Tài liệu Luận văn tốt nghiệp ''''Thực trạng và giải pháp kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta hiện nay." - Pdf 10

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Thực trạng và giải pháp kinh tế tư bản tư nhân
ở nước ta hiện nay
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
1
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA 4
I. CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 4
II . CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC KINH DOANH CƠ BẢN 5
Chương II: VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN 9
I. GÓP PHẦN QUAN TRỌNG ĐỂ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 9
II. TẠO VIỆC LÀM VÀ XOÁ ĐÓI GẢM NGHÈO 11
III. ĐÓNG GÓP VÀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN VỐN TRONG XÃ HỘI
NỘP NGÂN SÁH NHÀ NƯỚC 13
IV. THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ XÃ
HỘI, CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 14
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ
NHÂN HIỆN NAY 17
I. KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TĂNG VỀ MẶT SỐ LƯỢNG 17
II. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN THEO NGÀNH NGHỀ
TỔ CHỨC KINH DOANH 19
III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN THEO VÙNG, LÃNH
THỔ 23
IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ VỐN, LAO ĐỘNG TRONG SẢN XUẤT
KINH DOANH 23
CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN 27


3
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I. CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Thành phần kinh tế cá thể ,tiểu chủ.
Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả
năng lao động của bản thân người lao động.
Kinh tế tiểu chủ cũng chính là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản
xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức
lao động và vốn của bản thân và gia đình.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở
nông thôn và thành thị, có điều kiện phat huy nhanh tiềm năng về vốn sức lao
động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. Do đó, việc mở rộng sản
xuất, kinh doanh của kinh tế cá thể và tiểu chủ cần được khuyến khích.
Hiện nay, ở nước ta, thành phần kinh tế này phần lớn hoạt động dưới hình thức
hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan
trọng ,lâu dài. Đối với nước ta, cần phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế này để
vừa góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết nhiều việc
làm cho người lao động - một vấn đề bức bách hiện nay của đời sống kinh tế xã
hội. Trong những năm gần đây, thành phần kinh tế này phát triển nhanh chóng
trong nông lâm ngư nghiệp và thương mại, dịch vụ. Nó đã góp phần quan trọng
vào các thành tựu kinh tế xã hội. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, kinh tế cá thể
tiểu chủ dù cố găngs đến bao nhiêu cũng không loại bỏ được những hạn chế vốn
có như: tính tự phát , manh mún, hạn chế về kỹ thuật. Do đó Đảng ta chỉ rõ: cần
giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ, giải quyết các vấn đề khó khăn về vốn, về khoa
học kỹ thuật và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX viết: “ Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển,
khuyến khích các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh

nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành
lập làm chủ. Cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng
thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường chủ doanh
nghiệp là giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhưng cũng có trường hợp vì những lí do cần thiết, chủ doanh nghiệp không trực
5
tiếp điều hành hoạt động kinh doanh mà thuê người khác làm giám đốc. Nhưng
dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân quản lý và tự chịu trách nhiệm không có sự
phân chia rủi ro với ai
Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiêm vô hạn về các khoản nợ trong kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu làm
ăn phát đạt thu được nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được hưởng toàn bộ số
lợi đó. Ngược lại, nếu gặp rủi ro hay kinh doanh bị thua lỗ, họ phải chịu trách
nhiệm bằng chính tài sản của doanh nghiệp.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp có không quá 50 thành viên góp
vốn thành lập công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài
sản của mình.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chỉ có một thành viên.
Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụtài sản khác của
công ty bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn). Thành viên công ty chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghiac vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên thì chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công
ty. Như vậy, trong công ty trách nhiệm hữu hạn có sự phân tách tài sản: tài sản
của công ty và tài sản của thành viên. Nguyên tắc phân tách được áp dụng trong
mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty.

