Chính sách đối ngoại của Mĩ đối với châu Phi từ sau chiến tranh lạnh đến nay - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ VÂN CHI
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI CHÂU PHI
TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Hà Nội- 2013
2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1.1. Bối cảnh quốc tế mới sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc 15
1.2.Tầm quan trọng của châu Phi trên bản đồ thế giới 17
1.2.1. Vị trị địa lý 17
1.2.2. Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và thị trường rộng lớn 18
1.3. Những vấn đề còn tồn tại ở châu Phi 20
1.3.1. Nạn nghèo đói 21
1.3.2. Bạo lực, xung đột vũ trang và bất ổn về chính trị 22
1.3.3. Bệnh dịch 23
1.4. Quan điểm của Mỹ về châu Phi thời kỳ chiến tranh Lạnh 26
1.5. Tác động từ mối quan hệ của châu Phi với các nƣớc đến chính sách đối ngoại
của Mỹ 20
1.5.1. Quan hệ Trung Quốc- châu Phi 29
1.5.2. Quan hệ Nhật Bản- châu Phi 31
1.5.3. Quan hệ Ấn Độ- châu Phi 26
1.5.4. Quan hệ EU- châu Phi 37
CHƢƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI CHÂU PHI QUA
CÁC NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG Error! Bookmark not defined.
4

2.1. Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi dƣới thời Tổng thống Bill
Clinton (1993-2000) 32
2.1.1. Về kinh tế 43
2.1.2. Về chính trị, an ninh 36
2.2. Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi dƣới thời Tổng thống
G.Bush (2001-2008) 48
2.2.1. Mở rộng cơ hội và phát triển kinh tế 41
2.2.2. Hỗ trợ giải quyết bệnh dịch và phát triển giáo dục 54
2.2.3. Hỗ trợ giải quyết chiến tranh xung đột và xây dựng hòa bình 50
2.2.4. Đảm bảo an ninh và ngăn ngừa hoạt động khủng bố 62
2.2.5. Cải cách chính trị và định hướng dân chủ hóa cho châu Phi 55

Cơ chế giám sát đồng đẳng châu Phi (African Peer Rivew
Mechanism)
ART
Phƣơng pháp điều trị chống kháng thuốc (Anti- Retroviral
Treatment)
AU
Liên minh châu Phi (Africa Union)
CIA
Cơ quan tình báo trung ƣơng (Central Intelligence Agency)
COMESA
Thị trƣờng chung Đông và Nam Phi (Common Market for
Eastern and Southern Africa)
EBA
Tất cả trừ vũ khí (Everything But Arms)
ECOWAS
Cộng đồng Kinh tế các nƣớc Tây Phi (Economic
Community of West Africa States)
EEBC

The Eritrea- Ethiopia Boundary Commission (Ủy ban biên
giới Eritrea- Ethiopia)
EU
Liên minh châu Âu (European Union)
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment)
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
6

GPOI

NBA
Hội bóng rổ nhà nghề Mỹ (National Basketball Association)
NEPAD
Chƣơng trình Đối tác mới vì sự phát triển châu Phi (New
Partnership for Africa’s Development)
NGO
Tổ chức phi chính phủ (Non-Government Organizations)
OAU
Tổ chức châu Phi thống nhất (Organization of Africa Unity)
ODA
Viện trợ phát triển chính thức (Official Development
Assisstant)
7 OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development)
OPIC
Hợp tác đầu tƣ tƣ nhân tại hải ngoại (Overseas Private
Investment Cooperation)
PEPFAR

Kế hoạch hỗ trợ khẩn cấp phòng chống AIDS của Tổng
thống (President’s Emergency Plan For AIDS Relief)
TCB
Xây dựng năng lực thƣơng mại (Trade Capacity Building)
TFG
Chính phủ Liên bang lâm thời (Transitional Federal
Government)


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bản đồ 1.2.2: Bản đồ khoáng sản châu Phi…………………………………… …11
Bảng 1.3.3: Tình hình nhiễm HIV/AIDS theo khu vực, 2005……………… … 17
Bảng 2.2.1: Nội dung Hiệp ƣớc Thƣơng mại Mỹ tạo lợi ích cho châu Phi… ……43
9

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Sau khi kết thúc chiến tranh Lạnh thế giới chuyển tiếp sang một trật tự mới
không còn thế hai cực đối đầu mà thay vào đó là thế đơn cực với một siêu cƣờng
duy nhất là Mỹ. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay ảnh hƣởng của Mỹ đang bị cạnh
tranh mạnh mẽ bởi sự vƣơn lên của các cƣờng quốc khác cụ thể ở đây là Trung
Quốc, Ấn Độ… và xu hƣớng phát triển của trật tự thế giới trong tƣơng lai là tiến tới

