Một số vấn đề về phát triển SX trồng trọt theo hướng SX hàng hóa ở nước ta hiện nay - Pdf 17

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, nó không chỉ
là tư liệu sản xuất đặc biệt, mà còn là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng, có vai trò cực kỳ quan trọng đối với đời sống
xã hội. Trong giai đoạn hiện nay của nước ta, với sức ép về dân số và tốc độ công
nghiệp hoá, đô thị hoá, sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang công nghiệp,
dịch vụ kéo theo nhu cầu sử dụng đất ngày một tăng mà quỹ đất thì có hạn. Chính vì
vậy, trong quá trình sử dụng đất chúng ta cần phải khai thác, bảo vệ và cải tạo đất
đai sao cho đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển ngày càng nhanh của xã hội. Để sử
dụng nguồn tài nguyên quý giá này được lâu dài thì công tác quản lý đất đai là rất
cần thiết. Nó đòi hỏi phải có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương. Kể từ năm
1986 đến nay, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai không ngừng được củng cố và
kiện toàn đã góp phần đắc lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, đưa công tác quản lý đất đai
đi vào nền nếp;
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác quản lý đất đai vẫn còn
bộc lộ nhiều hạn chế như tình trạng chồng chéo trong quản lý, nạn tham nhũng... mà một
trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là hệ thống cơ quan quản lý đất đai được
tổ chức chưa hợp lý, cồng kềnh, hoạt động chưa hiệu quả. Điều này chưa đáp ứng được yêu
cầu của công tác quản lý đất đai trong điều kiện tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá; đặc biệt là khi nước ta đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO). Đây là lý do để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, đánh giá thực trạng hệ
thống cơ quan quản lý đất đai; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm củng cố và hoàn
thiện để hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ mà
đất nước đã giao phó. Với ý nghĩa đó, em lựa chọn đề tài: "Nâng cao năng lực trong hệ
thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta hiện nay" làm đề án môn học;
2. Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta bao gồm: Hệ thống cơ quan quản lý đất
đai có thẩm quyền chung, đó là: Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện và UBND
cấp xã; Hệ thống cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền riêng (còn được gọi là hệ thống cơ

nước ta.
Chương II: Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta
Chương III: Một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực trong hệ thống cơ quan
quản lý đất đai ở nước ta hiện nay
2
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
1. Sự cần thiết của việc Nhà nước quản lý đất đai
1.1. Vị trí và vai trò của đất đai với con người
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành quả đấu tranh dựng nước và
giữ nước của dân tộc ta. Trải qua hàng ngàn năm, nhân dân ta đã phải tốn biết bao cụng sức,
mồ hôi, xương máu mới cải tạo, bảo vệ và bồi bổ được vốn đất như ngày nay.
Không những vậy trong nền kinh tế hiện đại, đất đai còn là một nguồn lực mang tính
đầu vào của nhiều ngành sản xuất quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, đất đai có những đặc
trưng không giống với các tư liệu sản xuất khác. Thứ nhất, về nguồn gốc, đất đai không do
con người làm ra mà do tự nhiên tạo ra, có trước con người và bị giới hạn bởi diện tích,
không gian, cố định về vị trí địa lý ; trong khi đó nhu cầu sử dụng đất (SDĐ) của con người
ngày càng tăng. Nên, đất đai ngày càng trở lên khan hiếm và có giá trị cao. Thứ hai, cũng
giống như bất kỳ tư liệu sản xuất khác, đất đai cũng có độ khấu hao. Độ khấu hao của đất
được chuyển hoá thành giá thành sản phẩm qua mỗi chu kỳ sử dụng. Song khác với các tư
liệu sản xuất khác, đất đai không bao giờ mất hết độ khấu hao nếu sau mỗi chu kỳ sử dụng,
con người biết cách cải tạo, bồi bổ đất đai. Thứ ba, do có giá trị ngày càng cao, có tính bền
vững và cố định về vị trí địa lý nên đất đai được sử dụng làm tài sản bảo đảm trong các quan
hệ thế chấp, bảo lãnh vay vốn và được dùng làm vốn góp liên doanh, liên kết trong hoạt
động kinh tế. Thứ tư, đất đai không chỉ liên quan trực tiếp đến lợi ích mọi thành viên trong
xã hội mà còn liên quan đến lợi ích của Nhà nước, là một thành tố quan trọng hàng đầu của
môi trường sống của con người, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh
tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng nên việc SDĐ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy
tắc chung của xã hội do Nhà nước đặt ra;

