Một số vấn đề về phát triển SX trồng trọt theo hướng SX hàng hóa ở nước ta hiện nay - Pdf 17

LỜI MỞ ĐẦU
Trồng trọt là nền tảng của sản xuất nông nghiệp, cung cấp lương thực,
thực phẩm cho dân cư, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là cơ sở
để phát triển chăn nuôi và còn là nguồn xuất khẩu có giá trị. theo giá trị sử dụng,
cây trồng được phân thành các nhóm: cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn
quả, cây rau đậu…Ở Việt Nam, ngành trồng trọt có nhiều tiềm năng để phát triển
nhưng ngày nay khi đất nước đang trên đà hội nhập, là thành viên thứ 150 của tổ
chức thương mại quốc tế (WTO) nền kinh tế nói chung ngành trồng trọt nói
riêng phải đối mặt với không ít thách thức. Điều đó đòi hỏi Nhà nước và các cơ
sở sản xuất kinh doanh trồng trọt phải có đánh giá sâu sắc, toàn diện và cái nhìn
chính xác về hiện trạng của ngành trồng trọt. Từ đó ngành trồng trọt đề ra được
những giải pháp, chiến lược phát huy những lợi thế, khắc phục những hạn chế
thách thức, khó khăn, đưa toàn ngành chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hóa
nâng cao sức cạnh tranh hội nhập kinh tế.
Đề án của em có tên là: “ Một số vấn đề về phát triển SX trồng trọt
theo hướng SX hàng hóa ở nước ta hiện nay” được sự hướng dẫn của PGS.TS
Phạm Văn Khôi, là giảng viên của Khoa Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, đồng thời em có tham khảo, tiếp thu có chọn lọc những thông tin, kiến thức
từ các trang web, báo điện tử, các ấn phẩm thống kê v.v…
Nội dung đề án của em gồm 3 phần:
Phần 1 trình bày cơ sở lý luận chung về vấn đề phát triển ngành trồng trọt.
Phần 2 trình bày khái quát về tình hình sản xuất trồng trọt ở nước ta hiện
nay.
Phần 3 là một số phương hướng và giải phát phát triển ngành trồng
trọt nước ta hiện nay.
NỘI DUNG
Phần I
Cơ sở lý luận chung về vấn đề phát triển ngành
trồng trọt
I. Đặc điểm, ý nghĩa kinh tế, khả năng phát triển ngành
trồng trọt của nước ta hiện nay

- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao: Đó là đặc điểm lớn nhất
của sản xuất nông nghiệp. Quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản
xuất kinh tế gắn bó chặt chẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian sản xuất
xen kẽ với thời thời gian hoạt động song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau,
sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.Hơn nữa do sự biến thiên về khí hậu,
thời tiết , mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó dẫn đến
những thời vụ khác nhau.
- Sản xuất nông nghiệp thường có chu kì dài và phần lớn tiến hành ngoài
trời trên không gian ruộng đất rộng lớn, lao động và tư liệu lao động luôn luôn bị
di động và thay đổi theo thời gian, không gian.
Từ những đặc điểm trên của sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt nước
ta có những đặc điểm chính sau:
- Sản xuất kinh doanh trồng trọt vừa gắn liền với cây trồng, vừa gắn liền
với ruộng đất (hoặc với dung dịch): Trong sản xuất kinh doanh trồng trọt con
người tác động vào cây trồng để tạo ra sản phẩm trồng trọt , đồng thời tác động
vào ruộng đất để thông qua ruộng đất (hoặc dung dịch) tác động lên cây trồng.
Do đó trong sản xuất kinh doanh trồng trọt chúng ta phải có những biện pháp tác
động vào cây trồng hợp lý để có thể tạo ra được một số lượng sản phẩm trồng
trọt lớn, giá thành sản phẩm trồng trọt giảm, chất lượng sản phẩm trồng trọt cao
để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh sản xuất hàng hóa như
hiện nay. Đồng thời cũng phải có những biện pháp đầu tư cải tạo ruộg đất để
nâng cao độ phì nhiêu của đất, cũng như đầu tư mua sắm các công nghệ sạch
đảm bảo sự phát triển bền vững của các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
- Sản xuất kinh doanh trồng trọt mang tính thời vụ rất cao: Tính thời vụ là
đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, nhưng trong sản xuất trồng trọt tính thời vụ
cao nhất, thể hiện rõ nhất. Nó được quy định bởi quy luật sinh trưởng và phát
triển của cây trồng và các điều kiện tự nhiên, chủ yếu là các yếu tố về khí hậu và
thời tiết. Vì vậy trong sản xuất kinh doanh trồng trọt phải có những biện pháp
tích cực để giảm bớt tính thời vụ . Để giảm bớt tính
thời vụ các cơ sở sản xuất kinh doanh cần xây dựng cơ cấu cây trồng đa dạng

