LUẬN VĂN: Vấn đề tôn giáo và chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay potx - Pdf 15

LUẬN VĂN: Vấn đề tôn giáo và chính sách
đối với tín ngưỡng, tôn giáo ở nước
ta hiện nay

I. Mô hình xã hội lý tưởng của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng thế kỷ
XVI - XVII
1. Tô mát Mores
* Về kinh tế, theo Morơ, xã hội của Không tưởng là một khối kinh tế thống nhất
trên cơ sở chế độ công hữu cả về tư liệu sản xuất (chủ yếu là ruộng đất) lẫn tư liệu tiêu
dùng, được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng. Thành phố là trung tâm tổ chức trực tiếp
sản xuất, ở đó, Nghị viện - cơ quan tối cao của nhà nước - tiến hành việc tổ chức sản
xuất, kiểm kê và phân phối mọi sản phẩm, phân bố và điều tiết lao động từ lĩnh vực này
sang lĩnh vực khác và làm công việc ngoại thương.
Tế bào kinh tế cơ bản trong xã hội Không tưởng là gia đình. Mỗi gia đình làm
một nghề thủ công nhất định. Gia đình - kinh tế ấy có thể có cả những người cùng và
khác huyết thống. Những người cùng huyết thống có thể tham gia sản xuất ở nhiều gia
đình - kinh tế khác nhau. Khi quy mô của một "gia đình - kinh tế" vượt quá nhu cầu thì
Nhà nước chuyển lao động từ hộ này sang hộ khác. Hệ thống kinh tế bao trùm trong xã
hội của Không tưởng là hệ thống thủ công nghiệp. Nghề thủ công là công việc chủ yếu
trong hầu hết cuộc đời của người lao động.
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng nhưng là nghề nặng nhọc, do đó,
lao động nông nghiệp là nghĩa vụ chung của mọi công dân. Mỗi công dân có nghĩa vụ
lao động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) trong 2 năm thay phiên nhau. Chỉ đối với
ai đặc biệt thích sống ở nông thôn thì mới được "chiếu cố" kéo dài thời gian. Vì thế,
trong xã hội của Không tưởng không có nông thôn theo đúng nghĩa của nó, mà chỉ có
những trang trại do những người sống ở thành thị luân phiên nhau đến làm việc theo
thời hạn, sau đó lại trở về với nghề thủ công chuyên môn của mình ở thành thị. Như
vậy, thành thị là nơi cư trú chủ yếu của công dân, nơi điều hành cả sản xuất nông
nghiệp. Có lẽ đây là tiền đề, xuất xứ của quan điểm từng bước xóa bỏ sự khác biệt giữa
thành thị và nông thôn, là nét đặc sắc của nội dung chủ nghĩa cộng sản trong Không
tưởng của Morơ.
* Về xã hội: con người được giải phóng, kết hợp hài hòa giữa lao động và nghỉ

1
.
2. Tô mát Đô Cămpanenla (1568-1639)
- Mô hình xã hội lý tưởng của ông là:
Trên lĩnh vực kinh tế: xã hội của "Thành phố mặt trời" lấy chế độ công hữu các
tư liệu sản xuất làm cơ sở. Đó là chế độ: "tất cả đều là của chung: chung ruộng đất, nhà

1
Mác - Ăngghen: tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tập 1, tr.582.
cửa chung vợ, chung chồng, chung con cái". Sự phân công lao động dựa trên cơ sở tài
năng, tuổi tác và giới tính. Đó là ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nét đặc sắc trong tư tưởng
của Cămpanela.
Nền kinh tế được tổ chức theo ba ngành chính: trồng trọt, chăn nuôi, nghề biển.
Trên cơ sở tổ chức sản xuất chung, lao động bình đẳng và phân phối hợp lý đối với mọi
người, mà mỗi người có cuộc sống hạnh phúc.
Cămpanenla đưa ra quan điểm phân phối bình quân mang tính nhu cầu, đượm
màu sắc không tưởng. "Phân phối không để ai giàu quá, không để ai nghèo quá" và
ông giải thích "Để cho người ta nghèo quá sẽ dẫn đến trộm cắp, để cho người ta giàu
quá sẽ dẫn người ta đến chỗ lười biếng. Họ không giàu vì họ chẳng có cái gì là của
riêng; họ không nghèo vì họ có mọi cái khi cần thiết".
Về chính trị, cơ cấu chính trị - xã hội trong thành phố mặt trời là một cơ cấu lý
tưởng để thực hiện sự bình đẳng xã hội và tổ chức hoạt động xã hội một cách hài hòa,
có hiệu quả nhất, trong sự thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau.
Đứng đầu nhà nước là "ông mặt trời" có quyền tối cao, dưới "ông mặt trời" có ba
lĩnh vực cơ bản "ông đại biểu cho sức mạnh, ông đại biểu cho trí tuệ và ông đại biểu cho
tình yêu", tương ứng với các lĩnh vực quân đội, giáo dục và gia đình. Dưới 3 trợ lý của
ông mặt trời, trong mỗi lĩnh vực lại có một số người phụ trách. Những người này do dân