mình đứng ra làm nhiệm vụ này. Người đó chính là Nhà nước CHXHCN Việt Nam ;
Thứ hai, xét về nguồn gốc ra đời và chức năng của Nhà nước, Nhà nước là một tổ
chức chính trị do xã hội thiết lập nên với một trong những chức năng cơ bản là thay mặt xã
hội quản lý, điều phối nhịp nhàng, đồng bộ mọi hoạt động của con người theo một quỹ đạo
chung đảm bảo sự vận động và phát triển của xã hội không rơi vào tình trạng rối loạn, vô tổ
chức. Đất đai có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với toàn xã hội và cả với từng thành viên
sống trong xã hội. Vì thế nên nó không thể không chịu sự quản lý của Nhà nước nhằm dung
hoà lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và dung hoà lợi ích giữa cá nhân với lợi ích của
cộng đồng trong quá trình SDĐ vì sự phát triển bền vững ;
Thứ ba, Nhà nước là một tổ chức trong hệ thống chính trị song khác với các tổ chức
chính trị khác; Nhà nước là một tổ chức chính trị - quyền lực được nhân dân trao cho quyền
lực công quản lý xã hội. Để thực hiện chức năng của mình, Nhà nước có quyền thu thuế; có
quyền ban hành pháp luật; có quyền thành lập bộ máy nhà nước ... để bảo đảm cho pháp luật
được tuân thủ nghiêm chỉnh trên thực tế. Do đó, trong các phương thức quản lý của con
người thì phương thức quản lý nhà nước là phương thức có hiệu quả nhất được sử dụng để
quản lý đất đai - tài sản quý giá nhất của xã hội ;
Thứ tư, như phần trên đã đề cập nước ta còn khoảng gần một nửa diện tích đất tự
nhiên chưa sử dụng (chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc ...) chủ yếu tập trung ở khu vực miền
núi phía Bắc ; phía Tây các tỉnh khu IV (cũ), các tỉnh miền Trung ; các tỉnh Tây Nguyên ...
Đây cũng là những vùng chậm phát triển so với các địa phương khác trong cả nước. Vì vậy
muốn đưa diện tích đất này vào sử dụng cho các mục đích khác nhau của xã hội nói riêng và
thúc đẩy sự phát triển các khu vực này nói chung nhằm thu hẹp khoảng cách so với những
4
địa phương khác đòi hỏi phải đầu tư nguồn vốn ban đầu rất lớn mà ngoài Nhà nước ra không
có bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện được việc này ;
Thứ năm, ở nước ta đất đai là thành quả cách mạng ; trải qua nhiều thế hệ, nhân dân
ta phải tốn rất nhiều mồ hôi, công sức mới khai phá và cải tạo được vốn đất đai như ngày
nay. Mặt khác, Việt Nam vẫn còn là nước chậm phát triển “đất chật, người đông”; diện tích
đất canh tác bình quân một đầu người vào loại thấp trên thế giới (chưa bằng 1/6 mức trung
bình của thế giới), trong khi đó tốc độ phát triển dân số ở mức cao. Vì vậy để quản lý chặt

trong lĩnh vực đất đai. Nếu Nhà nước đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân thì mục đích
5
của quản lý nhà nước đối với đất đai không chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền mà
còn bảo vệ lợi ích của người dân liên quan đến đất đai;
Thứ hai, quản lý nhà nước về đất đai do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy các
cơ quan nhà nước dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước (quyền lực công hay còn được gọi là
công quyền). Trong quá trình quản lý đất đai, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai buộc các đối tượng chịu sự quản lý là tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân SDĐ phải tuân theo;
Thứ ba, phạm vi của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai là lãnh thổ của từng cấp
đơn vị hành chính và toàn bộ vốn đất đai nằm trong đường biên giới quốc gia. Hoạt động
quản lý nhà nước về đất đai mang tính vĩ mô thể hiện ở việc xây dựng, hoạch định chiến
lược, chính sách về quản lý và SDĐ chứ không hướng vào các hoạt động SDĐ mang tính tác
nghiệp cụ thể.
2. Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta
2.1. Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ra đời gắn liền với sự xuất hiện của
một hình thức quản lý đất đai của con người: Quản lý nhà nước về đất đai. Hệ thống cơ quan
này được Nhà nước thành lập và bằng pháp luật, Nhà nước quy định cơ cấu, tổ chức, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai
trong cả nước theo quy hoạch, kế hoạch chung.
Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai là hệ thống cơ quan do Nhà nước
thành lập thống nhất từ trung ương xuống địa phương có cơ cấu, tổ chức chặt chẽ và có mối
quan hệ mật thiết với nhau theo quan hệ "song trùng trực thuộc" thực hiện chức năng,
nhiệm vụ giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước và ở
mỗi địa phương theo quy hoạch, kế hoạch chung;
Hệ thống cơ quan này có đặc trưng là hệ thống cơ quan chuyên ngành được giao
nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai. Trong hoạt động, cơ quan quản lý đất đai cấp dưới
chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan quản lý đất đai cấp trên; đồng thời,
chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Uỷ ban nhân dân (UBND) cùng cấp. Đây chính là