Sự đổi hƣớng trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi đã cho
thấy sự quan tâm lớn hơn của Mỹ đối với lục địa Đen. Bên cạnh đó với chủ trƣơng
theo đuổi ―Chính sách toàn cầu‖ nhằm gây ảnh hƣởng đến tất cả các khu vực trên
thế giới thì việc Mỹ hƣớng sự chú ý của mình đến châu Phi là một điều tất yếu. Mỹ
muốn thể hiện vai trò và ý định kiểm soát của mình khi nhận thấy trong thời điểm
hiện nay lục địa này đang rơi vào vòng chú ý và cạnh tranh địa- chính trị giữa các
cƣờng quốc trên thế giới.
Thiết nghĩ, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và chính
sách đối ngoại của Mỹ với châu Phi nói riêng là rất cần thiết và hữu ích cho sự nhận
thức và đánh giá về các mối quan hệ quốc tế đƣơng đại. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện
nay việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi vẫn chƣa nhận
đƣợc nhiều quan tâm do vậy các công trình nghiên cứu về vấn đề này còn khá hạn
chế. Vì những lý do nhƣ vậy mà em đã chọn đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ
đối với châu Phi từ sau chiến tranh Lạnh đến nay” cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc có liên
quan đến chính sách đối ngoại của Mỹ. Đây chính là những nguồn tài liệu phong
phú, đa dạng và hữu ích cho công việc nghiên cứu của em. Tuy nhiên, do phạm vi
luận văn chỉ đề cập chủ yếu đến chính sách đối ngoại của Mỹ từ sau chiến tranh
Lạnh đến nay với châu Phi, nên nguồn tài liệu đƣợc sử dụng ở đây chủ yếu đƣợc
chọn lọc từ các công trình có liên quan đến chủ đề này. Trong số các tài liệu tiếng
Việt có một số các công trình đáng chú ý nhƣ ―Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ
sau chiến tranh lạnh‖ của tác giả Randall B. Ripley và James M. Lindsay đƣợc dịch
11

ra tiếng Việt và đƣợc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002. Cuốn
sách tập trung vào trình bày tình hình quốc tế và nƣớc Mỹ sau khi Liên Xô và các
nƣớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, chiến tranh Lạnh kết thúc, đƣa ra những
phân tích về đối sách và thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ, đồng thời
khuyến nghị về các chính sách lớn của Mỹ trên một loạt các lĩnh vực nhƣ viện trợ

Tuy vẫn còn là những chính sách mang tính cơ hội, nhƣng cũng đã phần nào thể
hiện đƣợc sự quan tâm của Mỹ đối với tiềm năng phát triển của châu Phi.
―Vì sao ngoại trưởng Mỹ thăm châu Phi” của Võ Giang đăng trên Tạp chí
Cộng sản, số 15, năm 2009. Bài viết đề cập đến chuyến thăm 7 nƣớc châu Phi của
ngoại trƣởng Mỹ Hilary Clinton, qua đó chỉ ra ý đồ của Mỹ khi đƣa châu Phi trở
thành ƣu tiên trong chính sách đối ngoại, hay nói cách khác Mỹ đang thực hiện một
―chiến dịch ngoại giao toàn diện‖ nhằm bảo vệ và tăng cƣờng ba lợi ích quan trọng
của Mỹ trong hợp tác với châu Phi, đó là lợi ích từ AGOA ( Đạo luật Cơ hội và
Tăng trƣởng châu Phi); lợi ích từ việc khai thác dầu, nguồn tài nguyên thiên nhiên;
và lợi ích an ninh.
Bên cạnh những tài liệu tiếng Việt, em cũng tham khảo thêm một số tài liệu
tiếng Anh những công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung
và chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi nói riêng. Có thể kể đến những
nghiên cứu của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài về chính sách đối ngoại của Mỹ, cụ
thể là dƣới thời Bill Clinton nhƣ ―The Agenda: Inside the Clinton White House” của
Bob Woodward, Julie Rubenstein (Editor); Mass Market Paperback; Published
1995; ―Clinton’world: Remarking America Foreign Policy‖ của William G. Hyland.
Bên cạnh đó là các bài viết trên trang web của Bộ Ngoại giao Mỹ nhƣ ―Hillary
Clinton Outlines Obama’s Africa Policy” của Charles W.Corey năm 2009 trong đó
chỉ ra rằng các mục tiêu chính sách đối ngoại của chính quyền Obama ở châu Phi
bắt nguồn từ lợi ích an ninh, chính trị, kinh tế và nhân đạo. Hay nhƣ bài viết
―Clinton’s Remarks on U.S Africa Trade at 2010 AGOA Forum” của Bộ Ngoại
giao Mỹ năm 2010, đã chỉ ra thành công trong những hoạt động cụ thể của Mỹ ở
châu Phi đối với các vấn đề kinh tế xã hội.
3. Mục tiêu nghiên cứu
13

