LUẬN VĂN:
Nhận thức về tôn giáo và chính sách
đối với tín ngưỡng, tôn giáo ở nước
ta hiện nay
điểm đổi mới của Đảng về tôn giáo, góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội,
phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Chương 1
Nguồn gốc bản chất của tôn giáo
và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
1.1. Bản chất, nguồn gốc tôn giáo
1.1.1. Bản chất
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng đa chiều, vì vậy các khái niệm về tôn
giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan là những vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau nhưng
lại có quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, tiếp cận tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị
đoan mang tính tương đối về ranh giới và thuộc tính.
Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những điều thiêng liêng, huyền bí
vượt khỏi giới tự nhiên. Còn tôn giáo là tín ngưỡng của những người cùng chung một tổ
chức có hệ thống giáo lý, giáo luật và lễ nghi.
Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và vẫn tồn
tại cho đến ngày nay. Trên thực tế, mê tín dị đoan thường xen vào trong các hoạt động
tín ngưỡng, tôn giáo. Mê tín dị đoan là niềm tin mù quáng vào những điều nhảm nhí có
thể làm cho con người bị hủy hoại cả tinh thần, sức khoẻ, tài sản, tính mạng của cá
nhân, gia đình và xã hội.
Do vậy cùng với việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân
thì nhà nước và xã hội cần phải quan tâm giáo dục, vận động từng bước loại bỏ dần mê
tín dị đoan, làm lành mạnh các quan hệ xã hội.
1.1.2. Nguồn gốc của tôn giáo
Khi nghiên cứu nguồn gốc của tôn giáo dưới những góc độ khác nhau. Các Mác
cho rằng: Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con
thế giới mà còn có khả năng phản ánh sai lầm và xa rời hiện thực nhưng chủ thể nhận
thức không muốn vượt qua sự hạn chế, sai lầm quá trình phản ánh thế giới khách quan
bằng phương pháp khoa học, đó là cơ sở thứ hai cho sự ra đời của tôn giáo.
- Nguồn gốc tâm lý:
Ngày nay khoa học nghiên cứu về tôn giáo còn chỉ ra nguồn gốc tâm lý của sự
hình thành tôn giáo, trước các hiện tượng tự nhiên và xã hội ví dụ như sự sợ hãi tột cùng
trước các hiện tượng tự nhiên chưa biết, sự long lắng, sự chú ý, tình cảm, niềm tin tâm
lý; sự choáng ngợp trước các hiện tượng tự nhiên hay lợi ích Khiến con người không
giải thích được và quy về cho một mẫu số chung của số phận, may rủi, sự sắp đặt của
thế giới khách quan. Đó cũng là cơ sở cho sự ra đời của tôn giáo.
1.2. Cơ sở tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta đang tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần phản
ánh lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội vẫn là một thực tế khách quan.
- Sự rủi ro cho con người trước tự nhiên, xã hội còn nhiều.
- Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, giai tầng xã hội diễn ra với nhiều hình thức
khác nhau, vừa tinh vi, vừa đa dạng phức tạp nhất là về tư tưởng.
- Âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch thường gắn với việc truyền bá, lợi
dụng vấn đề tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nước ta.
- Bản thân các tôn giáo ở nước ta đã gắn bó với dân tộc trong suốt quá trình lịch
sử và ngày nay vẫn có giá trị đáp ứng ở mức độ nhất định nhu cầu văn hóa, tinh thần,
đạo đức, lối sống của xã hội.
Vì vậy trong thời kỳ quá độ ở nước ta, tôn giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển,
là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Phật giáo tin ở Phật; tín đồ Gia Tô tin ở chúa trời cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng.
Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với dân ta đừng làm gì trái ý
dân. Dân muốn gì ta phải làm nấy".
Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Công giáo hay không Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo
đều nên phải nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà".
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo
1. Tôn trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Hồ Chí Minh là tôn trọng đức tin của
mỗi người. Năm 1945 chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập ở Quảng trường Ba
Đình, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đề nghị
Chính phủ ta tuyên bố "tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết".
Trước sự xuyên tạc của kẻ thù về chính sách tôn giáo, Hồ Chí Minh khẳng định
"Vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng của mọi người".
2. Nội dung cơ bản về tự do tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ tự của nhân dân, không ai được
xâm phạm.