- Phát triển ngành trồng trọt sẽ đảm bảo nguồn thức ăn dồi dào và vững
chắc cho ngành chăn nuôi, thúc đẩy sự hình thành các vùng chuyên canh sản
xuất cây thức ăn và phát triển công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, trên
cơ sở đó chuyển dần chăn nuôi theo hướng sản xuất tập trung và thâm canh cao.
- Ngành trồng trọt phát triển có ý nghĩa to lớn và quyết định đến việc
chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Ngành trồng trọt phát triển làm cho
năng suất cây trồng tăng, đặc biệt là năng suất cây lương thực tăng, nhờ đó sẽ
chuyển nền sản xuất nông nhiệp từ độc canh lương thực sang nền nông nghiệp đa
canh có nhiều sản phẩm hàng hóa giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị truờng
và góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
3. Khả năng phát triển ngành trồng trọt ở nước ta

Nước ta là nước nông nghiệp có lợi thế đất đai màu mỡ vì vậy ngành
trồng trọt nước ta có nhiều tiềm năng lớn đẻ phát triển, điều đó được thể hiện ở
các mặt sau:
- Mặc dù quỹ ruộng đất để phát triển ngành trồng trọt không nhiều, bình
quân ruộng đất trên đầu người thấp và có xu hướng giảm do tác động của quá
trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Tuy nhiên ngành trồng trọt của nước ta vẫn
có khả năng mở rộng diện tích gieo trồng cả về mặt khai hoang và tăng vụ, nhất
là về tăng vụ nhưng phải gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự
chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt hợp lý.
- Điều kiện tự nhiên, ngành trồng trọt nước ta thuộc hệ sinh thái nhiệt đới
và á nhiệt đới ẩm, ánh sáng dư thừa rất thuận lợi cho cây trồng phát triển và
trồng cấy nhiều vụ khác nhau trên các vùng trong cả nước, cho phép đem lại
năng suất sinh khối cao trên mỗi đơn vị diện tích. Song chính điều kiện tự nhiên
nhiệt đới và á nhiệt đới ẩm ở nước ta, cùng với vị trí địa lý sát biển và địa hình
phức tạp đã gây cho ngành trồng trọt nước ta không ít kho khăn như: bão, lũ lụt,
hạn hán, sâu bệnh phá hoại … Vì vậy đòi hỏi ngành trồng trọt nước ta phải luôn
chủ động khai thác có hiệu quả những thuận lợi và hạn chế, né tránh những khó
khăn đến mức tối đa để phát triển vững chắc ngành trồng trọt với nhịp độ tăng