"Mỗi người được đảm bảo về nhu cầu". Đó là châm ngôn của Mêliê. Ông viết:
"Nói chung, nếu mọi người đều có và đều được hưởng thụ một cách bình đẳng những
của cải và những phương tiện sống, nếu họ nhất trí lo toan đến những công việc lương
thiện và có ích nào đó và nếu họ san sẻ khéo cho nhau những của cải trên trái đất và
những thành quả lao động và kỹ nghệ của họ, thì họ sẽ khá dồi dào để sống một cách
hài lòng và sung sướng".
Xuất phát từ tư tưởng cho rằng tư hữu là cội nguồn của mọi bất hạnh, đau khổ,
của chiến tranh và của mọi tội ác khủng khiếp, Mêliê khẳng định rằng, với chế độ công
hữu về của cải, sẽ không còn hiện tượng trộm cắp, giết người, dối trá để bảo vệ của
riêng nữa.
Với tư tưởng xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về của cải, Mêliê
được coi là nhà cộng sản chủ nghĩa không tưởng đầu tiên của nước Pháp.
Tấn bi kịch trong con người Mêliê, với tính cách một nhà cộng sản không tưởng,
với tinh thần duy vật và vô thần mặc dù chưa thật triệt để, là ở chỗ coi tôn giáo như một
sự mê tín thô lỗ, một sự lừa mị, thế mà suốt đời ông đã phải truyền bá những điều dối
trá của nhân dân. Cho nên, với lời tự thú như xé lòng mình, ông đã khiến những người
đọc Những di chúc của tôi phải chia sẻ cùng ông những nỗi đau khổ về tinh thần của
một người đã lầm đường, lạc lối. Ông viết: Tôi đã đau khổ biết bao nhiêu khi tôi buộc
phải truyền bá đến bà con những điều dối trá, bỉ ổi mà trong thâm tâm tôi ghét cay ghét
đắng Sự hồn nhiên của bà con khiến tôi hối hận biết chừng nào.
2. Phăng xoa Môxenly
Mô hình xã hội lý tưởng được ông phác thảo lên là:
Trong xã hội tương lai tốt đẹp theo tâm lý hoài cổ về một "thời hoàng kim" xa
xưa mà chế độ công hữu là nét nổi bật nhất, ông vạch ra rằng mỗi người đều được đảm
nhiệm một công việc của xã hội tùy theo sức lực, khả năng của mình, và đều được xã
hội chăm sóc "tức là ông đã xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và phân phối
theo nhu cầu giống như Morơ và Campanenla. Nhưng khi ông viết ra thì ông cũng nhận

Mô hình xã hội lý tưởng được Xanh Ximông xây dựng lên là:
Xã hội mới mà Xanh Ximông mơ ước xây dựng đó là xã hội đáp ứng được
những nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi người. Theo ông "chế độ sở hữu phải được
tổ chức như thế nào để có lợi nhất cho xã hội về mặt tự do và về mặt của cải". Ông đã
nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của vấn đề sở hữu nhưng chưa đi tới tư tưởng xóa
bỏ chế độ tư hữu.
Trong xã hội mới, tất cả mọi người đều phải làm việc, đều trở thành những người
lao động và mọi công việc được phối hợp một cách có lợi trong khối "liên hiệp" thống
nhất. Xã hội ấy trong khi tìm cách đảm bảo phúc lợi cho toàn thể nhân dân, trước hết
phải cải thiện tình hình của "giai cấp nghèo nhất và đông đảo nhất". Trong những tác
phẩm cuối của ông, Xanh Ximông đi tới một công thức về xã hội mới là: các thiết chế
xã hội phải tăng phúc lợi của những người vô sản.
Trong xã hội mới, con người được sống trong trạng thái "hòa bình vĩnh cửu" và
các dân tộc liên kết lại để bảo vệ hạnh phúc chung. Các nhà khoa học, nhà nghệ thuật và
nhà công nghiệp phải đóng vai trò điều khiển và lãnh đạo. Chỉ có họ mới đảm bảo thỏa
mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần cho mọi người.
Xanh Xi mông chủ trương đi tới xã hội mới bằng con đường hòa bình. Ông
khẳng định, các biện pháp hòa bình mới là những biện pháp duy nhất có thể dùng nhằm
mục đích xây dựng, sáng tạo, lập nên những thiết chế vững chắc. Chủ nghĩa xã hội mà
Xanh Xi mông xây dựng vẫn còn dựa trên chế độ tư hữu.
Có thể nói rằng, mô hình xã hội tương lai của Xanh Ximông còn mang tính
không tưởng và mang sắc thái tôn giáo. Nhưng có thể nhận thấy ở Xanh Ximông là
người có công lớn với những tư tưởng bình đẳng xã hội và có nhiều dự kiến độc đáo,
đặc biệt là tấm lòng chân thành vì sự nghiệp và mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại
cần lao vì thế mà ông được lịch sử thừa nhận là một nhà xã hội chủ nghĩa không
tưởng có vị trí quan trọng vào đầu thế kỷ XIX.
2. Phăng Xoa Mari Săclơ Phuriê

