Mục lục
Trang
Lời mở đầu 3
3
Chơng I: Luận cứ khoa học và kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4
I. MộT Số VấN Đề Lí LUậN Về CHUYểN DịCH CƠ CấU KINH Tế
NGàNH 4
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và một số lý luận về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành 4
1.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4
2. Một số vấn đề lí luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế: 5
2.1. Lí luận của kinh tế học Mác Xít: 6
2.2. Lí luận của kinh tế học phát triển: 6
II. Kinh nghiệm thế giới về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 9
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong một số mô hình công
nghiệp hoá 9
1.1. Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu: 9
1.2. Mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu : 11
1.3. Mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp theo hớng hội nhập quốc tế :
12
2. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở một số nớc trên thế
giới 13
2.1. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội ở Malaxia
: 13
2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở trung quốc: 14
2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hàn Quốc: 15
Chơng II: Thực trạng, đánh giá và vị trí cơ cấu các ngành kinh tế ở nớc
ta hiện nay 16
I. Sự CầN THIếT Và ĐáNH GIá QUá TRìNH CHUYểN DịCH CƠ CấU
KINH Tế ở Nớc ta 16
1. Giải pháp chung: 39
2. Giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu của các
ngành kinh tế 40
2.1. Giải pháp cho ngành công nghiệp 40
2.2. Giải pháp cho ngành nông - lâm - ng nghiệp 41
2.3. Giải pháp cho ngành thơng mại dịch vụ 41
Tài liệu tham khảo 42
2
Lời mở đầu
Trong một thế giới có những biến đổi sâu sắc nh hiện nay thì việc lựa
chọn cho mình một cơ cấu kinh tế hợp lí của mỗi quốc gia không những
phải căn cứ vào các yếu tố trong nớc, mà còn phải tính đến cả những yếu tố
bên ngoài, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay. Xu thế
này đòi hỏi mỗi quốc gia phải tìm kiếm và phát huy lợi thế của mình trong
quá trình hợp tác và phát triển.
Nắm bắt đợc xu thế chung ấy, kể từ năm 1986 đến nay dới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, cơ cấu kinh tế nớc ta đã có sự chuyển
dịch theo hớng tích cực. Tỉ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong
GDP tăng lên nhanh chóng, ngành nông nghiệp có xu hớng giảm; cơ cấu
các thành phần kinh tế cũng có sự chuyển dịch hợp lí hơn. Những biến đổi
đó đang tạo đà cho sự phát triển nhanh và ổn định.
Tuy nhiên, những tiến bộ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đó cũng
mới chỉ là bớc đầu, và nhìn chung còn chậm. Cho đến nay, nớc ta vẫn là
một nớc nông nghiệp, tỉ trọng nông nghiệp trong GDP còn lớn. Để đạt đợc
mục tiêu đến năm 2020, đ a nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinhtế hợp lí mà đại hội VIII
của Đảng đã đề ra, thì còn nhiều vấn đề cần đợc nghiên cứu và có giải pháp
tích cực.
Trong điều kiện không có nhiều thuận lợi và mới chỉ dừng lại ở quá
kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội.
Một cách tiếp cận khác cho rằng: Cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ
là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ
với nhau, tác động qua lại với nhau trong không gian và thời gian nhất định,
trong những điều kiện Kinh tế Xã hội nhất định, đợc thể hiện cả về mặt
định tính lẫn định lợng, cả về số lợng lẫn chất lợng phù hợp với mục tiêu đ-
ợc xác định của nền kinh tế.
Nhìn chung các cách tiếp cận trên đã phản ánh đợc mặt bản chất chủ
yếu của cơ cấu kinh tế. Đó là các vấn đề:
Thứ nhất, tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống
kinh tế của quốc gia.
Thứ hai, số lợng và tỉ trọng của các nhóm ngành và của các yếu tố cấu
thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nớc.
Thứ ba, các mối quan hệ tơng tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các
yếu tố hớng vào các mục tiêu đã xác định.
Cơ cấu kinh tế bao gồm các loại đó là:
- Cơ cấu ngành kinh tế.
4
- Cơ cấu lãnh thổ: Là cơ cấu đợc hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản
xuất theo không gian địa lý.
- Cơ cấu thành phần kinh tế: Là cơ cấu đợc hình thành dựa trên chế độ
sở hữu.
Ba bộ phận trên của cơ cấu kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhng
quan trọng hơn cả vẫn là cơ cấu ngành kinh tế.
1.1.2. Cơ cấu ngành kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế, là tổ hợp các ngành hợp thành có tơng quan tỷ
lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh quốc dân. Cơ
cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh
tế và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
Nhìn chung cơ cấu ngành đợc chia thành ba nhóm chính là:
2.1. Lí luận của kinh tế học Mác Xít:
Trong kinh tế học Mác xít vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
đợc đề cập đến trong hai học thuyết lớn đó là: Học thuyết về Phân công lao
động xã hội và học thuyết về Tái sản xuất T bản xã hội.