nhất định của nền kinh tế với điều kiện kỹ thuật, kinh tế, xã hội và tự nhiên của
mỗi nước mà xây dựng cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt hợp lý, phù hợp và hiệu
quả.
Ở các nước phát triển, trình độ phát triển kinh tế cao, cơ sở vật chất
kỹ thuật trong nông nghiệp là rất to lớn và hiện đại, nhu cầu thị trường đòi hỏi
nhiều loại nông sản đa dạng với chất lượng cao. Vì vậy ngành trồng trọt ở nước
này đã phát triển mạnh mẽ và đạt đến trình độ phát triển cao với cơ cấu sản xuất
hợp lý, gồm nhiều loại sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và phù hợp
với tiềm năng của mỗi nước. Những sản phẩm trồng trọt ở đây bao gồm: sản
phẩm cây lương thực, cây công nghiệp, cây dược liệu, cây ăn quả, rau đậu, cây
thức ăn gia súc, cây hoa…Còn ở những nước đang phát triển, cơ cấu sản xuất
ngành trồng trọt còn đơn giản. Trước đây một số nước sản xuất độc canh lương
thực để tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, hoặc một số nước độc canh cây công
nghiệp, cây ăn quả v.v…theo yêu cầu cung cấp nguyên liệu cho các nước khác.
Hiên nay ngành trồng tọt ở các nước đang phát triển có xu hướng phá dần thế
độc canh, chuyển dần sang phát triển ngành trồng trọt đa canh, có nhiều sản
phẩm hàng hóa đáp ứng thị trường và khai thác hợp lý lợi thế của mỗi nước.
Biểu đồ 1: Cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt nước ta.
Đơn vị %
Cây
Năm
Tổng số Cây lương
thực
Cây rau
đậu
Cây công
nghiệp
Cây ăn
quả
1990 100 66,63 6,82 14,52 9,10

ngành trồng trọt đa canh trên cơ sở chuyên môn hóa và thâm canh cao. Nâng cao
nhanh năng suất cây lương thực để từng bước giảm dần diện tích cây lương thực
một cách hợp lý. Đồng thời mở rộng tăng nhanh sản lượng và diện tích các loại
cây công nghiệp, cây rau đậu, cây ăn quả, cây dược liệu v.v…Đó là những cây
cho sản phẩm có giá trị kinh tế cao và nhu cầu thị trường ngày càng nhiều.
2. Căn cứ xác định cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt hợp lý
Để xác định cơ cấu trồng trọt hợp lý cần dựa vao các căn cứ sau:
- Trước hết phải dựa vào mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước và chiến lược phát triển nông nghiệp để xây dựng cơ cấu ngành
trồng trọt. Cơ cấu ngành trồn trọt phải hướng vào phát triển mạnh sản xuất hàng
hóa để đáp ứng nhu cầu thị trường và đặc biệt chú trọng vào việc phát triển thị
trường xuất khẩu.
- Tiến hành phân tích sự biến động tổng hợp của các nhân tố ảnh hưởng
đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt như:
+ Nhân tố về nhu cầu thị trường, về các loại sản phẩm của ngành trồng
trọt: nhu cầu thị trường vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu ngành trồng trọt. Phải tính toán và đánh giá đầy đủ nhu cầu
thị trường để lựa chọn những cây trồng và cơ cấu cây trồng có hiệu quả.
+ Nhân tố về điều kiện tự nhiên: đất đai, vị trí địa lý, khí hậu, nguồn nước,
tiềm năng sinh vật… tất cả cần phải được xem xét đánh giá đúng để làm cơ sở
cho việc xây dựng cơ cấu và bố trí cây trồng phù hợp trên mỗi vùng và cả nước.
+ Nhân tố về tiến bộ khoa học công nghệ và khả năng ứng dụng nó vào
sản xuất của mỗi nước có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng cơ cấu ngành
trồng trọt hợp lý.
+ Nhân tố về cơ chế chính sách của Nhà nước: nhân tố này có tác động to
lớn và trực tiếp ảnh hưởng đến việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu sản xuất
ngành trồng trọt.
- Ngoài những căn cứ trên, việc lựa chọn, xác định cơ cấu ngành trồng
trọt cần phải xem xét và giải quyết tốt các mối quan hệ giữa sản xuất lương thực
và thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; mối quan hệ giữa cây

