các doanh nghiệp này với các món nợ của họ đến kỳ phải thanh toán
từ 10 triệu Yên trở lên mà họ không có đủ khả năng thanh toán đã diễn ra
trong suốt năm tài chính 1994. Theo báo cáo này tổng số các doanh nghiệp bị
phá sản là 14.201vụ, tổng giá trị 6.171,5 tỷ Yên. Mặt khác, Nhật Bản là một
trong những nớc cho vay lớn nhất thế giới, việc đồng Yên tăng giá liên tục
làm cho các khoản nợ phải trả cũng tăng lên tơng ứng. Chính những khó khăn
trên đã khiến cho Nhật phải thận trọng hơn trong khi giải quyết những quan hệ
thanh toán với các nớc nợ Nhật. Hơn nữa, các công ty nợ Nhật phải nhanh
chóng giảm chi phí sản xuất xuống mức thấp nhất hoặc chuyển sản xuất ra nớc ngoài, tăng nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp nớc ngoài, nhất là các sản
phẩm từ các cơ sở chế tạo của Nhật Bản ở nớc ngoài, điều này đòi hỏi Nhật
Bản phải có những điều chỉnh chính sách thơng mại, đầu t quốc tế của mình
để thích ứng với tình hình kinh tế trong nớc.
Bên cạnh đó, tỉ lệ thất nghiệp ngày một cao, năm 1995 khoảng 3,1%,
tháng 10/1997 lên 3,5%, tháng 3/1998 tỉ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản lên đến
mức kỷ lục 3,9%, so với các quốc gia công nghiệp khác thì đây là một tỉ lệ

(OECP), ảnh hởng của khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam á khiến cho GDP ở
châu á và Mỹ giảm 0,1 - 0,2% trong năm 1997 và của Nhật Bản 0,4%. Còn
theo tính toán của viện nghiên cứu Nikko ( Nhật Bản) thì cuộc khủng hoảng
này sẽ làm cho GDP của Nhật Bản giảm 0,7%.
Chính do nhu cầu đầu t và tiêu dùng cá nhân ở Nhật Bản tăng chậm
trong bối cảnh quốc tế đầu thập niên 90, nền kinh tế của các nớc phát triển
bắt đầu phải cơ cấu lại, chuyển từ trạng thái cứng sang mềm, thời đại cơ
khí sang thời đại tin học viễn thông, nền kinh tế dựa vào trí tuệ con ngời là
chính chứ không phải vào thế mạnh tài nguyên và nguồn nhân công rẻ. Trong

19


bối cảnh các nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, sự phục hồi của nền kinh tế Nhật
Bản là điều không thể thiếu đợc trong việc khôi phục nền kinh tế châu á. Mặt
khác, sự phục hồi nền kinh tế châu á cũng hết sức quan trọng đối với sự hồi
sinh kinh tế Nhật Bản. Sự khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á còn đẩy
Nhật Bản đối diện với nhiều vấn đề nan giải nh xuất khẩu suy giảm, tăng nợ
khó thu hồi, tỉ giá hối đoái và giá cổ phiếu biến động mạnh khiến Nhật Bản
phải có những biến động linh hoạt trong chính sách đối ngoại của mình bên
cạnh những cải cách kinh tế trong nớc.
Về chính trị ngoại giao - an ninh quân sự, từ cuối thập niên 80 cùng với
việc thay đổi cơ cấu kinh tế, nền chính trị Nhật Bản cũng có những xáo động
lớn, mở đầu bằng việc đảng Dân chủ tự do (LPD) bị trở thành đối lập trong
giai đoạn 1993-1996. Tuy đã quay trở lại thành đảng cầm quyền nhng chắc
chắn sức mạnh của đảng Dân chủ tự do không còn đợc nh trớc. Thủ tớng
Hashimoto trong diễn văn nhận chức cũng đã nói rất nhiều đến cải cách hành
chính ở Nhật Bản. Điều quan trọng hơn trong thời gian qua, cách suy nghĩ của
giới cử tri Nhật Bản đối với vấn đề chính trị có những thay đổi đáng kể. Từ
cuối thập kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90, tỉ lệ của nhóm cử tri thụ động (bỏ phiếu