Trong học thuyết về phân công lao động xã hội, kinh tế học Mác- xít
đã chỉ rõ tiền đề cần thiết và vạch rõ khuôn khổ, thể chế quyết định sự thay
đổi về chất của cuộc cách mạng công nghiệp cơ sở vật chất của phơng
thức sản xuất T Bản chủ nghĩa hiện đại. Đó là:
- Sự tách rời giữa Thành thị và nông thôn.
- Số lợng dân c và mật độ dân số.
- Năng suất lao động trong nông nghiệp đợc nâng cao, đủ để cung
cấp sản phẩm tất yếu cho cả những ngời lao động trong nông nghiệp lẫn
những ngời lao động thuộc những ngành sản xuất khác.
- Cuối cùng, điều kiện thể chế có ý nghĩa quyết định cuộc Cách mạng
công nghiệp trong chủ nghĩa T bản là sản xuất hàng hóa, là kinh tế thị tr-
ờng.
Vậy việc thúc đẩy quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nói chung
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng không thể có kết quả nếu không
tính tới độ chín muồi của những tiền đề này. Nó cũng cho thấy trong điều
kiện cụ thể của mỗi nền kinh tế, độ chín muồi của từng loại tiền đề này có
thể không giống nhau và con đờng để hoàn thiện hay thay thế từng loại tiền
đề nói trên sẽ không giống nhau.
Học thuyết về tái sản xuất T bản xã hội đã phân tích mối quan hệ giữa
các ngành sản xuất trong quá trình vận động và phát triển. Sau những phân
tích công phu, đặc biệt là tính tới ảnh hởng của yếu tố Khoa học Kĩ thuật
dới thuật ngữ cấu tạo hữu cơ , có thể tóm tắt tinh thần cơ bản về mối
quan hệ giữa các ngành trong học thuyết về tái sản xuất T bản xã hội nh
sau: Sản xuất t liệu sản xuất để chế tạo t liệu sản xuất tăng nhanh nhất; sau
đó đến sản xuất t liệu sản xuất để chế tạo t liệu tiêu dùng; và chậm nhất là
sự phát triển của sản xuất t liệu tiêu dùng.
đang có nạn Nhân mãn. Nhng quá trình này sẽ kết thúc cho đến khi lao
động d thừa trong nông nghiệp không còn nữa. Lúc đó việc tiếp tục chuyển
lao động nông nghiệp sang công nghiệp sẽ làm giảm sản lợng nông nghiệp,
dẫn đến tăng giá nông sản kéo theo sự tăng lơng của khu vực công nghiệp.
Nhng do sự tăng lơng là có giới hạn vì vậy sức thu nạp lao động từ nông
nghiệp của công nghiệp là có giới hạn.
Theo một cách phát triển khác dựa trên lí thuyết nhị nguyên là phân
tích khả năng di chuyển lao động từ nông thôn ra khu vực Công nghiệp
Thành thị. Quá trình dịch chuyển lao động chỉ trôi chảy khi tổng cung về
lao động từ nông nghiệp phù hợp với tổng cầu trong công nghiệp. Sự di
chuyển này phụ thuộc vào mức chênh lệch thu nhập và xác suất tìm đợc
việc làm, đối với những ngời lao động nông nghiệp. Sự xuất hiện các yếu tố
tìm đợc việc làm tạo ra các tình huống làm yếu đi khả năng di chuyển lao
động giữa hai khu vực đó là:
- Sự năng động của bản thân khu vực công nghiệp: Về vấn đề này ta
có thể thấy ở các nớc phát triển tỏ ra có u thế hơn các nớc đang phát triển,
do đó để tăng khả năng cạnh tranh và làm đầu tàu lôi kéo sự tăng trởng của
toàn bộ nền kinh tế thì khu vực công nghiệp phải hớng tới những ngành kỹ
thuật cao.
- Khả năng đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật của ngời lao động nông
nghiệp khi chuyển sang công nghiệp. Về mặt này, một thực tế là ngời lao
động nông thôn có trình độ học vấn thấp hơn nhiều so với lao động Thành
thị và thậm chí còn cha quen với môi trờng lao động công nghiệp. Do vậy
cần thiết phải đầu t nâng cao chất lợng lao động, đây là nhiệm vụ quan
trọng cần thiết của các nớc đang phát triển.
Vậy trong quá trình phát triển kinh tế, các lý thuyết nhị nguyên đã đi
từ chỗ cho rằng chỉ cần tập chung vào phát triển công nghiệp mà không cần
7
chú ý tới nông nghiệp, đến chỗ đã chỉ ra những giới hạn của chúng và vì
thế, cần quan tâm chính đáng tới nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch
- Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật
thiết với nhau trong chu trình đầu ra của ngành này là đầu vào của
ngành kia. Vì thế , sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự
cân bằng cung cầu trong sản xuất.