trung ương và quy hoạch, kế hoạch SDĐ vào mục đích quốc phòng, an ninh; thống nhất
quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước;
- UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai và quản lý nhà nước
về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này (khoản 2, 4 Điều 7 Luật đất
đai năm 2003);
2.2.3. Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai được thành lập thống
nhất từ trung ương đến địa phương theo 4 cấp đơn vị hành chính:
- Cấp trung ương: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở trung ương
là Bộ Tài nguyên và Môi trường, là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ
văn, đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực
hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong
lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy
văn, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Cấp tỉnh: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương là Sở Tài nguyên và Môi trường, là cơ quan chuyên môn thuộc UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh), giúp UBND
cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh theo
quy định của pháp luật. Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức,
7
biên chế và công tác của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Cấp huyện: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh là Phòng Tài nguyên và Môi trường, là cơ quan chuyên môn trực
thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có chức năng quản lý Nhà nước về
đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và
bản đồ trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật; Phòng Tài nguyên và Môi trường
chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời

8
- Tổ chức phát triển quỹ đất: Tổ chức phát triển quỹ đất hoạt động theo loại hình
đơn vị sự nghiệp có thu hoặc doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ công ích do UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thành lập để thực hiện bồi thường, giải
phóng mặt bằng trong trường hợp thu hồi đất sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được
công bố mà chưa có dự án đầu tư, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu vực có
quy hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất có nhu cầu chuyển đi nơi khác trước khi
Nhà nước quyết định thu hồi đất; quản lý quỹ đất đã thu hồi và tổ chức đấu giá quyền sử
dụng đất theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với diện tích đất được
giao quản lý. Việc ra đời tổ chức phát triển quỹ đất đánh dấu việc chuyển đổi công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng từ cơ chế hành chính (do cơ quan công quyền thực hiện) sang
cơ chế kinh tế (do doanh nghiệp thực hiện) đáp ứng đòi hỏi của việc quản lý và sử dụng đất
đai trong điều kiện kinh tế thị trường;
- Tổ chức hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai: Tổ chức sự nghiệp có
thu, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
thì được cấp phép hoạt động hoặc được đăng ký hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng
đất đai;
Các lĩnh vực hoạt động dịch vụ trong quản lý, sử dụng đất đai bao gồm:
- Tư vấn về giá đất;
- Tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Dịch vụ về đo đạc và bản đồ địa chính;
- Dịch vụ về thông tin đất đai;
3. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước
về đất đai ở nước ta
3.1. Giai đoạn 1945 – 1959
Sau khi giành được độc lập, cơ quan quản lý đất đai của Phủ Toàn quyền Đông
Dương là Sở Trước bạ - Văn tự - Quản thủ điền thổ và Thuế Trực thu được Bộ Tài chính
tiếp nhận (Sắc lệnh số 41 ngày 03 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch nước). Sau đó ngành Địa
chính được thiết lập (Sắc lệnh số 75 ngày 29 tháng 5 năm 1946 của Chủ tịch nước) với tên
gọi Nha Trước bạ - Công sản - Điền thổ. Kèm theo đó là hệ thống các đơn vị trực thuộc ở 03