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu, làm rõ và phân tích chính sách đối
ngoại của Mỹ đối với châu Phi từ sau chiến tranh Lạnh đến nay. Để thực hiện đƣợc
mục tiêu đó, luận văn sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:

liệu khác nhau, luận văn sẽ hệ thống hoá, lý giải, phân tích, kế thừa có chọn lọc các
vấn đề và thành tựu nghiên cứu có trƣớc liên quan đến chủ đề. Đồng thời tiếp tục
phát triển, đƣa ra các nhận định cũng nhƣ diễn giải theo cách riêng của mình về các
vấn đề đặt ra trong mục tiêu nghiên cứu.
Bên cạnh đó, trong luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể
nhƣ phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, đánh giá và dự báo để làm sáng tỏ các
vấn đề cần đƣợc nghiên cứu trong phạm vi đề tài
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính
của Luận văn đƣợc triển khai thành 3 chƣơng nhƣ sau:
- Chƣơng 1: Những nhân tố cơ bản tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ
đối với châu Phi sau chiến tranh Lạnh. Đề cập đến những nhân tố cơ bản
tác động đến việc hình thành chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi
từ sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc
- Chƣơng 2: Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi qua các nhiệm kỳ
Tổng thống. Đề cập đến chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi, các
phƣơng thức triển khai cũng nhƣ các hoạt động cụ thể qua 3 nhiệm kỳ
Tổng thống trong giai đoạn 1993-2013
- Chƣơng 3: Đánh giá chính sách đối ngoại của Mỹ đối với châu Phi và triển
vọng. Đề cập đến những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối
với châu Phi qua 3 nhiệm kỳ Tổng thống, rút ra những thành tự đạt đƣợc
cũng nhƣ những hạn chế còn tồn tại để đánh giá triển vọng chính sách châu
Phi của Mỹ trong thời gian tới.
-
15

CHƢƠNG 1
NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI
NGOẠI CỦA MỸ ĐỐI VỚI CHÂU PHI SAU CHIẾN TRANH LẠNH
1.1. Bối cảnh quốc tế mới sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc

ảnh hƣởng tới cục diện thế giới. Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là cuộc chạy đua
vừa công khai vừa không công khai để giành lấy quyền lực trong tƣơng lai và diễn
ra trong xu thế hòa bình, vừa hợp tác vừa kiềm chế lẫn nhau.
Bên cạnh đó, bài học của thời kỳ chiến tranh Lạnh đã chứng tỏ phƣơng pháp
quan hệ quốc tế lấy đối đầu chính trị - quân sự là chủ yếu không còn phù hợp, phải
gánh chịu nhiều tổn thất dù là nƣớc thắng cuộc hay bại trận. Trong khi đó, phƣơng
thức lấy hợp tác và cạnh tranh về kinh tế - chính trị là chính lại thu đƣợc nhiều tiến
bộ. Trong khi Mỹ và Liên Xô mải mê chạy đua vũ trang thì các nƣớc khác nhƣ Nhật
Bản, Tây Âu và một số nƣớc khác lại ra sức tập trung phục hồi nền kinh tế bị tàn
phá nặng nề trong chiến tranh, rút ngắn khoảng cách về kinh tế- kỹ thuật với Mỹ và
trở thành đối thủ cạnh tranh với Mỹ. Từ đó có thể nhận thấy sự hƣng thịnh hay suy
vong của một quốc gia đƣợc quyết định bởi sức mạnh tổng hợp của quốc gia đó,
trong đó đặc biệt là thực lực kinh tế và khoa học - kỹ thuật. Vì vậy sau chiến tranh
Lạnh, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiến lƣợc phát triển và tập
trung mọi sức lực vào ƣu tiên phát triển kinh tế. Những cân nhắc về địa - kinh tế
trên mức độ nào đó đã vƣợt qua các tính toán về địa - chính trị khi mà kinh tế trở
thành trọng điểm trong quan hệ quốc tế, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia
thay thế cho chạy đua vũ trang đã trở thành hình thức chủ yếu trong cuộc đọ sức
giữa các cƣờng quốc. Sức mạnh của mỗi quốc gia là một nền sản xuất phồn vinh,
một nền tài chính lành mạnh và một nền công nghệ có trình độ cao- đó mới là cơ sở
để xây dựng sức mạnh thật sự của mỗi quốc gia. ―Sự phát triển hay suy thoái của
các yếu tố này tạo nên sự hƣng thịnh và suy vong không chỉ của các cƣờng quốc mà
cả các quốc gia khác trong một thế giới phức tạp đan xen và phụ thuộc nhau.‖[50].
Bên cạnh đó, tự do hóa và toàn cầu hóa là một vấn đề đƣợc cả thế giới quan tâm khi
sau chiến tranh Lạnh, hầu hết các nƣớc ở mức độ khác nhau đều có sự điều chỉnh về
17