đời, nó hoàn toàn không cần thiết nữa và là một tệ nạn không có gì thể biện bạch được.
Nếu có một chế độ xã hội được tổ chức hợp lý, có khoa học, có máy móc, thì chế độ tư
hữu hoàn toàn không cần thiết nữa. ở đây, từ người có địa vị cao nhất đến người ở vị trí
thấp nhất trong xã hội đều có thể tự bảo đảm được mọi nhu cầu cần thiết và hạnh phúc
của mình, thậm chí còn đầy đủ hơn nhiều so với mức có thể đạt được bằng cạnh tranh
để có tài sản tư hữu. Nếu chế độ công hữu được tổ chức đúng đắn, mọi người đều được
hưởng thụ một nền giáo dục tốt và có điều kiện sống như nhau thì sẽ không còn những
cuộc hôn nhân dựa trên sự tính toán bằng tiền; sẽ không còn những trẻ em hư, những
hành động thô bạo trong quan hệ giữa người với người; sẽ không còn mâu thuẫn đối
kháng về lợi ích giữa các dân tộc.
Ôoen coi việc thủ tiêu sự khác nhau về đẳng cấp và giai cấp do con người xa rời
những quy luật tự nhiên là điều kiện cần thiết của sự bình đẳng xã hội. Theo ông, sự
phân chia xã hội hợp lý và tự nhiên chỉ là sự phân chia theo trình độ nắm được kiến
thức và kinh nghiệm của các cá nhân theo lứa tuổi. Mỗi nhóm lứa tuổi được nhận công
việc hoàn toàn phù hợp với khả năng và sức lực của nó, không một ai được ngoại lệ,
không một ai được đặc quyền.
Khác với hiệp hội của Phuriê, công xã lao động của Ôoen là một tổ chức lao
động "mở", dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Ông nhấn mạnh sự cần thiết
của những quan hệ hợp tác mang tính liên hiệp giữa các thành viên trong từng công xã
và giữa các công xã trong quá trình sản xuất. Ông nhấn mạnh sự cần thiết của những
quan hệ hợp tác mang tính liên hiệp giữa các thành viên trong từng công xã và giữa các
công xã trong quá trình sản xuất. Liên hiệp các công xã sẽ là một tổ chức hoàn toàn mới
của xã hội loài người với tất cả tính ưu việt của nó. Sự liên kết thành những công xã lớn
sẽ tiết kiệm được thời gian lao động, vốn trong sản xuất và chi phí trong phân phối của
cải, trong việc quản lý địa phương. Sự tiết kiệm này sẽ phù hợp với sự tiết kiệm đạt
được nhờ thay thế lao động chân tay bằng máy móc hoàn hảo. Nếu tạo ra được những tổ
hợp gia đình rộng lớn như vậy, kết hợp với những biện pháp kinh tế quan trọng khác về

những sự khác biệt giai cấp"
2
.

2
C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.19,
tr.278.

Phần kết luận

Qua nghiên cứu mô hình xã hội lý tưởng qua tư tưởng của các nhà xã hội chủ
nghĩa không tưởng từ thế kỷ thứ XVI - XIX có thể rút ra kết luận như sau:
Một là, các nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng thế kỷ thứ XVI - XIX đã phác thảo
nên những mô hình về xã hội tương lai tốt đẹp. Đó là những hoài bão, những ước mơ,
khát vọng nhằm giải phóng nhân loại cần lao. Lúc đầu nó chỉ là những ý tưởng nhưng
dần dần cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người nó trở thành những học
thuyết, hệ thống những quan điểm khá toàn diện về một mô hình xã hội mới tốt đẹp
hơn. Mặc dù, những tư tưởng ấy còn nhiều hạn chế và mang tính chất không tưởng
nhưng đó là những cơ sở lý luận quan trọng để những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác
- Lênin kế thừa và phát triển, để các ông đặt những tư tưởng ấy trên cơ sở của khoa học
và hiện thực, làm cho chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học.
Hai là, mô hình xã hội lý tưởng trong tư tưởng của các nhà xã hội chủ nghĩa
không tưởng không chỉ có ý nghĩa với đương đại mà càng có ý nghĩa hơn đối với sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn mà
chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang tạm thời thoái trào và kẻ thù thì đang tấn công quyết
liệt vào thành trì của các nước chủ nghĩa xã hội còn lại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status