Công ty hợp danh được pháp luật ghi nhận là một hình thức của công ty đối nhân,
trong đó có ít nhất 2 thành viên (đều là cá nhân và là thương nhân) cung tiến hành
hoạt động thương mại (theo nghĩa rộng) dưới một hãng chung (hay hội danh) và
cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty.
Ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp
danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành
viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số
vốn đã góp vào công ty.
Do tính an toàn pháp lý đối với công chúng cao, mặt khác các thành viên thường
có quan hệ mật thiết về nhân thân, nên việc quản lý công ty hợp danh chịu rất ít
sự ràng buộc của pháp luật. Về cơ bản, các thành viên có quyền tự thoả thuận về
7
việc quản lý, điều hành công ty. Tuy nhiên cần lưu ý là quyền quản lý công ty
hợp danh chỉ thuộc về các thành viên hợp danh, thành viên góp vốn không có
quyền quản lý công ty
Trong công ty hợp danh , Hội đồng thành viên là cơ quan quyết định cao nhất của
công ty bao gồm tất cả các thành viên hợp danh. Hội đồng thành viên có quyền
quyết định mọi hoạt động của công ty. Khi họp Hội đồng thành viên, các thành
viên hợp danh có quyền ngang nhau trong biểu quyết (mỗi thành viên chỉ có một
phiếu biểu quyết) mà không phụ thuộc vào giá trị phần vốn góp của họ trong
công ty. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa quyền của các thành viên trong uản lý
của công ty hợp danh với quyền của các thành viên trong quản lý công ty đối vốn
(công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần).
Trong quá trình hoạt động của công ty, các thành viên hợp danh phân công nhau
đảm nhiệm các trức trách quản lý và kiểm soat công ty, và cử một người (trong số
thành viên hợp danh ) lam Giám đốc công ty. Giám đốc thực hiện nhiêm vụ điều
hành công việc trong công ty, phân công, điều hoà, phối hợp công việc của các
thành viên hợp danh và thực hiên các công việc khác theo uỷ quyền của các thành
viên hợp danh.

- Tổng số doanh nghiệp
+ Doanh nghiệp nhà nước
+ Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh, trong đó:
- Hợp tác xã
- Doanh nghiệp tư nhân
+ Công ty tư nhân
+ Công ty cổ phần
+ Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài

39.762
5.531
32.702
3.187
18.226
10.489
800
1.529
51.057
5.067
43.993
3.614
22.554
16.189
1.636
1.997
62.892
5.033
55.555

Từ năm 1996 đến nay , số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư
nhân chỉ giảm trong năm 1997 , còn lại đều tăng .
Thời điểm 31-12-2000 số lượng lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân là
4.643.844 người , chiếm 12%tổng số lao động xã hội ,bằng 1,3 lần tổng số việc
làm trong khu vực kinh tế nhà nước .Lao động của hộ kinh doanh cá thể là
3.802.057 người , của các doanh nghiệp tư nhân là 841.787 người .
Sự gia tăng của các doanh nghiệp tỷ lệ thuận với sự gia tăng về số lượng lao động
phù hợp với trình độ kỹ thuật của lao động , việc sử dụng lao động tại chỗ của
khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã giảm bớt khâu giải quyết nơi ăn ở , các điều
kiện cơ sở hạ tầng khác như phương tiện giao thông , trường học trạm xá…. , tình
trạng thất nghiệp dã giảm dần .
Trong 5 năm 1996-2000 lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng thêm
778.681 người (tăng 20,4%). Trong đó số lao động trong các doang nghiệp tư
nhân tăng thêm 487.459 người (tăng 237,57%); số lao động ở hộ kinh doanh cá
thể tăng thêm 292.222 người (tăng 8,29%). Số lao động qua thực tế khảo sát ở hộ
kinh doanh cá thể lớn hơn nhiều so với số đăng ký vì nhiều hộ gia đình chủ yếu
sử dụng số lao động trong dòng họ , lao động mang tính thời vụ và lao động nông
nhàn không thể hiện trong báo cáo thống kê. Tình hình thu hút lao động trong
những năm qua thể hiện rất rõ rệt qua bảng :
Tình hình thu hút lao động trongkhu vực kinh tế tư bản tư nhân trong những năm
qua.
(tính đến thời điểm 31-12 hàng năm)
1996 1997 1998 1999 2000
Lao động (người) 3.865.1633.666.942 3.816.9424.097.455 4.643.844
Tốc độ phát triển liên
hoàn(%)
100 94,87 104,09 107,35 113,33
Tốc độ tăng liên hoàn(%) -5,13 4,09 7,35 13,33
% trong tổng lao động xã hội 11,2 10,3 10,3 10,9 12,0
11