- Sự phát triển cân đối giữa các ngành nh vậy còn giúp tránh đợc ảnh
hởng tiêu cực của những biến động của thị trờng thế giới và hạn chế mức độ
phụ thuộc vào các nền kinh tế khác, tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan
hiếm và thiếu hụt .
- Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hoàn chỉnh nh vậy chính là
nền tảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nớc thuộc thế giời
thứ 3 chống lại Chủ nghĩa thực dân.
8
Tuy nhiên, thực tế đã dần cho thấy những yếu điểm rất lớn của mô
hình lý thuyết này. ở đây có hai vấn đề cần đợc xem xét lại là:
Thứ nhất, việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đa
nền kinh tế đến chỗ khép kín và khu biệt với thế giới bên ngoài. Điều này đi
ngợc với xu hớng chung là khu vực hoá và toàn cầu hoá, mà trong lúc ngăn
ngừa những tác động tiêu cực của thị trờng thế giới, đã bỏ qua cả những ảnh
hởng tích cực do bên ngoài mang lại.
Thứ hai, các nền kinh tế chậm phát triển không đủ khả năng về Nhân,
Tài, Vật lực để có thể thực hiện đợc những mục tiêu cơ cấu đặt ra ban đầu.
2.2.4. Lý thuyết phát triển theo mô hình đàn nhạn bay :
Theo mô hình đàn nhạn bay xét trên góc độ phát triển của toàn bộ
nền công nghiệp, từng phân ngành hay thậm chí từng loại sản phẩm riêng
biệt, quá trình đuổi kịp về mặt kinh tế và kỹ thuật của chúng đợc chia
thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Các nớc kém phát triển nhập hàng công nghệ chế biến
từ các nớc phát triển hơn và xuất khẩu một số sản phẩm thủ công đặc biệt.
Giai đoạn này xảy ra sự phân công lao động quốc tế ngay trong lòng các n-
ớc kém phát triển.
thể sau:
- Chính sách bảo hộ mậu dịch: Là chính sách đặc trng phổ biến và
đặc trng cho mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu. Chính sách này
đợc coi là công cụ phát triển bao gồm: Bảo vệ thị trờng nội địa cho sản xuất
công nghiệp trong nớc, giúp hình thành những ngành công nghiệp non trẻ,
tiết kiệm ngoại tệ
- Chính sách tỷ giá hối đoái: Để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng
hàng hoá nội địa, các chính phủ thờng duy trì chế độ tỷ giá hối đoái theo h-
ớng nâng cao giá trị đồng nội tệ nhằm làm yếu khả năng cạnh tranh của
hàng ngoại trên thị trờng nội địa.
Với những chính sách trên, hầu hết các quốc gia đang phát triển theo
mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã đạt đợc tốc độ tăng trởng
Công nghiệp tơng đối cao trong giai đoạn đầu. Sự tăng trởng này tạo ra sự
thay đổi nhất định về cơ cấu kinh tế và thúc đẩy quá trình đô thị hoá diễn ra
nhanh hơn. Làm thay đổi bộ mặt Kinh tế - Xã hội ở các quốc gia vốn trớc
đây là xứ thuộc địa .
Đáng tiếc rằng tốc độ tăng trởng và chuyển dịch cơ cấu của mô hình
này đã không thể tiếp tục duy trì lâu hơn. Các nhà kinh tế học đã tổng kết
quá trình hoạt động của chính sách nh sau:
- Chính sách thay thế nhập khẩu tự nó giả định phát triển đồng thời
tất cả mọi ngành công nghiệp để tự sản xuất tất cả các loại sản phẩm tiêu
dùng, trớc hết là hàng vốn phải nhập khẩu. Yêu cầu này không thể đáp ứng
vì nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển do quá tải về vốn đầu t, khả năng
công nghệ kỹ thuật và quản lý. Sự chú trọng phát triển công nghệ làm
cho Nông nghiệp trở nên trì trệ không đủ sức cung cấp các nguồn lực cho
phát triển công nghiệp. Do đó sự di chuyển lao động từ nông nghiệp sang
công nghiệp chậm dần không theo kịp tốc độ ra tăng lao động mới. Quá
trình chuyển dịch cơ cấu bị ngừng trệ và về cơ bản lại tái sản xuất ra cơ cấu
kinh tế cũ.
- Do trình độ kỹ thuật thấp kém và khả năng đầu t ban đầu bị hạn
Một số đặc điểm đặc trng của mô hình này là :
- Quá trình công nghiệp hoá đợc bắt đầu từ việc tập trung khai thác
các thế mạnh của nền kinh tế, tạo ra những lĩnh vực phảt triển có lợi thế so
sánh trên thị trờng thế giới và sản xuất những sản phẩm mà thị trờng quốc
tế cần, tức là hớng tới một cơ cấu kinh tế không cân đối.