- Tôn trọng tự do tín ngưỡng nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tôn
giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
- Tôn trọng tự do tín ngưỡng đi đôi với bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống
văn hóa mới, xây dựng thuần phong mỹ tục.
- Phải tế nhị, tránh thô bạo trong việc thực hiện xây và chống bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan trong xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là cơ sở phương pháp luận để Đảng, Nhà
nước ta xây dựng đường lối, chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay.
Chương 2
Đặc điểm tôn giáo Việt Nam và phương hướng
- Phật giáo đến Việt Nam từ ấn Độ.
- Đạo giáo, Khổng giáo đến từ Trung Hoa.
- Ki tô giáo đến từ Bồ Đào Nha và kế tiếp là dòng Thừa sai Pari Pháp.
- Hồi giáo gắn liền với nhà nước Champa xưa.
Ngoài các tôn giáo ngoại sinh. Lịch sử và điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội của
đất nước thông qua năng lực nội sinh cũng hình thành nên hai tôn giáo đó là:
Đạo Cao Đài và Phật giáo Hoà Hảo. Hiện nay, trên cả nước có 15 giáo hội, với
hơn 20 triệu tín đồ với số lượng rất lớn các thiết chế như chùa, nhà thờ, cơ sở đào tạo,
chức sắc, tín đồ.
Đồng bào tôn giáo là một bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân,
sống đan xen hoà đồng, khoan dung trong lòng dân tộc.
Tính đan xen, hoà đồng của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở các
yếu tố sau:
- Có tôn giáo cùng một lúc thờ đa thần cả thần, thánh, tiên, phật như Phật giáo
đại thừa và điển hình là đạo Cao Đài.
- Người dân Việt Nam cũng thờ đa thần, cả tổ tiên, phật, thần, thổ công, ông
táo
- Ngày lễ của các tôn giáo ngày càng được mọi tầng lớp nhân dân tham gia như
là những hình thức văn hóa cộng đồng hướng tới các giá trị tinh thần, tâm linh lành
mạnh. Sự phân biệt tôn giáo không gay gắt.
2.1.3. Yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và tập quán sản xuất nông
nghiệp lúa nước, gắn với sự đề cao vai trò phụ nữ trong gia đình với tư cách là tính âm -
đất - mẹ - biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở, bền vững, trường tồn, bao dung.
Do vậy Phật giáo, Khổng giáo, Ki tô giáo vào Việt Nam đều được Việt hoá thành
yếu tố nữ như Phật bà, Thánh mẫu, Bà chúa Liễu, Bà chúa Kho, tượng Phật bà quan âm;
Nơi Đức mẹ giáng trần ở La Vang Quảng Trị; Bà chúa nữ ở An Giang, Bà chúa đen ở
Mặt khác các tín đồ tôn giáo Việt Nam không am hiểu sâu sắc giáo lý, nhưng
chăm chỉ thực hiện các nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt cộng đồng tín ngưỡng một cách
nhiệt tâm.
2.1.6. Một số tôn giáo bị các thể lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì
mục đích chính trị
Đặc điểm này hình thành chủ yếu do yếu tố hoàn cảnh lịch sử của một dân tộc
luôn bị xâm lược, các thế lực xâm lược và cầm quyền phản động luôn tranh thủ các yếu
tố tôn giáo vì mục đích chính trị. Thường gắn vấn đề tôn giáo với dân chủ, tự do, nhân
quyền, dân tộc theo quan điểm phương Tây mà không tính đến đặc điểm lịch sử chính
trị, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế và dân trí hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết
toàn dân, phục vụ cho những mục đích chính trị đen tối, phá hoại sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
2.2. Quan điểm chính sách đối với tôn giáo
2.2.1. Quan điểm
Từ nguồn gốc, bản chất, vai trò và tính khách quan của tôn giáo đối với đời sống
xã hội nói chung và đối với công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ. Đảng và
Nhà nước ta nhất quán quan điểm:
1. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.
2. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do theo hoặc
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật.
3. Thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo
và không theo tôn giáo, giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa của dân tộc
đề cao các giá trị tích cực của tục thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ
quốc và nhân dân.
Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì các lý do tôn giáo tín ngưỡng, đồng thời
nghiêm cấm lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín đị doan, hoạt động
trái pháp luật, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
sở.
Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện nhất quán đồng bộ, bình đẳng
mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa ở địa phương và cơ sở. Đổi mới
phương thức hoạt động, đa dạng hoá các hình thức tập hợp đồng bào theo các tôn giáo
vào các hoạt động xã hội - chính trị ở địa phương, làm cho đồng bào giữa các tôn giáo
và các giới đoàn kết tương trợ lẫn nhau, xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh.
Tuyên truyền và thực hiện nhất quán chính sách đối với chức sắc, chức việc, nhà
tu hành và tín đồ tôn giáo.
3. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
Đã hình thành cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo ở Trung ương và địa
phương, để giúp Chính phủ cụ thể hoá các chính sách đối với đồng bào tôn giáo nhất là
các chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, các chính sách khuyến khích
các tôn giáo tham gia hoạt động xã hội; tạo điều kiện để các tôn giáo xây dựng cơ sở thờ
tự, mở các trường đào tạo chức sắc của tôn giáo.
Chủ động đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo vào mục đích
chính trị của các thế lực thù địch.
4. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo.
Đến nay hệ thống tổ chức và cán bộ làm công tác tôn giáo đã được hình thành từ
Trung ương đến cấp huyện. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đã nghiên cứu quán
triệt đường lối quan điểm của Đảng và pháp luật về tôn giáo. Tham mưu cho Chính phủ,
chính quyền địa phương trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
Tuy nhiên, công tác tôn giáo là một vấn đề lớn và cực kỳ khó khăn bởi vì mỗi tôn
giáo có hệ thống tổ chức, giáo lý, tín đồ và phương thức sinh hoạt khác nhau. Giá trị
tinh thần, đức tin của mỗi tôn giáo khác nhau, do vậy cán bộ làm công tác tôn giáo cần
phải được đào tạo cơ bản về trình độ chuyên môn, chuyên sâu về lĩnh vực, mặt khác
phải có tấm lòng thực sự tôn trọng, hoà đồng, hoà mục, gắn bó với đồng bào tôn giáo,
chức sắc, chức việc và phải có năng lực vận động quần chúng, am hiểu sâu văn hóa
Bản chất tôn giáo là sự tôn sùng, là đức tin của nhân dân vào một giáo lý nào đó.
Bản thân tôn giáo có giá trị góp phần làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân, là chỗ dựa tinh thần để nhân dân lý giải những hiện tượng tự nhiên xã hội
xung quanh hoặc những rủi ro bất hạnh trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Tôn giáo, bên cạnh những giá trị và tác dụng của nó đối với một bộ phận nhân
dân, nó còn góp phần vào việc gìn giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa của các cộng đồng
dân tộc, góp phần vận động nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước, giáo dục thế hệ trẻ.
Nước ta là một nước tôn giáo hình thành sớm và đa tôn giáo. Các tôn giáo đến
Việt Nam thông qua sự giao lưu và tiếp biến văn hóa với các nước phương Đông như ấn
Độ - Trung Quốc; với phương Tây như Bồ Đào Nha, Pháp, và yếu tố nội sinh của dân
tộc cũng sinh ra cái tôn giáo. Tôn giáo ở Việt Nam vừa mang tính tự giác vừa mang tính
áp đặt, vừa có mặt tích cực, nhưng lại có mặt tiêu cực trong bối cảnh lịch sử cụ thể của
dân tộc. Nhưng dòng chảy chính của tôn giáo Việt Nam là đồng hành cùng dân tộc, số
phận tôn giáo nằm trong số phận dân tộc vì vậy tôn giáo Việt Nam hoà đồng không
phân biệt, cách biệt giữa những người có đạo và những người không có đạo, người
không có đạo cũng tôn trọng và kế thừa các giá trị cao đẹp của các tôn giáo đồng thời
đồng bào theo đạo cũng tích cực tham gia vào hoạt động của cộng đồng với bổn phận
công dân của mình. Những bậc hiền tài có công với dân với nước được cả những người
có đạo và không có đạo sùng tín như tôn giáo.
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ thực tiễn của đất
nước và các giá trị của tôn giáo, Đảng, Nhà nước ta đổi mới nhận thức và thừa nhận tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đã, đang tồn tại lâu dài với sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nhà nước đã ban hành pháp lệnh tôn giáo
năm 2004 và Nghị định hướng dẫn thi hành pháp lệnh tôn giáo năm 2005 để cụ thể hoá
đường lối của Đảng. Đó là cơ sở pháp luật cao nhất về chính sách tôn giáo của nhà nước
ta.