vực kinh tế tập thể . Thu nhập trung bình của 1 lao động trong khu vực kinh tế tư
bản tư nhân cao gấp 2đến 3 lần so với mức lương cơ bản của Nhà nước quy định .
12
III. ĐÓNG GÓP VÀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN VỐN TRONG XÃ HỘI NỘP NGÂN
SÁH NHÀ NƯỚC .
1. Huy động các nguồn vốn trong xã hội sử dụng vào sản xuất kinh doanh .
Trong 10 năm gần đây, vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh, chiếm tỷ lệ
cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Năm 1999 tổng vốn đầu tư khu vực kinh tế
tư bản tư nhân đạt 31.542 tỷ đồng chiếm 24,05%; năm 2000 đạt 35.894 tỷ đồng,
tăng 13,8% so với năm 1999, chiếm 24,31% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Năm 2000 vốn đầu tư của hộ kinh doanh cá thể đạt 29.267 tỷ đồng, chiếm
19,82% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp tư
nhân đạt 6.627 tỷ đồng, chiếm 4,49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Tổng vốn sử dụng thực tế của khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng nhanh. Đối
với các doanh nghiệp tư nhân năm 1999 là 79.493 tỷ đồng, năm 2000là 110.071
tỷ đồng, tăng 38,5%. Các địa phương tăng mạnh vốn sử dụng thực tế của doanh
nghiệp là Hà Nội từ 10.164 tỷ đồng (năm1999) tăng lên 16.573 tỷ đồng
(năm2000), tăng 63,05%; tương ứng ở thành phố Hồ Chí Minh từ 36.954 tỷ đồng
tăng lên 52.353 tỷ đồng, tăng 41,67%…
Trong hai năm 2001-2002, sau khi có luật doanh nghiệp ra đời, số doanh nghiệp
tư nhân ra đời 35.440,với số vốn đăng ký đạt 40.455 tỷ đồng, nhiều hơn số doanh
nghiệp tư nhân được thành lập trong 5 năm trước cộng lại .
Năm 2003 , khu vực kinh tế tư bản tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ. Khu
vực kinh tế tư bản tư nhân chiếm 26,7% tổng vốn đầu tư phát triển, hầu hết giá trị
nông nghiệp, chiếm 25,5% giá trị công nghiệp, phần lớn giá trị dịch vụ, 48% kim
ngạch xuất khẩu.
2. Đóng góp phần lớn vào ngân sách nhà nước.
Với sự phát triển nhanh chóng của khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp
rất lớn vào sự phát triển của đát nước, với số vốn huy động lớn trong toàn xã hội,
khu vực kinh tế tư bản tư nhân đã đóng góp ngày càng tăng vào ngân sách nhà