chiến lƣợc kinh tế, trong đó mở cửa, hội nhập trở thành một xu thế không thể đảo
ngƣợc. Nếu nhƣ trƣớc đây, trao đổi thƣơng mại chỉ chú trọng mở rộng trong nội bộ
khối, khu vực thì ngày nay gần nhƣ toàn thế giới đã là một thị trƣờng thống nhất

qua Mũi Hảo Vọng ở phía Nam châu Phi. Sự giao lƣu buôn bán của châu Phi với
châu Âu và khu vực Trung Đông ngay từ xƣa đã nảy sinh nhiều vấn đề bởi các mặt
hàng nổi tiếng là vàng và nô lệ. Ngày nay, vị trí địa lý của châu Phi vẫn tiếp tục tạo
ra những vấn đề địa- chính trị phức tạp. Bên cạnh những mặt hàng là các loại tài
nguyên thiên nhiên và các nông sản từ châu Phi xuất đi và các mặt hàng là sản
phẩm chế tạo, hàng công nghiệp từ nơi khác nhập về thì châu Phi còn làm cho Mỹ
và phƣơng Tây lo lắng về việc gia tăng buôn bán các loại hàng cấm bao gồm cả vũ
khí cũng nhƣ nuôi dƣỡng cho các loại tội phạm quốc tế, trong đó có nạn rửa tiền và
chủ nghĩa khủng bố.[3]
Nhƣ vậy có thể nói, vị trí địa- chính trị và địa- chiến lƣợc của châu Phi đã
khiến châu lục này trở thành một địa bàn chiến lƣợc quan trọng trong chính sách đối
ngoại của Mỹ, là một bộ phận trong chiến lƣợc toàn cầu và là một ƣu tiên trong kế
hoạch chiến lƣợc an ninh quốc gia mới của nƣớc này.
1.2.2. Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và thị trường rộng lớn
Lợi thế trƣớc tiên và cũng là quan trọng nhất của châu Phi chính là sự ƣu đãi
của thiên nhiên đã giành cho châu lục này nhiều nguồn tài nguyên quý giá. Ngƣợc
lại với tình trạng kinh tế nghèo nàn thuộc loại nhất thế giới trong tƣơng quan so
sánh với các nền kinh tế khác, châu Phi lại giàu có về mặt tài nguyên thiên nhiên…
Nguồn tài nguyên của châu Phi vừa phong phú về chủng loại vừa giàu có về trữ
lƣợng. Hiện nay châu Phi chiếm 90% trữ lƣợng coban, 90% platin, 99% sản lƣợng
crom, 64% sản lƣợng mangan, 33% sản ƣợng uranium, 70% sản lƣợng tantalite,
68% sản lƣợng coban, 54% sản lƣợng vàng của thế giới (Bảng 1.2.2)
Về mặt dầu mỏ, châu Phi chỉ sở hữu khoảng 8% trữ lƣợng dầu mỏ thế giới,
tƣơng đƣơng với 101,8 tỷ thùng. Tuy trữ lƣợng dầu mỏ không cao, song châu Phi,
đặc biệt là vùng Đông Phi lại đƣợc đánh giá là ―vựa dầu và khí gas sản lƣợng cao
đang cần đƣợc khai phá‖ và là ―một trong những trữ lƣợng dầu lớn cuối cùng của
thế giới‖. Nhờ vào những phát hiện về các mỏ dầu mới ở Cộng hòa Chad,
19

