LUẬN VĂN: Vấn đề tôn giáo và chính sách đối với tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:
Vấn đề tôn giáo và chính sách
đối với tín ngưỡng, tôn giáo ở nước
ta hiện nay

với mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của các quốc gia dân tộc.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo và đang phát
triển.
Nghiên cứu về tôn giáo sẽ góp phần quan trọng để nhận thức và thực hiện quan
điểm đổi mới của Đảng về tôn giáo, góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, phát
huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
Chương 1
Nguồn gốc bản chất của tôn giáo
và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

1.1. Bản chất, nguồn gốc tôn giáo
1.1.1. Bản chất
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng đa chiều, vì vậy các khái niệm về tôn
giáo, tín ngưỡng và mê tín dị đoan là những vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau nhưng
lại có quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, tiếp cận tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan
mang tính tương đối về ranh giới và thuộc tính.
Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những điều thiêng liêng, huyền bí vượt
khỏi giới tự nhiên. Còn tôn giáo là tín ngưỡng của những người cùng chung một tổ chức
có hệ thống giáo lý, giáo luật và lễ nghi.
Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và vẫn tồn tại
cho đến ngày nay. Trên thực tế, mê tín dị đoan thường xen vào trong các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo. Mê tín dị đoan là niềm tin mù quáng vào những điều nhảm nhí có thể
làm cho con người bị hủy hoại cả tinh thần, sức khoẻ, tài sản, tính mạng của cá nhân, gia
đình và xã hội.
Do vậy cùng với việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân
thì nhà nước và xã hội cần phải quan tâm giáo dục, vận động từng bước loại bỏ dần mê

ánh đa dạng phong phú của hình thức quy định khả năng nhận thức đầy đủ, sâu sắc thế
giới khách quan. Nhận thức phải theo một quá trình từ cảm giác, tri thức, biểu tượng,
khái niệm, phán đoán đến suy lý không chỉ tạo ra khả năng nhận thức đầy đủ về thế giới
mà còn có khả năng phản ánh sai lầm và xa rời hiện thực.
1.2. Cơ sở tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta đang tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần phản ánh
lợi ích khác nhau của các tầng lớp xã hội. Sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội vẫn là một thực tế khách quan.
- Sự rủi ro cho con người trước tự nhiên, xã hội còn nhiều.
- Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, giai tầng xã hội diễn ra với nhiều hình thức
khác nhau, vừa tinh vi, vừa đa dạng phức tạp nhất là về tư tưởng.
- Âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch thường gắn với việc truyền bá, lợi
dụng vấn đề tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nước ta.
- Bản thân các tôn giáo ở nước ta đã gắn bó với dân tộc trong suốt quá trình lịch sử
và ngày nay vẫn có giá trị đáp ứng ở mức độ nhất định nhu cầu văn hóa, tinh thần, đạo
đức, lối sống của xã hội.
Vì vậy trong thời kỳ quá độ ở nước ta, tôn giáo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển, là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin
về tôn giáo, biểu hiện ở một số nội dung sau:
1.3.1. Tư tưởng đoàn kết lương giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, đoàn kết các tôn giáo với nhau
nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người. Đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí
Minh là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giai
cấp Đoàn kết là một chiến lược lâu dài của cách mạng chứ không phải là khẩu hiệu nhất

người. Năm 1945 chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập ở Quảng trường Ba
Đình, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đề nghị
Chính phủ ta tuyên bố "tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết".
Trước sự xuyên tạc của kẻ thù về chính sách tôn giáo, Hồ Chí Minh khẳng định
"Vấn đề tôn giáo thì Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn tôn trọng quyền tự do tín
ngưỡng của mọi người".
2. Nội dung cơ bản về tự do tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh:
- Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ tự của nhân dân, không ai được
xâm phạm.
- Tôn trọng tự do tín ngưỡng nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ lợi dụng tôn
giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
- Tôn trọng tự do tín ngưỡng đi đôi với bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống
văn hóa mới, xây dựng thuần phong mỹ tục.
- Phải tế nhị, tránh thô bạo trong việc thực hiện xây và chống bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng và bài trừ mê tín dị đoan trong xã hội.