đến năm 2000 số doanh nghiệp tư nhân tham gia xuất khẩu trực tiếp tăng lên
16.200 doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã xuất khẩu được những sản
phẩm từ hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến (như cá khô đi Nhật Bản, cá
kho tộ đi Mỹ…), đến cả rơm sạch là những mặt hàng mà các doanh nghiệp nhà
nước chưa quan tâm đến. Vì thế khu vực ngoài quốc doanh trong nước từ chỗ chỉ
chiếm 11% giá trị xuâts khẩu vào năm 1997 nhưng đến quýI-2002 đã tăng lên
khoảng 31% (không tính giá trị xuất khẩu dầu thô). Gýa trị xuất khẩu từ mức
14
khoảng 5% đã tăng lên 24% trong các thời điểm tương ứng (thời báo Kinh tế
Việt Nam số 66 ngày 3-6-2002).
Các doanh nghiệp , công ty đăng ký sản xuất kinh doanh theo pháp luật và được
tự do sản xuất kinh doanh tự do chọn mặt hàng sản xuất hay kinh doanh. Thị
trường Việt Nam với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế tư bản tư nhân đã tạo
ra môi trường hợp tác trên cơ sở 2 bên cùng có lợi và cạnh tranh dưới sự quản lý
của nhà nước tạo điều kiện phat triển nhanh chóng kinh tế Việt Nam , hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư bản tư nhân góp phần thu hút được nhiều
lao động ở nông thôn vào các ngành phi nông nghiệp, nhất là công nghiệp đã giúp
chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
đât nước.
Khu vực kinh tế tư bản tư nhân tăng về số lượng và khẳng định vị trí của mình
trong nền kinh tế . Nếu như trước đây , kinh tế tư bản tư nhân không được thừa
nhận, bị coi là đối tượng của cách mạng XHCN, phải đựơc cải tạo xoá bỏ, với tư
tưởng như thế trong giai đoạn đó kinh tế tư bản tư nhân vẫn chua được phát triển mà
hầu như còn bị vùi dập , kinh tế đất nước với sự hiện diện toàn bộ bởi kinh tế tập thể
với cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Từ đường lối đổi mới (Đại hội
6 của Đảng tháng 12.1986) khẳng định xây dựng phát triển nền kinh tế nước ta với
cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu dài thì kinh tế tư
bản tư nhân đựơc phát triển rất mạnh mẽ, tạo cho cơ cấu kinh tế có xu hướng

Những người kinh doanh thương nghiệp những năm 1980cũng ở mức 60 vạn.
Năm 1980:63,7 vạn; năm 1985: 63,7 vạn; năm 1986: 56,8 vạn.
Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể rất bền bỉ, sự hiện diện
của thành phần kinh tế này trong suốt thời gian dà như một tất yếu khách quan, cần
phải biết sử dụng mặt tích cực của nó làm cho dân giàu, nước mạnh.
2. Thời kỳ sau năm 1986.
Từ đường lối đổi mới (đại hội VI của Đảng 12-1986) khẳng định xây dựng, phát
triển nền kinh tế nước ta với cơ cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế tồn tại lâu dài. Nghị quyết trung ương khoá VI ghi rõ:”Chính sachs kinh tế nhiều
thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tinh quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản
xuất lớnXHXN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế”, “Tư nhân được kinh
doanh không hạn chế về quy mô địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà
pháp luật không cấm”.
Nhờ có chính sách đổi mới kinh tế tư bản tư nhân được thừa nhận và tạo điều
kiện phát triển, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế của đất nước.
17
Trong công nghiệp tư nhân đã đầu tư thêm vốn để mở rộng các cơ sở hiện có,
hoặc xây dựng thêm các cơ sở mới. Năm 1988 khu vực này đầu tư thêm 80 tỷ
đồng, thành lập thêm 17.000 cơ sở, trong đó cá 46 xí nghiệp tư nhân; 1.100 cơ sở
tiểu thủ công nghiệp và hơn 15.000 hộ cá thể. Năm 1989 số vốn đầu tư tăng thêm
102 tỷ đồng, số xí nghiệp tư nhân tăng gấp 4 lần so với năm 1988(từ 318 xí nghiệp
tăng lên 1.284 xí nghiệp); hộ tiểu thủ công nghiệp và cá thể từ 31,85 vạn lên 33,33
vạn, tăng 4,6%. Trong hai năm 1990-1991 số vốn tăng thêm mỗi năm khoảng 100
tỷ đồng. Năm 1989 thành phần kinh tế tư bản tư nhân thu hút thêm 39,5 nghìn lao
dộng .
Năm 1990 đã ban hành Luật công ty và luật doanh nghiệp, đã tạo động lực cho
khu vực kinh tế tư bản tư nhân tiếp tục phát triển. Năm 1991 so với năm 1990 tăng
thêm 4.000 cơ sở và lao động tăng thêm 10 nghìn người. Tỷ trọng giá trị sản lượng
công nghiệp khu vực tư nhân, cá thể chiếm trong giá trị tổng sản lượng toàn ngành
công nghiệp tăng khá nhanh năm 1986 là:15,6% thì đến năm 1990 là:26,5%.