bộ máy và đội ngũ cán bộ từ Trung ương tới địa phương, mở rộng các nội dung quản lý nhà
nước về đất đai. Cơ quan quản lý ruộng đất có nhiệm vụ chủ yếu là giúp Bộ Nông nghiệp
“quản lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp”. Ngành Quản lý
ruộng đất đã có những đóng góp to lớn trong việc mở rộng và sử dụng có hiệu quả diện tích
đất nông nghiệp, xây dựng kinh tế hợp tác xã và phát triển nông thôn
3.3. Giai đoạn từ 1979 đến nay
Để tăng cường công tác quản lý đất đai, thống nhất các hoạt động quản lý đất đai vào
một hệ thống cơ quan chuyên môn, năm 1979, Tổng cục Quản lý ruộng đất được thành lập -
"Tổng cục Quản lý ruộng đất là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, thống nhất quản lý
nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ
đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả cao đối với tất cả các loại đất"
(Nghị quyết số 548/NQQH ngày 24 tháng 5 năm 1979 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội). Cơ
quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập theo 03 cấp:
- Cấp tỉnh, có Ban Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Sau Luật
Đất đai năm 1987 cho tới năm 1993 hầu hết các Ban Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh đã chuyển thành Chi cục Quản lý đất đai hoặc Chi cục Quản lý ruộng đất
trực thuộc Sở Nông - Lâm nghiệp;
- Cấp huyện, có Phòng Quản lý ruộng đất trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện,
một số địa phương khu vực đô thị thành lập Phòng Quản lý nhà đất hoặc Phòng Nhà đất; từ
10
năm 1988 - 1994, Phòng Quản lý ruộng đất sáp nhập vào các Phòng Nông Lâm nghiệp hoặc
Phòng Kinh tế;
- Cấp xã, có Cán bộ quản lý ruộng đất chuyên trách.
Trước yêu cầu về tổ chức lại các cơ quan quản lý Nhà nước và tăng cường công tác
quản lý đất đai, năm 1994 Tổng cục Quản lý ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước
được hợp nhất và tổ chức lại thành Tổng cục Địa chính (Nghị định số 12/CP ngày 22 tháng
02 năm 1994 của Chính phủ). Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng
cục Địa chính được quy định tại Nghị định số34/CP ngày 23 tháng 4 năm 1994 của Chính
phủ, theo đó Tổng cục Địa chính là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về đất đai và đo đạc - bản đồ trên phạm vi cả nước. Ngay sau khi thành lập Tổng

02/2002/QH11 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khúa XI kỳ họp thứ
nhất quy định về danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính Phủ.
1.1. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường
1.1.1. Nhiệm vụ và quyền hạn chung
Theo Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì Bộ Tài
nguyên và Môi trường (sau đây gọi tắt là Nghị định số 91/2002/NĐ-CP) có trách nhiệm thực
hiện, nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan
ngang bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
- Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác
về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn,
đo đạc và bản đồ;
- Trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và
hàng năm về các lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi
trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ, cỏc cụng trỡnh quan trọng của ngành;
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm,
các định mức kinh tế - kỹ thuật trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, môi
trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ thuộc thẩm quyền;
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt và các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, các định
mức kinh tế- kỹ thuật của ngành; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về
tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo
đạc và bản đồ.
Bên cạnh nhiệm vụ, quyền hạn chung, Nghị định số 91/2002/NĐ-CP còn quy định
cho Bộ Tài nguyên và Môi trường những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong từng lĩnh vực
được giao quản lý; cụ thể:
12
1.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể
- Về tài nguyên đất

về tài nguyên khoáng sản; lập bản đồ địa chất trong phạm vi cả nước; quy
định và công bố khu vực cấm hoặc tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, khu
vực hạn chế, khu vực đấu thầu hoạt động khoáng sản; chỉ đạo và kiểm tra
việc thực hiện sau khi được phê duyệt;
• Trình Chính phủ quy định thẩm quyền cấp, gian hạn, thu hồi giấy phép hoạt
động khoáng sản và thủ tục cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép trả lại giấy phép
13
hoạt động khoáng sản, cho phép chuyển nhượng, để thừa kế quyền hoạt động
khoáng sản, đăng ký hoạt động khoáng sản;
• Xác định khu vực có tài nguyên khoáng sản chưa khai thác; khoanh định khu
vực có khoáng sản độc hại; thẩm định, phê duyệt theo thẩm quyền các đề án,
báo cáo về điều tra cơ bản tài nguyên khoáng sản, khảo sát, thăm dò trong
hoạt động khoáng sản;
• Quy định và chỉ đạo, kiểm tra thực hiện các biện pháp bảo vệ tài nguyên
khoáng sản;
• Tổng hợp số liệu, quản lý kết quả điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên
khoáng sản, khảo sát, thăm dò khoáng sản; thống kê, kiểm kê, đánh giá chất
lượng, trữ lượng tài nguyên khoáng sản, tổ chức lưu trữ, quản lý tài liệu, mẫu
vật và bảo mật nhà nước về số liệu, thông tin về địa chất và tài nguyên
khoáng sản;
• Thường trực Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản nhà nước;
- Về môi trường
Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các quy định, biện pháp bảo vệ môi trường
(BVMT), các chương trình, dự án về phòng, chống, khắc phục suy thoái, ô nhiễm, sự cố môi
trường theo sự phân công của Chính phủ;
• Thống nhất quản lý hệ thống quan trắc môi trường quốc gia; tổng hợp, xử lý
số liệu về quan trắc môi trường và định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường,
dự báo diễn biến môi trường;
• Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở
sản xuất, kinh doanh; quy định các tiêu chuẩn môi trường và quản lý thống

- Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa
học, công nghệ trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi
trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ;
- Quyết định các chủ trương, biện pháp cụ thể và chỉ đạo việc thực hiện cơ chế hoạt
động của các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ theo quy định của
pháp luật; quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ;
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn
của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên
nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ thuộc Bộ
quản lý theo quy định của pháp luật;
- Quản lý nhà nước đối với các hoạt động của hội và tổ chức phi Chính phủ trong
lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy
văn, đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực và xử
lý các vi phạm pháp luật về tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi
trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ thuộc thẩm quyền của Bộ;
- Quyết định và chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của Bộ theo mục
tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt;
- Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; chỉ đạo thực hiện chế độ tiền lương và các
chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà
nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với
cán bộ, công chức, viên chức trong lĩnh vực tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên
khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ;
15
- Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ
theo quy định của pháp luật;
Để thực hiện cỏc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định trên đây, Bộ Tài
nguyên và Môi trường cần có một cơ cấu tổ chức hợp lý, hoạt động hiệu quả;

chồng chéo trong quản lý, dễ phân tán nguồn lực và rơi vào tình trạng biên chế lớn nhưng
hiệu quả làm việc không cao.
2. Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Sở tài nguyên và môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
(UBND) tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh),
16
giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên
nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ trên địa bàn
tỉnh theo quy định của pháp luật;
Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công
tác của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của
Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Thông tư Liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV (sau đây gọi tắt là Thông tư
Liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV) ngày 15/7/2003 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan
chuyên môn giúp UBND quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở địa phương đã
quy định rất cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Sở Tài nguyên và Môi trường; cụ thể như sau:
Sở Tài nguyên và Môi trường được thành lập với những nhiệm vụ và quyền hạn như
sau:
Thứ nhất, trình UBND cấp tỉnh ban hành các quyết định về quản lý tài nguyên đất,
tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ
(sau đây gọi chung là tài nguyên và môi trường) ở địa phương;
Thứ hai, trình UBND cấp tỉnh quy hoạch phát triển, chương trình, kế hoạch dài hạn,
5 năm và hàng năm về tài nguyên và môi trường phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế- xã hội của địa phương;
Thứ ba, trình UBND cấp tỉnh quyết định các biện pháp bảo vệ tài nguyên và môi
trường ở địa phương; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện;
Thứ tư, tổ chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình,
quy hoạch, kế hoạch sau khi được xét duyệt; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và
thông tin về tài nguyên và môi trường;

của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Tham gia xây dựng phương án phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai ở tỉnh;
Thứ tám, về môi trường
- Trình UBND cấp tỉnh cấp, gia hạn, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi
trường cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trên địa bàn tỉnh theo phân cấp;
- Tổ chức lập báo cáo hiện trạng môi trường, xây dựng và tăng cường tiềm lực trạm
quan trắc và phân tích môi trường, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường tại địa phương
theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án, cơ sở theo phân
cấp;
- Tổ chức thu phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;
Thứ chín, về đo đạc và bản đồ
- Thẩm định và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoặc ủy quyền cấp phép
hoạt động đo đạc và bản đồ cho các tổ chức và cá nhân đăng ký hoạt động đo đạc và bản đồ
ở địa phương;
- Trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kết quả kiểm tra, thẩm định chất lượng công trình,
sản phẩm đo đạc và bản đồ địa chính, đo đạc và bản đồ chuyên dụng của tỉnh;
- Tổ chức xây dựng hệ thống điểm đo đạc cơ sở chuyên dụng, thành lập hệ thống bản
đồ địa chính, bản đồ chuyên đề phục vụ các mục đích chuyên dụng;
- Theo dõi việc xuất bản, phát hành bản đồ và kiến nghị với cơ quan quản lý nhà
nước về xuất bản việc đình chỉ phát hành, thu hồi các ấn phẩm bản đồ có sai sót về thể hiện
chủ quyền quốc gia, địa giới hành chính, địa danh thuộc địa phương; ấn phẩm bản đồ có sai
sót nghiêm trọng về kỹ thuật;
Thứ mười, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dịch vụ công trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường theo quy định của pháp luật;
18

Trích đoạn Hoàn thiện cỏc quy định về nõng cao tớnh hiệu quả trong hoạt động của cơ quan quản lý đất đa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status