Cameroon, Gabon cùng trữ lƣợng dầu khổng lồ đã đƣợc phát hiện ở Nigeria, cùng

dụng những biện pháp tích cực hơn để tạo ra một môi trƣờng kinh tế cởi mở hơn,
hấp dẫn hơn và ít quan liêu hơn. Theo đánh giá mới đây của tạp chí Economist,
―Châu Phi chính là một lục địa tiềm năng sau một thời gian dài thất vọng‖ [62].
Nhƣ vậy, có thể nói tài nguyên thiên nhiên phong phú, giàu trữ lƣợng và một
thị trƣờng lao động và tiêu thụ tiềm năng là một lợi thế rất mạnh của châu Phi trong
công cuộc hợp tác vì sự phát triển toàn cầu hiện nay. Các nguồn lợi này vừa là sức
hút vừa là điểm tựa của châu Phi, song chúng cũng có thể gây ra hiểm hoạ đối với
châu Phi. Vấn đề của châu Phi hiện nay chính là ở chỗ, phải làm thế nào để có thể
tạo ra đƣợc cơ chế quản lý, giám sát, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên đó
một cách hữu hiệu nhất, phục vụ tốt nhất cho công cuộc kiến thiết và phát triển châu
lục.
1.3. Những vấn đề còn tồn tại ở châu Phi
Hiện nay, trong tƣơng quan so sánh với các châu lục khác, châu Phi đang bị
tụt hậu rất trầm trọng về kinh tế và đây cũng là một nguyên nhân làm cho nạn đói
nghèo càng trở nên phổ biến. Thêm vào đó là các yếu tố gây bất ổn khác nhƣ dịch
bệnh và xung đột vũ trang cũng hoành hành dữ dội. 21

1.3.1. Nạn nghèo đói
Châu Phi đƣợc xem là khu vực nghèo nhất thế giới. Về tổng thu nhập quốc
dân tính theo đầu ngƣời, châu Phi (trừ Nam Phi và Bắc Phi) kém nhất so với các
châu lục khác. Thu nhập bình quân đầu ngƣời của các nƣớc châu Phi cận Sahara
(trừ Nam Phi) rất thấp, chỉ là 343 USD/ngƣời/năm[23]. Năm 2004, châu Phi có 689
triệu ngƣời nghèo (chiếm 78,7% trên tổng số 875 triệu dân toàn châu lục); trong đó
có 314 triệu ngƣời thuộc diện cực nghèo, tăng rất nhiều so với con số 164 triệu
ngƣời nghèo năm 1981. Toàn châu lục có gần nửa dân số sống ở mức 0,65
USD/ngƣời/ngày, thấp hơn chuẩn nghèo của thế giới là 1 USD/ngƣời/ngày[24].
Cho đến nay tình hình nghèo đói ở châu Phi vẫn không hề có dấu hiệu suy

xã hội chƣa phát triển nên nền dân chủ ở châu Phi còn non yếu, gây ra các xung đột
nội bộ mới. Hơn nữa, các nƣớc châu Phi đồng loạt tiến hành cơ chế dân chủ, thực
hiện dân chủ nghị viện, tự do bầu cử… nên việc tranh giành quyền lực, tranh giành
lợi ích giữa các bộ tộc trở nên gay gắt hơn. Xung đột vũ trang xảy ra ở nhiều nƣớc
và nhiều khu vực khác nhau của châu lục, lan từ nƣớc này sang nƣớc kia, cuộc
chiến tại một nƣớc nhiều khi có sự tham gia hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp của nhiều
nƣớc láng giềng xung quanh, có những cuộc chiến kéo dài hàng thập kỷ, tất cả
những điều này đã tạo ra tình trạng vô cùng bất ổn về an ninh và chính trị ở châu
Phi.
Sự bất ổn về chính trị và an ninh ở châu Phi xảy ra với nhiều nguyên nhân
khác nhau. Mặc dù hầu hết các nƣớc châu Phi đã và đang tiến hành chuyển đổi sang
chế độ chính trị dân chủ đa đảng nhƣng hiệu quả giữa các nƣớc không đều nhau.
Thêm vào đó các đảng cầm quyền và phe đối lập ở châu Phi chủ yếu chỉ tập trung
tranh giành quyền lực mà không chú trọng xây dựng nhà nƣớc, cải cách hiến pháp.
Vì thế, cơ chế chính trị chƣa thúc đẩy và có sự liên kết với phát triển kinh tế, tạo
nên sự mất cân bằng trong đời sống xã hội, đời sống nhân dân châu Phi giảm sút
dẫn đến tình trạng tụt hậu ngày càng lớn trong nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh
đó, châu Phi lại không tự mình tìm ra đƣờng lối phát triển kinh tế phù hợp với điều
kiện và tình hình của đất nƣớc mà phụ thuộc nặng nề vào áp lực cải cách cơ chế
23