1. Trong lĩnh vực nông nghiệp.
Cùng với sự đổi mới trong kinh tế hợp tác, các Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Đầu
tư trong nước, Luật Thương mại thông qua vào đầu những năm 90 đã tác động rất
mạnh vào khu vực nông nghiệp, tới hàng triệu nông dân Việt Nam. Kinh tế hộ gia
đình nông dân, kinh tế trang trại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có tính
chất công nghiệp ở nông thôn (ngành nghề truyền thống, các doanh nghiệp xây
dựng, dịch vụ…) phát triển rất mạnh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặt của nhièu
vùng nông thôn. Nếu như năm 1990, số kượng các hộ cá thể có khoảng trên 9,4
triệu hộ thì đến năm 1995 đã lên tới 11.974.595 hộ hoạt động trên gần 9.000 xã
trong khắp 7 vùng sinh thái. Trong đó, số hộ nông nghiệp là 9.528.896 hộ ( chiếm
79,58%); hộ lâm nghiệp 18.156 hộ (0,15%); hộ thuỷ sản:229.909 hộ (1,92%); hộ
công nghiệp:160.370 hộ (1,34%); hộ xây dựng: 31.914 hộ (0,27%); hộ thương
nghiệp: 384.272 hộ (3,21%); hộ dịch vụ:14.156 hộ (1,18%); hộ khác:1.479.341 hộ
(12,35%). Trong số các hộ đó, nhóm hộ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
nhất(79,58%), nếu hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng- bao gồm cả nông lâm ngư
nghiệp thì hịô nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn hơn nữa:81,65%, nếu xet theo
cơ cấu hình thành phần thì số hộ xã viên là 7.078.179 hộ (59,11%); hộ cá thể là
3.333.788 hộ (27,84%); hộ nông dân chuyên làm thuê lầ 672.319 hộ (5,61%). Cần
lưu ý là hộ xã viên nói ở đây đã là hộ kinh tế tự chủ, họ có quyền sử dụng ruộng
đất mà Nhà nước giao cho họ lâu dài 9với 5 quyền theo Luật Đất đai), họ tự chịu
19
trách nhiệm về hiệu quả kinh tế trong trồng trọt và chăn nuôi do họ tổ chức, HTX
chỉ hỗ trợ một số khâu dịch vụ, do đó, trên thực tế là hộ cá thể.
Như vậy, trong lĩnh vực nông nghiệp số hộ tư nhân, cá thể chiếm tỷ trọng lớn
81,65%. Đây thực sự là lực lượng kinh tế mạnh thể hiện trên các mặt sau đây:
-Chỉ trong thời gian ngắn, các hộ nông dân đã mua sắm rất nhiều trang thiết bị
hiện đại, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp lên một bước: các hộ
nông dân sắm thêm được 109.483 máy phát điện, 9.088 động cơ điện, 36.011 động
cơ chạy xăng, 97.808 máy tuốt lúa, 28.643 máy kéo lớn , 75.286 máy kéo nhỏ,
537.809 máy bơm, 106.305 máy xay, 15.157 máy nghiền thức ăn gia súc, 11.392