- Toàn bộ hệ thống chính sách chủ yếu nhằm khuyến khích xuất
khẩu. Tuy các chính sách khuyến khích ở các nớc khác nhau nhng tất cả
đều dựa trên nguyên lý chung là đảm bảo cho các nhà sản xuất có lợi hơn
nếu bán sản phẩm của mình ra nớc ngoài . Những biện pháp khuyến khích
sản xuất hàng xuất khẩu gồm :
+ Nhà nớc trực tiếp tác động bằng cánh đa ra danh mục các mặt
hàng u tiên đợc giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu , hoặc trực tiếp trợ cập cho
các loại hàng hoà phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu
.
+ Nhà nớc can thiệp qua công cụ tài chính , tiền tệ , tạo lập môi tr-
ờng thuận lợi cho hoạt động sản xuất hớng ra thị trờng thế giới .
Nhờ những thế mạnh của những chính sách hớng xuất khẩu mà nền
kinh tế của nhiều quốc gia đã và đang trên đà phát triển mạnh. Tuy nhiên có
hai vấn đề cần thiết phải lu ý, đó là :
11
Thứ nhất, chính sách thúc đẩy công nghiệp hoá hớng ngoại phụ thuộc
quá nhiều vào biến động của thị trờng thế giới , những điều kiện trong nớc
đảm bảo thực thi chính sách này không phải ở bất cứ đâu và bất kỳ lúc nào
cũng sẵn sàng.
Thứ hai, rất nhiều nớc muốn theo đuổi chính sách này vì vậy xuất hiện
một loạt các nhà cung cập cho thị trờng thế giới tạo ra sự cạnh tranh khốc
liệt dần làm mất đi u thế so sánh của một số nớc .
Do chính sách hớng vào xuất khẩu vẫn còn đang phát huy thế mạnh
của mình ở một số nớc, tuy nhiên tuỳ theo điều kiện mỗi quốc gia mà chọn
lựa và áp dụng đúng đắn , sáng tạo nhằm phát triển kinh tế.
nớc, đồng thời tận dụng đến mức tối đa lợi thế Địa lý - Kinh tế trong chu
trình sản xuất kinh doanh. Cơ cấu công nghiệp hội nhập còn có tính chất
linh hoạt và mềm dẻo trong chủng loại và mẫu mã, hình thức sản phẩm,
12
trong cơ chế tổ chức và quản lý. Cơ cấu công nghiệp hội nhập cũng là cơ
cấu mở, luôn luôn duy trì khả năng thu nhập mọi nguồn lực phát triển mới,
vốn, công nghệ, nhân lực đến các giá trị văn hoá xã hội .
Thứ hai, xây dựng thể chế Kinh tế Xã hội theo hớng hội nhập quốc
tế, với hai tính chất: Mở và phù hợp với các định chế toàn cầu. Tuy mức độ
có khác nhau nhng tất cả các quốc gia đều phải tuần thủ những định chế
toàn càu trong quá trình công nghiệp hoá và phát triển
Thứ ba, xây dựng nguồn lực hội nhập quốc tế, toàn bộ kết cấu nguồn
lực, phấn đấu đạt tiêu chuẩn quốc tế, từ các nhà hoạch định chiến lợc,
chính sách , đến các nhà quản lý, đội ngũ các bộ khoa học và công nghệ,
doanh nghiệp, công nhân. Con đờng đi đến hội nhập quốc tế đòi hỏi tất yếu
phải tăng mạnh đầu t cho Giáo dục - Đào tạo, đồng thời mở rộng hợp tác
quốc tế trong phát triển và khai thác sử dụng nguồn nhân lực.
Có thể thấy rằng mô hình công nghiệp hoá hỗn hợp theo hớng hội
nhập quốc tế tạo ra những điều kiện rộng mở , thuận lợi cho việc khai thác
tốt các nguồn lực, trong đó có việc khai thác và sử dụng hợp lý, có hiện quả
nguồn nhân lực. Tuy nhiên, cũng đòi hỏi phải có một lực lợng lao động có
chất lợng cao, có số lợng và cơ cấu hợp lý, thích ứng đợc nhu cầu hội nhập.
2. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở một số nớc trên
thế giới
2.1. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội ở Malaxia :
Là một quốc gia giành độc lập năm 1957, Malaixia bắt đầu bằng một
nền kinh tế với hai mặt hàng chiếm u thế là Thiếc và Cao su. Liên tiếp từ
đó, nền kinh tế Malaxia liên tục thực hiện chính sách đa dạng hoá rộng rãi
các mặt hàng sản xuất và đã đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh, trung bình từ
7% - 8% hàng năm. Sản lợng GDP bình quân đầu ngời là 2000 USD năm
2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở trung quốc:
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn (thứ ba thế giới ) và đông dân c
nhất thế giới. Năm 1949 nhà nớc mới thành lập, nền kinh tế ảnh hởng
nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh kéo dài và lạm phát cao. Chính
phủ đã định ra những chính sách nhằm củng cố quyền lực, khôi phục trật tự
xã hội, khắc phục thất nghiệp và nạm đói. Đến năm 1952, hầu hết những
vấn đề đã đợc giải quyết. Sau đó chính phủ quyết định sửa đổi cơ cấu nền
kinh tế, áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hoá của Liên Xô. Giảm mức đầu
t nớc ngoài vào Nông nghiệp, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất tập trung vào
xây dựng công nghiệp nặng, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng. Vào
những năm 60 của thế kỷ XX nhiều chơng trình của đại nhảy vọt đợc thử
nghiệm, cộng thêm bất hoà Xô - Trung khiến cho nền kinh tế Trung Quốc
lâm vào khủng hoảng. Trung Quốc giành đầu t lớn cho nông nghiệp.
Năm 1975 chính phủ Trung Quốc thay đổi lại chính sách kinh tế bằng
việc thực hiện chơng trình bốn hiện đại hoá với mục tiêu tăng sản lợng
Nông nghiệp, Công nghiệp, Khoa học kỹ thuật và Quốc phòng. Kế hoạch 5
năm lần thứ sáu đã công bố những cuộc cải cách trong nông nghiệp, quyền
tự quản, khuyến khích cạnh tranh trên thị trờng, giảm thuế đối với xí nghiệp
ngoài quốc doanh, thúc đẩy giao dịch trực tiếp giữa doanh nghiệp Trung
Quốc và nớc ngoài.
Những cuộc cải cách đã đem lại thành tựu to lớn, thu nhập quốc dân,
sản lợng nông nghiệp, công nghiệp tăng lên 10% trong những năm 80. Thu
nhập thực tế của ngời dân tăng gấp đôi. Cải cách công nghiệp đã làm đa
dạng hoá các mặt hàng công nghiệp nhẹ và hàng hoá tiêu dùng. Tuy nhiên,
Trung Quốc cũng phải giải quyết một loạt vấn đề nh tham nhũng, lạm phát,
thất nghiệp thông qua các biện pháp, chính sách phù hợp để có thể tiếp
tục tiến bớc vững chắc trên con đờng phát triển.
14
2.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Hàn Quốc:
Do sự chia cắt năm 1945, Hàn Quốc chỉ là vùng đất với nguồn lực
mới. Đến nay, những lợi thế so sánh đó đang giảm dần, giá công nhân tăng
lên làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm do giá thành tăng nhanh.
Do vậy cần chuyển một phần các lĩnh vực sản xuất khó cạnh tranh sang các
nớc khác dới hình thức đầu t chuyển giao công nghệ.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ tạo ra những
lĩnh vực công nghệ mới, có hiệu quả cao, đặc biệt là những công nghệ tiết
kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trờng. Việc thực hiện công nghệ này trớc mắt
có thể cha thu đợc nhiều lợi nhuận, nhng trong tơng lai thì đó là cơ sở để
giành vị trí thống trị hoặc áp đảo thị trờng thế giới và khu vực.
Các nớc công nghiệp hoá có nhu cầu chuyển những công nghệ có
trình độ thấp sang những nớc kém phát triển, đồng thời một số nớc cũng có
nhu cầu tiếp nhận các công nghệ có trình độ thấp để từng bớc tham gia thị
trờng thế giới và tạo cơ may tự điều chỉnh hành vi và tăng khả năng cạnh
tranh. Tình hình đó đã và đang đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ
và đầu t trực tiếp vào các nớc đang phát triển.
Tình hình thế giới nói trên đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ để nớc
ta không bị lạc hậu, mà cần phải biết tận dụng những lợi thế của các nớc đi
sau, đồng thời không để trở thành nơi tiếp nhận những công nghệ trình độ
thấp, gây ô nhiễm môi trờng và bị lệ thuộc vào nớc xuất khẩu công nghệ.
Nớc ta hiện vẫn còn là một nớc nghèo, mặc dù chúng ta đã đạt đợc
một số kết quả về mặt kinh tế, cũng nh về mặt xã hội. Xét theo yêu cầu thì
chúng ta còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa. So với các nớc ở trình độ phát
triển trung bình thì tổng sản phẩm trong nớc theo đầu ngời của ta còn thấp.
Đứng trớc thực trạng đó Đảng và Nhà nớc ta ngay từ đại hội Đảng lần
thứ VI đã quyết định chuyển đổi nền kinh tế nớc ta theo cơ chế thị trờng
định hớng Xã Hội Chủ Nghĩa nhằm xây dựng nớc ta thành một nớc Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá.
2. Đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và triển vọng
Để đất nớc phát triển năng động thì cần phải nhanh chóng xoá bỏ tình
trạng nớc nghèo, cần có chính sách đúng đắn để khơi dậy các nguồn tiềm
cấu kinh tế, trớc hết là cơ cấu ngành kinh tế. Song không phải mọi sự
chuyển dịch cơ cấu đều mang ý nghĩa tiến bộ, đều dẫn tới phát triển kinh tế
nh nhau. Xu thế chung là càng giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp thì nhịp độ
tăng trởng kinh tế càng lớn.
Chúng ta có thể thấy tình hình chuyển dịch cơ cấu công nghiệp mấy
năm gần đây ở nớc ta, nhất là ở các tỉnh phía Nam đã phát triển mạnh
những ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nh
công nghiệp điện tử, công nghiệp hoá chất, công nghiệp dệt, may mặcv v.
Qua đó đã tác động đến các ngành công nghiệp khác cũng phát triển, góp
phần nâng cao năng suất lao động xã hội.
Từ năm 1991 đến năm 1992 các ngành công nghiệp đều đi vào khôi
phục, có những ngành tăng trởng nhanh. Một số ngành có bớc phát triển vợt
bậc:
17
- Ngành Dầu khí Việt Nam đã có bớc phát triển cao với sản lợng dầu
thô vợt 100.000 thùng / ngày. Công nghiệp Than cũng đã bớc vào thị trờng
thế giới một cách mạnh mẽ với khối lợng 1,6 triệu tấn (1992).
- Nghành sản xuất Thiếc đã vợt chỉ tiêu 3000 tấn, gấp hai lần so với
dự tính đến năm 2000. Ngành sản xuất Điện phát triển mạnh, đạt mức sản
sản xuất 10 tỷ Kwh và đang tiếp tục phát triển mạnh. Ngành công nghiệp
dệt và may đã phát triển mạnh đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc và xuất khẩu.
Công nghiệp chế biến lơng thực, thực phẩm đã có bớc tiến mới gạo xuất
khẩu đạt 2 triệu tấn đứng thứ hai trên thế giới.
Thành quả 10 năm đổi mới đạt đợc mang một ý nghĩa quan trọng đối
với toàn Đảng, toàn Dân ta.kết quả ấy đợc tổng kết trong bảng sau:
Đơn vị
tính
Mục tiêu Thực hiện Thực hiện bình quân (%)
Mục
tiêu
% 4,0-4,2 4,5-5,0 2,9 6,6 3,5-4 5,9 5,8 5,4
Giá trị sản xuất
công nghiệp
%
9,5-
12,5
14-15 10,4 14,5 10,5-11 13,7 13,5 12,9
Giá trí sản xuất
dịch vụ
% Dec-13 10 11,2 4,5-5,0 10,1 6,8 8,2
- theo giá 1994 Ng.tỷ đ Gấp đôi 144,2 195,5 270,5 2 lần 2
- GDP bình
quân đầu ngời
Ng.đ
Gấp đôi
90
2127 2642 3469 1,8 1,8
Nhờ định hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lí của Đảng và Nhà nớc
mà nền kinh tế nớc ta đang ngày càng phát triển mạnh mẽ với tỉ lệ tăng tr-
ởng hàng năm đạt từ 7% đến 8% năm. Nền kinh tế nớc ta đang đợc đánh
18
giá là thị tr ờng tiềm năng của nền kinh tế thế giới đối với các nhà đầu t n-
ớc ngoài.
II. THựC TRạNG CƠ CấU TừNG NGàNH KINH Tế
1. Thực trạng cơ cấu ngành nông - lâm ng nghiệp
1.1. Vị trí , đặc đIểm của việc chuyển dịch cơ cấu ngành nông lâm
ng nghiệp ở nớc ta:
Nông Lâm Ng nghiệp là lĩnh vực sản xúât vật chất nhằm đáp
ứng nhu cầu thiết yếu về lơng thực, thực phẩm cho nhân dân, nguyên liệu
cho công nghiệp và nguồn hàng cho xuất khẩu.
Sản lợng lơng thực quy thóc Tr.Tấn 30-32 22,0 27,6 34
Sản lợng lơng thực / ngời Kg 370 324 372 436
Tỷ trọng cây CN/ngành trồng trọt % 45 - - 23,7
Tỷ trọng ngành chăn nuôi/ngành nông
nghiệp
% 30-35 - - 17,3
Bảo vệ rừng Tr.ha 9,3 - - 11
Diện tích rừng tăng thêm Tr.ha 2,5 - - 1,0
Trong đó: rừng trồng mới Tr.ha 1,0 - - 1,0
Độ che phủ của rừng % 40 - 33
Sản lợng thuỷ sản Tr.tấn 1,6-1,7 - 1,5 1,9
Trong đó: sản lợng nuôi trồng 1000tấn 500-550
Diện tích nuôI trồng thuỷ sản 1000tấn 600
Xuất khẩu thuỷ sản Tỷ USD 1-1,1 1050
Nông nghiệp đạt đợc tốc độ tăng trởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh
vực. Trong 10 năm (1991 - 2000) giá trị sản lợng toàn ngành tăng bình quân
hàng năm 5,4%, vợt mục tiêu đề ra trong chiến lợc (mục tiêu chiến lợc là 4
- 4,2%), trong đó nông nghiệp tăng 5,4% (lơng thực tăng 4,2 - 4,3%, cây
công nghiệp 10%, chăn nuôi 5,4%); thuỷ sản tăng 9,1%; lâm nghiệp tăng
2,1%. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đã tăng nhanh. Năm 1990 là 1,149
tỷ USD, năm 1999 là 4,42 tỷ USD, năm 2000 dự kiến 4,7 tỷ USD, chiếm
37,6% kim ngạch xuất khẩu cả nớc. Bình quân thời kỳ 1991-1999 tăng
16%/năm, dự kiến 1991-2000 tăng 15,0%.