chính trị theo các mô hình chính trị kiểu châu Âu. Quản lý nhà nƣớc yếu kém cũng
là một nguyên nhân của những bất ổn chính trị ở châu Phi. Điều này chủ yếu bắt
nguồn từ những hạn chế về nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực nghèo kỹ năng.
Sự yếu kém không chỉ thể hiện trong hiến pháp và pháp luật mà cả trong cơ cấu nội
bộ của các đảng phái chính trị. Các phe phái thƣờng có xu hƣớng mua chuộc trong
bầu cử hơn là đƣa ra các chƣơng trình hoạt động chính trị toàn diện, bởi lợi ích cá
nhân đƣợc họ đặt lên cao hơn so với lợi ích cộng đồng. Vì vậy, khi trình độ của đại
diện chính quyền và trình độ dân chúng còn nhiều hạn chế thì châu Phi rất cần một
hệ thống chính trị hiệu quả, đáp ứng đƣợc những nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội

động mạnh của đại dịch AIDS đã chứng kiến sự tăng nhanh về số lƣợng ngƣời chết
và tuổi thọ giảm trong cuối thập kỷ qua. Nhƣng do những nƣớc bị tác động nặng nề
ở khu vực châu Phi cận Sahara đồng thời cũng là nƣớc có mức sinh cao (số con
trung bình của một phụ nữ) và có qui mô dân số tƣơng đối nhỏ nên đại dịch không
làm giảm dân số của khu vực này. Ở một số nƣớc nhƣ Botswana, Lesotho, Nam Phi
tốc độ tăng trƣởng dân số đã giảm mạnh hoặc thậm chí không tăng do AIDS, nhƣng
tốc độ tăng trƣởng dân số nói chung trong khu vực vƣợt quá so với các khu vực
khác trên thế giới. Thậm chí, cho dù có tử vong do AIDS, dự báo dân số của khu
vực châu Phi cận Sahara vẫn tăng từ 767 triệu năm 2006 lên 1,7 tỷ năm 2050. Tuy
nhiên, AIDS đã tác động nặng nề đến mọi lĩnh vực xã hội. AIDS đứng thứ tƣ trong
những nguyên nhân tử vong trên thế giới và là nguyên nhân số một ở châu Phi cận
Sahara. Theo số liệu của Chƣơng trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS
(UNAIDS) công bố Báo cáo dịch HIV/AIDS toàn cầu năm 2011 thì khu vực cận
Sahara của châu Phi vẫn là nơi bị HIV/AIDS tấn công nặng nề nhất, hiện khu vực
này chiếm 69% tổng số ngƣời nhiễm HIV/AIDS còn sống của thế giới.
Ở châu Phi cận Sahara, tỷ lệ trẻ em dƣới 5 tuổi bị chết vì HIV/AIDS thƣờng
rất cao (xem bảng 1.3.3). Thiếu thuốc để kéo dài thời gian sống, 1/3 số trẻ sinh ra bị
nhiễm HIV (bị nhiễm từ mẹ) chết trƣớc khi tròn một tuổi, và khoảng 60% chết
trƣớc 5 tuổi. Sự gia tăng tử vong do AIDS cũng làm ngừng hoặc làm đảo lộn những
kết quả đạt đƣợc về tuổi thọ trung bình ở nhiều nƣớc châu Phi. Ví dụ, ở Lesotho,
năm 2005, ƣớc tính có 1/4 ngƣời lớn đang sống chung với HIV/AIDS, tuổi thọ
25

trung bình là 60 năm từ 1990-1995, nhƣng con số này đã giảm mạnh xuống 34 năm
vào giai đoạn 2005-2010, chủ yếu là do tử vong liên quan đến AIDS. Liên hợp quốc
dự báo tuổi thọ bình quân ở Lesotho có thể tăng đến 69 năm trong giai đoạn 2015-
2020 nếu không bị tử vong quá mức do AIDS.
Bảng 1.3.3: Tình hình nhiễm HIV/AIDS theo khu vực (2005)

Nguồn [65]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status