nước mà đặc biệt là các doanh nghiệp hộ gia đình có vai trò rất quan trọng trong
lĩnh vực công nghiệp chế tạo. Năm 1999 có 600.000 doanh nghiệp hộ gia đình nhỏ
hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, chiếm ẳ số doanh nghiệp rất nhỏ,
đóng góp 285 giá trị gia tăng trong công nghiệp chế tạo. Ngoài ra còn 5600 doanh
nghiệp vừa và nhỏ cũng hoạt động trong ngành công nghiệp chế tạo và tạo ra 10%
GDP của ngành công nghiệp này. Vai trò của khu vực kinh tế tư bản tư nhân trong
công nghiệp sẽ còn tăng hơn nữa vì những đổi mới trong thể chế rất mạnh với
những bộ luật mới ra đời từ năm 1998 đến nay, nhất là Luật Doanh nghiệp mới
được phê chuẩn năm 1999 và có hiệu lực thực hiện từ năm 2000, kèm theo việc bãi
bỏ hơn 100 loại giấy phép kinh doanh gây phiền hà, cản trở; Luật Đầu tư nước
ngoài cũng được sửa đổi với những thuận lợi mới cho các nhà đầu tư …
Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, sự phát triển của khu vực kinh té
tư nhân trong hoạt động công nghiệp (bao gồm cả tiểu, thủ công nghiệp) cũng
phát triển rất mạnh và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế nói chung, kinh tế
nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê và của một
số cơ quan chức năng, trong những năm gần đây, trong nông thôn cả nước có
khoảng từ 18% đến 20% số hộ nông dân tham gia hoạt động phi nông nghiệp,
trong đó một nửa là hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
xây dựng thuộc kinh tế tư bản tư nhân, cá thể và hộ gia đình (mà về cơ bản chúng
ta có thể xếp vào khu vực kinh tế tư bản tư nhân0. Theo báo cáo của hội nghị
nhóm tư vấn các nhf tài trợ ch Việt Nam (năm1998) thì khu vực tư nhân trong
nông thôn cả nước hiện có khoảng 24.000 doanh nghiệp và tổ hợp sản xuất kinh
doanh, trong đó có 33% là các doanh nghiệp, tổ hợp tư nhân trong lĩnh vực công
nghiệp và tiêu thủ công nghiệp.
3. Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ .
21
Đây là lĩnh vực kinh tế tư bản tư nhân hoạt động sôi nổi, ngày càng lấn át khu
vực quốc doanh. Số lượng tăng lên nhanh chóng: năm 1986 có56,8 vạn hộ, năm
1987 đã là 64 vạn hộ , năm 1988 là 71,9 vạn hộ, năm 1989 là 81,1 vạn hộ và 16 vạn
hộ kinh doanh không chuyên nghiệp, năm 1995 là 94 vạn hộ. Tư thương và hộ cá

những ngành kết cấu hạ tầng khác ( như viễn thông , nước sạch và vệ sinh …).
Trong thập kỷ tới, nhu cầu vốn sẽ rất lớn, ước tính khoảng 6-7%GDP, tương
đương với toàn bộ chương trình đầu tư công trước đây. Vì thế việc thu hút sự tham
gia của khu vực kinh tế tư bản tư nhân là hết sức quan trọng.
Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng, phải kể đến hệ thống đường nông thôn mà những
năm qua khu vực kinh tế hộ nông dân- thực chất là khu vực kinh tế tư bản tư nhân
đã đóng vai trò rất lớn.
III. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ BẢN TƯ NHÂN THEO VÙNG, LÃNH THỔ.
Kinh tế tư bản tư nhân phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi, giữa
thành thị và nông thôn. Năm 1995, con số thống kê cho thấy : 55% doanh nghiệp
tư nhân ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ; 18,1% ở đồng bằng
sông Hồng và 10,1% ở vùng Duyên hải miền Trung. Trong đó các tỉnh phía Nam
thì chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai đã chiếm
63%. Năm 1996 trong tổng số 1.439.683 cơ sở KTTN(bao gồm 1.412.166 cơ sở
của cá nhân và nhóm kinh doanh, 17.535 DNTN và 6.883 CTTNHH) thì 24% tập
trung ở đồng bằng sông Cửu Long; 21% ở vùng đồng bằng sông Hồng; 19% ở
vùng Đông Nam Bộ; 13%ở vùng kh Bốn cũ; 10% ở vùng Duyên hải miền T rung;
9% ở vùng núi và trung du Bắc bộ và 4% ở vùng Tây Nguyên. Năm 1997 trong
tổng số 25.002 cơ sở KTTN( phần lớn là DNTN) thì 18.728 cơ sở tập trung ở miền
Nam, chiếm 75% trong khi ở miền Bắc chỉ có 4.178DN, chiếm 17% và miền
Trung có 2087 cơ sở, chiếm 8,3%. Riêng thnhf phố Hồ Chí Minh có số lượng 6304
DN, chiếm 25%, băng toàn bộ số DN của miền Bắc và miền Trung cộng lại. Năm
1998 các con số tương ứng là: miền Nam chiếm 73%, gấp 3 lần số lượng ở miền
Bắc và miền Trung cộng lại 27%, thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa bàn lớn nhất
25%, Hà Nội và miền Trung có số lượng tương đương nhau khoảng 8%.
Qua số lệu trên chúng ta thấy kinh tế tư bản tư nhân phân bổ không đều giữa cá
vùng lãnh thổ. Phát triển mạnh và tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông
Cửu Long 40%, ở đồng bằng sông Hồng là 33% và ở Đông Nam Bộ là 25%. Các
công ty cổ phần phát triển mạnh ở Đông Nam Bộ 54% đồng bằng sông Hồng23%.
IV. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ VỐN, LAO ĐỘNG TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH.