+ Lợi nhuận ngành trồng trọt tính trên một đơn vị diện tích trồng trọt, một
người lao động, một đồng chi phí.
Khi đánh giá hiệu quả sản xuất trồng trọt, để việc đánh giá có cơ sở khoa
học cần lưu ý những vấn đề sau:
- Khi đánh giá nên sử dụng số liệu về kết quả sản xuất trồng trọt nhiều
năm của cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Khi phân tích các chỉ tiêu phải gắn với việc xem xét các điều kiện ruộng
đất ( xấu, tốt…), điều kiện khí hậu thời tiết, ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ
sản phẩm và thị truờng vật tư sản xuất cũng như ảnh hưởng của các chính sách
kinh tế… tới kết quả sản xuất kinh doanh.
IV. Xây dựng các vùng chuyên môn hóa những cây trồng
chủ yếu.
Để phù hợp với xu thế phát triển chung của cả nước, phát triển trồng trọt
theo hướng đa canh là hợp lý và đúng đắn. Nhưng đa canh phải dựa trên cơ sở
sản xuất lớn gắn liền với việc xây dựng vùng chuyên môn hóa sản xuất. Vùng
chuyên môn hóa phải là những vùng có khối lượng sản phẩm và sản phẩm hàng
háo lớn, tỷ suất hàng hóa cao, có khả năng ứng dụng nhanh các thành tựu khoa
học, công nghệ mới vào sản xuất và chế biến sản phẩm. Đồng thời việc sản xuất
của vùng phải luôn gắn với thị trường. Nhất là phải kể đến thị trường tiêu thụ sản
phẩm đầu ra. Điều kiện thị trường ở đây được xem xét cả trong quá khứ, hiện tại
và tương lai. Trong việc phát triển các loại cây dài ngày, bên cạnh việc phân tích
hiện trạng thị trường thì việc dự báo thị trường tương lai là vô cùng quan trọng.
ngoài ra lhi xây dựng vùng chuyên môn hóa các cây trồng cần phải có sự phân
tích, đnáh giá điều kiện xã hội của từng vùng như : tình hình dan số, lao động,
phong tục tập quán…
Những cây chuyên môn hóa của vùng phải là những cây có giá trị kinh tế
cao, cây xuất khẩu phải là cây phù hợp nhất với điều kiện tự nhiên, kinh tế của
vùng, cho phép lợi dụng năng suất tự nhiên và thu về địa tô chênh lệch cao và có
điều kiện phát triển với quy mô lớn.
Các vùng chuyên môn hóa cần kết hợp phát triển tổng hợp, ngoài cây

nhằm cung cấp nhu cầu tiêu dùng trong nước, làm nguyên liệu cho công nghiệp
và xuất khẩu như: cây cao su là cây công nghiệp, trông cây cao su khai thác mủ
cao su để cung cấp nguyên liệu cho ngành sản xuất săm lốp, sản xuất đệm
mút…., còn các loại cây ăn quả và cây rau đậu phục vụ nhu cầu dinh dưỡng
thường xuyên cho con người…Bên cạnh việc phát triển nâng cao khối lượng và
chất lượng nông sản, nguyên liệu càn coi trọng xây dựng và hiện đại hóa công
nghiệp chế biến nông sản, áp dụng tiến bộ công nghệ mới để nâng cao chất
lượng sản phẩm nhờ đó mở rộng được thị trường và nâng cao thu nhập cho
người lao động.
Phần II
Tình hình sản xuất trồng trọt ở nước ta hiện nay.
I. Bố trí sản xuất ngành trồng trọt theo các loại cây gắn
với các vùng.
1. Bố trí sản xuất cây lương thực.
Việc bố trí đúng đắn sản xuất lương thực theo vùng trong cả nước và việc
biến đổi cơ cấu sản xuất lương thực phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của
từng vùng, từng địa phương là điều kiện quan trọng để tăng cường và nâng cao
hiệu quả kinh tế của ngành sản xuất lương thực và cũng là để góp phần đảm bảo
an ninh lương thực của cả nước.
Sản xuất lương thực ở nước ta được bố trí rộng khắp ở các vùng trong
nước. Tuy nhiên do điều kiện tự nhiên, kinh tế và quá trình lịch sử đã hình thành
những vùng sản xuất lương thực lớn như đồng bằng sông Cửu Long , đồng bằng
sông Hồng.
Đây là hai vùng châu thổ lớn nhất cả nước, có tổng diện tích chiếm tới
58% diện tích cây lương thực cả nước năm 1998. Tronh đó vùng đồng bằng sông
Hồng chiếm 13,7%; vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 44,4%. Đến năm
2004 tổng diện tích cây lương thực của hai vùng chiếm 60,2% diện tích cây
lương thực cả nước, trong đó đồng bằng sông Hồng chiếm 14,7%, đồng bằng
sông Cửu Long chiếm 45,5%. Đây là hai vùng lương thực cung cấp nhiều lương
thực hàng hóa cho nền kinh tế quốc dân. Ngoài ra các vùng khác có diện tích