Diện tích một số cây công nghiệp tăng khá nh cà phê, năm 2000 tăng
gấp 5,4 lần so năm 1990; cao su tăng 4,5 lần; chè tăng khoảng 2 lần; mía
tăng 3 lần; bông tăng 8,1 lần;
Ngành thuỷ sản chiếm 10-12% giá trị sản lợng nông nghiệp. Sản lợng
thuỷ sản tăng bình quân hàng năm trên 8,8%, trong đó sản lợng nuôi trồng
20
tăng 13%/năm. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng bình quân 17,7%/năm
trồng, vật nuôi nói chung còn thấp chỉ bằng 30-50% so các nu'ớc tiên tiến.
Tổn thất khâu thu hoạch còn lớn trung bình của lúa là 13-16%, lúa hè thu ở
ĐBSCL 18-20%, rau và quả trung bình 20%.
Cơ cấu nông lâm ng nghiệp cha thoat khỏi tình trạng độc canh, tự
túc,tự cấp, trình độ sản xuất hàng hoá còn thấp, tính chất quảng canh còn
phổ biến và hiệu quả kém. Thu nhập chủ yếu của ngời dân đều có đợc từ
cây Lúa và cây lơng thực, nhiều loại cây rau quả là thế mạnh vùng nhiệt đới
cha đợc phát huy.
Ba ngành nông - lâm - ng nghiệp cha có đợc sự gắn kết cần thiết
trong một cơ cấu kinh tế thống nhất. Trong suốt một thời gian dài chúng ta
tập trung sản xuất lơng thực bằng bất cứ giá nào, ở mọi miền đất nớc khiến
cho rừng bị tàn phá nghiêm trọng làm cho suy giảm nguồn tài nguyên thiên
21
nhiên trầm trọng. Nhìn chung chúng ta cha biết phối hợp sản xuất nông -
lâm - ng nghiệp một cách thống nhất điều này dẫn tới sự lãng phí nhiều
nguồn lực sẵn có.
Cơ cấu nông -lâm - ng nghiệp cha gắn chặt với cơ cấu nông thôn.
Ngành nông - lâm - ng nghiệp phát triển chủ yếu ở những vùng nông thôn
rộng lớn và gắn chặt với kinh tế nông thôn. Nhng kinh tế nông thôn không
thể chỉ bao gồm có ngành nông - lâm - ng nghiệp, mà phải bao gồm cả
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông liên lạc, thơng mại - dịch vụ,
tài chính - ngân hàng. Nhng đời sống phần lớn vùng nông thôn mang nặng
kinh tế nông nghiệp đơn thuần hoặc nông - lâm - ng nghiệp.
Chính sách kinh tế xã hội cha thích hợp và đồng bộ đã gây ra nhiều trở
ngại cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ. Nh chính sách
đầu t cho nông nghiệp cha thoả đáng, cơ sở hạ tầng nông nghiệp cha đợc
quan tâm đúng mức nhất là thuỷ lợi, hệ thống tín dụng cha tiếp cận đợc với
ngời dân v v. Những điều này gây ảnh hởng lớn đến sản xuất nông nghiệp
của đất nớc ta.
2. Thực trạng cơ cấu ngành công nghiệp
13%/năm so với mục tiêu đề ra là 9,5% - 12,5%, trong đó, thời kỳ 1991 -
1995 tăng 13,7%/năm, thời kỳ 1996 - 2000 dự kiến tăng 12,2%/năm. Công
nghệ sản xuất của một số ngành sản xuất vật chất chủ yếu đã có những đổi
mới, trình độ công nghệ đợc nâng lên một bớc.
Công nghiệp quốc doanh đợc tổ chức sắp xếp lại, tăng cờng đầu t
chiều sâu, đổi mới thiết bị nên đã có bớc tiến đáng kể, số lợng và chất lợng
sản phẩm đều tăng. Giá trị sản xuất công nghiệp quốc doanh tăng bình quân
hàng năm 11,7% thời kỳ 1991-2000, trong đó thời kỳ 1991 - 1995 tăng
bình quân 13,4%/năm, thời kỳ 1996 - 2000 tăng bình quân 10%/năm.