Năm 2000, tổng vốn sử dụng của doanh nghiệp tư nhân phi nông nghiệp là
173.862 tỷ đồng, tăng 38,46% so với năm 1999. Vốn đầu tư phát triển của khu vực
này năm 2000 là 17.981,6 tỷ, tăng 16,53% so với năm 1999. Trong ngành nông
24
nghiệp năm 2000 vốn đăng ký kinh doanh tư nhân đạt 1.036 tỷ đồng; vốn đầu tư
phát triển của hộ gia đình đạt 17.633 tỷ đồng tăng 11% so với năm 1999.
-Lực lượng lao động của khu vực kinh tế tư bản tư nhân: Tính từ năm 1996
–2000 số lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân phi nông nghiệp
trong các năm đều tăng trừ năm 1997. So với tổng số lao động toàn xã hội thì khu
vực này chiếm tỷ lệ khoảng 11% qua các năm, riêng năm 2000 là 12%. Năm 2000,
lao động trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kể cả khu vực nông nghiệp là
21.017.326 người, chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xduyên trong cả
nước.
Trong các ngành phi nông nghiệp, số lao động khu vực kinh tế tư bản tư nhân
năm 2000 là 4.643.844 lao động, tăng 20,12% so với năm 1996; bình quân mỗi
năm tăng 194.670 lao động, tăng 4,75%/năm. Trong 4 năm từ 1997 đến năm 2000
riêng khu vực này thu hút thêm 997.019 lao động, gấp 6,6 lần so với khu vực kinh
tế nhà nước.
Năm 2000, lao động khu vực kinh tế tư bản tư nhân hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp có 16.373.482 người, chiếm 63,9% tổng số lao động nông nghiệp toàn
quốc. Trong đó các trang trại thu hút 363.048 lao động, chiếm 2,22%; các doanh
nghiệp nông nghiệp thu hút 53.097 lao động chiếm 0,33%.
Năm 2000, trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân các ngành phi nông nghiệp, lao
động trong công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất. Lao động trong công nghiệp có
2.121.228 người, chiếm 45,67%; lao động trong ngành thương mại, dịch vụ
1.735.824 người, chiếm tỷ trọng 37,37%; lao động các ngành khác 786.729 người,
chiếm 16,94%. Tính từ năm 1996-2000, lao động trong công nghiệp tăng nhiều
hơn ngành thương mại, dịch vụ. Năm 2000 so với năm 1996 lao động trong công
nghiệp thêm được 336.442 người, tăng 20,68%; trong khi lao động thương mại,
dịch vụ thêm được 271.476 người. Lao động công nghiệp ở doanh nghiệp tư nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status