Chương 2
Đặc điểm tôn giáo Việt Nam và phương hướng
công tác tôn giáo của Nhà nước ta hiện nay 2.1. Tình hình, đặc điểm tôn giáo Việt Nam
2.1.1. Việt Nam là một nước đa tín ngưỡng, tôn giáo
Việt Nam là một quốc gia nằm ở ngã ba của Đông Nam châu á, là nơi giao lưu của

- Có tôn giáo cùng một lúc thờ đa thần cả thần, thánh, tiên, phật như Phật giáo đại
thừa và điển hình là đạo Cao Đài.
- Người dân Việt Nam cũng thờ đa thần, cả tổ tiên, phật, thần, thổ công, ông táo
- Ngày lễ của các tôn giáo ngày càng được mọi tầng lớp nhân dân tham gia như là
những hình thức văn hóa cộng đồng hướng tới các giá trị tinh thần, tâm linh lành mạnh.
Sự phân biệt tôn giáo không gay gắt.
2.1.3. Yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và tập quán sản xuất nông
nghiệp lúa nước, gắn với sự đề cao vai trò phụ nữ trong gia đình với tư cách là tính âm -
đất - mẹ - biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở, bền vững, trường tồn, bao dung.
Do vậy Phật giáo, Khổng giáo, Ki tô giáo vào Việt Nam đều được Việt hoá thành
yếu tố nữ như Phật bà, Thánh mẫu, Bà chúa Liễu, Bà chúa Kho, tượng Phật bà quan âm;
Nơi Đức mẹ giáng trần ở La Vang Quảng Trị; Bà chúa nữ ở An Giang, Bà chúa đen ở
Tây Ninh
Yếu tố nữ hoá trong hệ thống tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam thể hiện bản sắc văn
hóa, tôn trọng phụ nữ của Việt Nam trở thành nhân tố trội trong việc giao lưu, tiếp biến,
Việt hoá các tôn giáo lớn khi vào Việt Nam, đó là tính đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
2.1.4. Thần thánh hoá những người có công với gia đình, làng, nước
Hơn 12 thế kỷ chống ngoại xâm, dân tộc ta đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết
dân tộc và truyền thống "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây". Nên tín
ngưỡng tôn giáo Việt Nam luôn thấm đượm tinh thần ấy.
Tục xây dựng nhà thờ thành hoàng làng để ghi ơn những người có công khai đất
mở làng.
Những vị Vua, Quan hiền tài có công dẹp giặc, cứu nước, khoan dân đều được
nhân dân tôn vinh xây đền thờ để tưởng nhớ, hay những người đổ đạt cao trong thiên hạ
cũng được nhân dân tôn vinh.
Thành hoàng có cả nam hay nữ, có vị là con người lịch sử nhưng có vị là con

xã hội nói chung và đối với công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ. Đảng và
Nhà nước ta nhất quán quan điểm:
1. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.
2. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do theo hoặc
không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật.
3. Thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo
và không theo tôn giáo, giữ gìn và phát huy bản sắc, truyền thống văn hóa của dân tộc đề
cao các giá trị tích cực của tục thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ
quốc và nhân dân.
Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì các lý do tôn giáo tín ngưỡng, đồng thời
nghiêm cấm lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín đị doan, hoạt động
trái pháp luật, chia rẽ dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
4. Công tác tôn giáo là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của các
tổ chức đảng và bộ máy nhà nước, của các cấp các ngành các địa phương và cơ sở; của
các tổ chức tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
5. Có chính sách cụ thể đối với vấn đề truyền đạo của tôn giáo.
2.2.2. Một số nhiệm vụ của công tác tôn giáo
1. Thực hiện có hiệu quả chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo.
2. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống "tốt đời đẹp đạo"
trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở.
3. Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác và phối hợp đấu tranh
làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo dân tộc để phá
hoại đoàn kết dân tộc.
4. Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lối đối