Sản xuất ngô được bố trí rộng trên khắp cả nước song diện tích được bố trí
tập trung nhiều ở hai vùng Đông Bắc và Đông Nam Bộ. Bình quân diện tích
hàng năm thời kì 1995- 1998, vùng Đông Bắc đạt 183,9 ngàn ha chiếm 29,6%
diện tích cả nước, vùng Đông Nam Bộ đạt 120 ngàn ha chiếm 19,3% diện tích cả
nước. Các địa phương có diện tích ngô nhiều nhất từ 30 ngàn ha trở lên là: Hà
Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Daklak và Đồng
Nai.
c. Bố trí sản xuất đậu đỗ các loại (không kể đậu tương )
Đậu đỗ là cây lương thực có hạt và chứa nhiều chất dinh dưỡng cao, nhất
là giàu chất đạm là thức ăn quý cho con người và là nguyên liệu để chế biến ra
các loại thực phẩm khác có giá trị. Chúng đều là cây ngắn ngày nên có thể bố trí
trồng chính hay trồng xen với các loại cây khác. Gần đây hàng năm diện tích đậu
đỗ ở nước ta khoảng 20 vạn ha với sản lượng khoảng trên 10 vạn tấn. Đậu đỗ
được trồng rộng rãi ở hầu hết các tỉnh, song trồng tập trung nhiều vẫn là các tỉnh:
Đồng Nai, An Giang, Daklak, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tây Ninh…
Việc bố trí hợp lý cây lương thực quý có năng suất cao phù hợp với điều
kiện tự nhiên, kinh tế ở từng vùng cho phép cải thiện cơ cấu cây lương thực và
tăng nhanh sản lượng lương thực. Việc xác định cơ cấu sản xuất cây lương thực
hợp lý, đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển một cách toàn diện, mạnh mẽ và
vững chắc đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn lợi tự nhiên, kinh tế của đất
nước. Cơ cấu sản xuất lương thực nước ta những năm gần đây còn có nhiều bất
hợp lý, sự chuyển biến tiến bộ còn chậm. Lúa còn chiếm tỷ trọng quá lớn cả về
diện tích và sản lượng, màu còn chiếm tỷ lệ ít và có xu hướng giảm trong những
năm gần đây. Điều đó đặt ra sự cần thiết và nhanh chóng biến đổi cơ cấu lương
thực hợp lý để tạo điều kiện thúc đẩy việc phát triển nhanh một nền nông nghiệp
toàn diện có nhiều sản phẩm hàng hóa.
2. Bố trí sản xuất cây công nghiệp
Trước khi thống nhất đất nước sản xuát cây công nghiệp ở nước ta vẫn ở
tình trạng nhỏ bé, phân tán, sản phẩm hàng hóa ít. Từ sau khi đất nước thống
nhất sản xuất cây công nghiệp có bước chuyển biến lớn. Diện tích tăng nhanh từ

riêng, xoài, thanh long, mít tiên nữ…

Trích đoạn Phát triển ngành trồng trọt theo hướng thâm canh ngày càng cao trên cơ sở cân bằng sinh thá Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và chế biến sản phẩm ngành trồng trọt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status