Công nghiệp ngoài quốc doanh đợc khuyến khích phát triển trong
những lĩnh vực mà Nhà nu'ớc không cấm với mọi quy mô và trên tất cả các
địa bàn, nhng tốc độ phát triển cha tơng xứng với tiềm năng. Giá trị sản
xuất công nghiệp ngoài Quốc doanh tăng bình quân 10 năm (1991-2000) là
9,15%/năm, trong đó thời kỳ 5 năm (1991 - 1995) tăng bình quân 10,6%,
thời kỳ 5 năm (1996 - 2000) tăng bình quân 7,7%.
Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài phát triển khá nhanh, chủng
loại sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, chất lợng tăng nhanh, đóng
góp đáng kể vào mục tiêu tăng trởng, vào việc nâng cao trình độ công nghệ
và trình độ quản lý của nền kinh tế. Giá trị sản xuất của các doanh nghiệp
có vốn đầu t nớc ngoài bình quân 10 năm qua tăng 22,3%, trong đó thời kỳ
5 năm (1991 - 1995) tăng bình quân 24,20%, thời kỳ 5 năm (1996 - 2000)
tăng bình quân 20,40%.
Nhiều sản phẩm quan trọng có ý nghĩa chiến lợc, có tác động lớn đến
nhiều ngành kinh tế đều có tốc độ tăng trởng khá, đáp ứng đầy đủ nhu cầu
trong nớc, không những đã thay thế đợc hàng nhập khẩu, tiết kiệm đợc
ngoại tệ mà còn đóng góp đáng kể vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu cho
đất nớc. Kết quả sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chính nh sau:
23
Đơn vị
đến 31/12/1998 là 4937 Mw, sản lợng điện phát ra năm 1999 tăng gấp 2,7
lần so với năm 1990 (năm 1990 là 8,79 tỷ Kwh, năm 1999 là 23,81 tỷ
Kwh), dự kiến năm 2000 đạt sản lợng trên 26 tỷ Kwh. Với công suất và sản
lợng điện nh hiện nay đã đảm bảo cung cấp đủ và ổn định cho các nhu cầu
của nền kinh tế. Các công trình lu'ới điện đợc đầu t đồng bộ và bám sát các
mục tiêu quan trọng phục vụ sản xuất, an ninh quốc phòng cũng nh các
mục tiêu xã hội. Đến năm 2000, có thể đạt đợc mục tiêu 100% số huyện và
80% số xã, phờng trên toàn quốc có điện. Ngành điện đã thực sự trở thành
nhân tố quan trọng làm tiền đề cho sản xuất và đời sống phát triển.
Than: Từ mức 4,62 triệu tấn than sạch năm 1990, đã đạt sản lợng 11,3
triệu tấn năm 1998 (xuất khẩu gần 3,2 triệu tấn), và dự kiến 10 triệu tấn
24
năm 2000 (xuất khẩu trên 3,5 triệu tấn). Do nhu cầu than trong nớc không
tăng, tồn kho lớn, thị trờng xuất khẩu (phần lớn là thị trờng Nhật bản) có
biến động nên từ năm 1999 chính phủ đã phải chủ động giảm sản lợng khai
thác xuống còn khoảng 10 triệu tấn mỗi năm, trong đó dành để xuất khẩu
3,5 triệu tấn.
Thép: từ 2 khu liên hợp luyện cán thép Thái Nguyên và Biên Hoà trớc
đây, chúng ta đã xây dựng đợc một ngành công nghiệp luyện cán thép khá
phong phú bằng nhiều nguồn vốn khác nhau: vốn liên doanh liên kết, vốn
đầu t trực tiếp nớc ngoài, vốn tự có của các doanh nghiệp, vốn vay Đến
nay, công suất thiết kế của ngành đạt khoảng 2 triệu tán thép cán; sản lợng
thép thơng phẩm năm 1999 là 1,22 triệu tấn và dự kiến năm 2000 đạt 1,4
triệu tấn. Sản lợng phôi thép tơng ứng năm 1999 là 250.000 tấn (năm 1990
chỉ sản xuất 140.000 tấn thép thơng phẩm và 100.000 tấn phôi thép). Nhìn
chung, hiện nay ngành thép đã đảm đơng đợc nhiệm vụ cung cấp đủ các
loại thép xây dựng thông thờng cho các nhu cầu tiêu dùng và sản xuất.
Xi măng: năm 1999 tổng công suất thiết kế các nhà máy xi măng đạt
18 triệu tấn, đến năm 2000 đạt khoảng 22 - 25 triệu tấn. Tuy vậy, do thị tr-
ờng hạn hẹp nên sản lợng sản xuất năm 2000 dự kiến chỉ đạt trên dới 11,5