Chủ động đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo vào mục đích
chính trị của các thế lực thù địch.
4. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo.
Đến nay hệ thống tổ chức và cán bộ làm công tác tôn giáo đã được hình thành từ
Trung ương đến cấp huyện. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đã nghiên cứu quán
triệt đường lối quan điểm của Đảng và pháp luật về tôn giáo. Tham mưu cho Chính phủ,
chính quyền địa phương trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.
Tuy nhiên, công tác tôn giáo là một vấn đề lớn và cực kỳ khó khăn bởi vì mỗi tôn
giáo có hệ thống tổ chức, giáo lý, tín đồ và phương thức sinh hoạt khác nhau. Giá trị tinh
thần, đức tin của mỗi tôn giáo khác nhau, do vậy cán bộ làm công tác tôn giáo cần phải
được đào tạo cơ bản về trình độ chuyên môn, chuyên sâu về lĩnh vực, mặt khác phải có
tấm lòng thực sự tôn trọng, hoà đồng, hoà mục, gắn bó với đồng bào tôn giáo, chức sắc,
chức việc và phải có năng lực vận động quần chúng, am hiểu sâu văn hóa đông, tây,
truyền thống dân tộc Thì mới thực sự góp phần giúp Đảng và Nhà nước ta thực hiện tốt
công tác tôn giáo.
Trong thực tiễn ở cơ sở, nhận thức mới về tôn giáo theo pháp lệnh tôn giáo chuyển
biến chậm, nhiều nơi vẫn "nói một đường, làm một nẻo"; nói đến tôn giáo thì luôn có tư
tưởng thiếu thiện chí, gây khó khăn, cản trở ít tạo điều kiện cho bà con trong việc thực
hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Việc vận dụng chính sách tôn giáo trong việc giải
quyết các vấn đề cụ thể ở cơ sở xung quanh thủ tục hành chính còn quá nhiều khó khăn
trở ngại, gây tâm lý không vui trong một bộ phận nhân dân có đạo.
Mặt khác cũng có nơi buông lỏng sự quản lý, không sát thực tiễn, tạo điều kiện
cho việc lợi dụng tôn giáo để xây dựng cơ sở thờ tự trái pháp luật hoặc cho truyền đạo sai
quy định, lợi dụng tôn giáo để tập hợp lực lượng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Vì vậy, cần tiếp tục được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội
ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
cũng tôn trọng và kế thừa các giá trị cao đẹp của các tôn giáo đồng thời đồng bào theo
đạo cũng tích cực tham gia vào hoạt động của cộng đồng với bổn phận công dân của
mình. Những bậc hiền tài có công với dân với nước được cả những người có đạo và
không có đạo sùng tín như tôn giáo.
Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, từ thực tiễn của đất nước
và các giá trị của tôn giáo, Đảng, Nhà nước ta đổi mới nhận thức và thừa nhận tôn giáo là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đã, đang tồn tại lâu dài với sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nhà nước đã ban hành pháp lệnh tôn giáo năm 2004 và
Nghị định hướng dẫn thi hành pháp lệnh tôn giáo năm 2005 để cụ thể hoá đường lối của
Đảng. Đó là cơ sở pháp luật cao nhất về chính sách tôn giáo của nhà nước ta.
Pháp lệnh tôn giáo ra đời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật của
nhân dân, đưa công tác quản lý nhà nước về tôn giáo đi vào nề nếp. Góp phần cùng với
các tầng lớp nhân dân trong các tôn giáo đề cao cảnh giác làm thất bại mọi âm mưu lợi
dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Tin tưởng rằng với chính sách mới về tín ngưỡng, tôn giáo sẽ góp phần làm cho
các tôn giáo ở Việt Nam phát huy mặt tích cực, tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trên con
đường xây dựng đất nước phồn vinh vì tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tài liệu tham khảo 1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, 2002.
2. Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, BCHTW khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status