sự thất bại của đảng Dân chủ tự do. Trong những năm đầu sau chiến tranh,
Nhật Bản là một nớc kém quan trọng trên thế giới, phụ thuộc hoàn toàn vào
Mỹ về an ninh quân sự và không tham gia vào công việc quốc tế. Các nhà
lãnh đạo Nhật lúc đó chỉ tập trung chú ý vào công việc trong nớc, đặc biệt là
vào các khu vực bỏ phiếu của cá nhân mình. Đây cũng là một trong những lý
do giải thích vì sao đảng Dân chủ tự do đã không dành đợc thành công lớn về
kinh tế và giữ quyền thống trị của mình đợc lâu dài.
Qua phân tích trên ta thấy, nền chính trị Nhật Bản nh đang đứng trớc
ngã ba đờng, nên đi theo hớng nào để vừa ổn định đựơc tình hình chính trị
trong nớc, vừa phát huy đựơc vai trò quốc tế của mình. Về kinh tế, làm sao để
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, vừa không làm mất cân bằng cán cân
buôn bán với các nớc đặc biệt là với Mỹ. Về xã hội, giải quyết nh thế nào về
vấn đề xã hội, ngời già, thất nghiệpHàng loạt câu hỏi đặt ra cho đảng cầm

21


quyền hiện nay để làm sao có sự phù hợp về chính sách đối nội, đối ngoại và
chính sách an ninh. Do những điều kiện mới trong nớc và trên thế giới, Nhật
Bản đang phải tiến hành cải cách hành chính theo hớng dân chủ hoá, quốc tế
hoá và hiện đại hóa. Ngợc lại, tình hình chính trị trong nớc cũng là một trong
những yếu tố quan trọng tạo cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách đối ngoại
của Nhật Bản. Cần nhấn mạnh rằng, chính những thay đổi của tình hình quốc
tế sau chiến tranh lạnh đã tạo ra cả những cơ hội và thách thức buộc Nhật Bản
phải tính đến trong việc hoạch định chính sách đối ngoại. Bên cạnh tình hình
chính trị, kinh tế trong nớc cũng đặt ra nhiều vấn đề mà muốn giải quyết có
hiệu quả những vấn đề này không có cách nào khác hơn là Nhật Bản phải đặt
chúng trong mối quan hệ với các vấn đề quốc tế có liên quan.

22

giảm xuống. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản chỉ tập trung xây dựng

23


các mối quan hệ với phơng Tây, thì sau Chiến tranh lạnh ngời ta thấy ở Nhật
Bản xuất hiện xu hớng tìm cách mở rộng quan hệ quốc tế của họ ra toàn thế
giới, khai thông quan hệ với nhiều nớc thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trớc
đây. Đặc trng của quan hệ song phơng giữa Nhật Bản với các đối tác mới này
là hợp tác trên cơ sở tin cậy lẫn nhau hai bên cùng có lợi, Nhật Bản và đối tác
sẵn sàng chấp nhận những khác biệt về chính trị, vuợt lên tất cả những khác
biệt để mở rộng quan hệ song phơng, đặc biệt là quan hệ kinh tế và hợp tác
văn hoá, khoa học kỹ thuật. Đây là một biểu hiện rất mới của chính sách đối
ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh. Có thể nói, tiếp tục duy trì mối quan
hệ với phơng Tây, coi quan hệ Nhật Bản - Hoa Kỳ là hòn đá tảng trong chính
sách đối ngoại, trên cơ sở đó thúc đẩy và mở rộng quan hệ với các nớc Đông
Âu, các nớc Đông Dơng, các quốc gia ở châu Phi là một điểm nổi bật trong
quá trình điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh.
Đồng thời, chính sách đối ngoại của Nhật Bản cũng đợc điều chỉnh theo hớng
tích cực tăng cờng tham gia hoạt động trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, thể
hiện thông qua hoạt động giữ gìn hòa bình dới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc
tại Campuchia, Môdămbich, Zaia, BosniaTháng 6/1992, quốc hội Nhật Bản
đã thông qua một đạo luật cho phép lợng phòng vệ Nhật Bản tham gia vào cac
hoạt động của lực lợng giữ gìn hoà bình. Điều này tạo cơ sở pháp lý và chính
trị trong nớc cũng nh nớc ngoài để binh lính Nhật có thể phục vụ ở nớc ngoài
dới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc. Nhật Bản còn tham gia giải quyết các vấn
đề tranh chấp khu vực, cắt giảm vũ khí chiến lợc và chống khủng bố, phối hợp
quốc tế nhằm giúp các quốc gia đang phát triển giải quyết vấn đề lơng thực,
năng lợng, môi trờng, giảm nghèo khổ và đào tạo nguồn nhân lực. Mặt khác,
do hạn chế của hiến pháp Nhật, việc sử dụng khuôn khổ Liên Hợp Quốc cho

chí còn cả ấn độ Dơng và vịnh Ba T. Mặt khác, cho phép quân đội Nhật Bản

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status