LUẬN VĂN: Thực trạng về vấn đề đưa KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay đó đạt được thành quả gì và những tồn tại, yếu kém nào cần khắc phục nguyên nhân của thực trạng đó - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Thực trạng về vấn đề đưa KTNN giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế ở nước ta hiện
nay đó đạt được thành quả gì và những
tồn tại, yếu kém nào cần khắc phục -
nguyên nhân của thực trạng đó
MỞ ĐẦU

Việt nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội (CNXH) và theo lý
luận của Lenin về nền kinh tế trong thời kỳ quỏ độ vận dụng vào kinh tế, có phải
nó ý nghĩa là chế độ hiện nay có những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản (CNTB) lẫn
CNXH không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có, song cũng không phải bất cứ ai
cũng thừa nhận điểm ấy đều suy nghĩ xem các thành phần của kết cấu kinh tế - xó
hội hiện cú ở Nga là như thế nào mà tất cả then chốt cả vấn đề lại chính là ở đó.
Áp dụng vào nền kinh tế Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đó chủ trương xây dựng
một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN. Đó là một chủ trương đúng đắn và phù hợp với quy luật phát triển
khách quan, bởi thông qua chủ trương này một nền kinh tế mới được mở ra,các
thành kinh tế mới hỡnh thành được lập ra từ chính nguồn vốn trước đây nằm phân

triển mà đảng và chính phủ đưa ra nhằm cải tổ và xây dựng nền kinh tế XHCN
tiến kịp với thế giới, nhưng cũng đồng thời thôi thúc mỗi chúng ta cần phải góp
sức mỡnh vào cụng cuộc đất nước bằng cách dựa trên những gỡ mà ta đó đạt
được và chưa làm được để đưa ra những giải pháp kiến nghị hữu ích cho việc đưa
KTNN lên nắm vai trũ chủ đạo cũng là để xây dựng nền kinh tế nước nhà ổn định,
phát triển và bền vững.
Đồ án của tôi sẽ đi sâu vào NC về một số vấn đề sau:
Phần I: Khát quát về một số vấn đề lý luận về KTNN, vai trũ chủ đạo của
KTNN, giải thích vỡ sao sự hỡnh thành KTNN là một tất yếu và sự cần thiết của
vai trũ chủ đạo của KTNN trong chế độ của chúng ta hiện nay.
Phần II: Thực trạng về vấn đề đưa KTNN giữ vai trũ chủ đạo trong nền kinh
tế ở nước ta hiện nay đó đạt được thành quả gỡ và cũn những tồn tại, yếu kộm nào
cần khắc phục - nguyên nhân của thực trạng đó.
Phần III: Một số giải phỏp và kiến nghị nhằm phỏt huy những gỡ đó đạt
được ,khắc phục những hạn chế ,thiếu sót trong việc đưa KTNN lên nắm vai trũ
chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
NỘI DUNG

I. Một số vấn đề lý luận về KTNN:
1. Một số khái quát chung về KTNN:
1.1 Khái niệm chung về thành phần KTNN:
Để hiểu đầy đủ về thành phần KTNN, trước hết ta phải tỡm hiểu thành phần
kinh tế nhà nước là gỡ và thành phần KTNN xuất hiện ở nước ta khi nào.
Là một nước đi sau trong tiến trỡnh xõy dựng CNXH, chỳng ta được học hỏi

Như vậy, đặc điểm cơ bản của thành phần KTNN với các thành phần kinh tế
khác đó là hỡnh thức sở hữu và nguồn vốn hỡnh thành. Cú thể toàn bộ vốn đều
thuộc sở hữu nhà nước hoặc có thể phần vốn đóng góp của nhà nước chiếm tỷ lệ
khống chế (>50% vốn).
1.2 Phân loại KTNN:
KTNN bao gồm ba thành phần cơ bản đó là: các doanh nghiệp nhà nước
(DNNN), các tổ chức nhà nước, những tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
*Về Doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
Khái niệm: DNNN là doanh nghiệp 100% vốn của nhà nước hoặc Doanh
nghiệp cổ phần trong đó vốn của nhà nước chiếm tỷ trọng chi phối.
Trong ba nhõn tố cấu thành KTNN ở trờn thỡ DNNN là nhõn tố (hay thành
phần) giữ tỷ lệ cao nhất và vai trũ quan trọng nhất trong việc đảm bảo cho KTNN
giữ được vai trũ chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Bởi vậy khi đề cập đến vai
trũ chủ đạo của KTNN thỡ người ta thường đề cập đến DNNN là chủ yếu. Ngay
trong nghị quyết hội nghị lần thứ ba ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về
tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN. Hội nghị đó
khẳng định rừ quan điểm “KTNN cú vai trũ quan trọng trong việc giữ vững định
hướng XHCN. DNNN giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất
quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nũng cốt,
gúp phần quan trọng để KTNN thực hiện vai trũ chủ đạo trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN”.
DNNN cũng được chia ra làm hai loại: Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và
hoạt động công ích. Cả hai loại doanh nghiệp này đều mang các đặc điểm của các
thành phần của KTNN và thông thường chúng được chia làm hai loại nhỏ: các
doanh nghiệp do nhà nước giữ 100% và một loại doanh nghiệp do nhà nước giữ
cổ phần chi phối. Đối với các DNNN hoạt động kinh doanh: Mục tiêu là nhằm thu lợi
nhuận.Nhà nước sẽ giữ 100% vốn đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

nhiệm vụ kinh té nhất định của từng giai đoạn. Tuy vậy, trong suốt cả thời kỳ lịch
sử ấy, kinh tế nhà nước luôn luôn là lực lượng chủ đạo, nũng cốt, là cụng cụ duy
nhất để Nhà nước đưa đất nước đi lên theo con đường Xó hội chủ nghĩa(1955).
Sau khi hoà bỡnh lập lại ở miền Bắc(1955), đảng và nhà nước đó chủ trương
xây dựng xó hội chủ nghĩa ở miền Bắc theo cơ chế kế hoạch hoà tập trung bao cấp
để tạo cơ sở ban đầu cho một Nhà nước xó hội chủ nghĩa tương lai khi giải phóng
miền Nam và thống nhất nước nhà. Xuất phát điểm từ một nền kinh tế được xây
dựng trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, vỡ vậy bước đầu tiên khi bắt tay vào
xây dựng chủ nghĩa xó hội là thực hiện cụng cuộc cải tạo xó hội chủ nghĩa với
nhiệm vụ thủ tiêu kinh tế tư nhân, xây dựng kinh tế quốc doanh (Kinh tế quốc dân)
và kinh tế tập thể. Từ đây một loạt các xí nghiệp quốc doanh (XNQD) được ra đời
bằng nhiều cách khác nhau: do Nhà nước đầu tư xây dựng mới, hoặc quốc hữu hoá
các xí nghiệp tư nhân. Đến cuối thời kỳ cải tạo và khôi phục kinh tế, XNQD đó
chiếm ưu thế tuyệt đối trên nền kinh tế quốc dân. Kết quả là kinh tế tư bản tư nhân
bị xóa bỏ để chuyển sang một nền kinh tế mà kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể
giữ vị trí độc tôn. Đến năm 1960, kinh tế quốc doanh vươn lên trở thành lực lượng
kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân nước ta lúc bấy giờ. Và với chủ trương
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi lên xó hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh
được giao cho vai trũ chủ đạo của nền kinh tế từ đây.
Giai đoạn 1960 đến 1985:
Đây là giai đoạn khá dài mà lịch sử đất nước đó trải qua những bước thăng
trầm về chính trị, xó hội và kinh tế.
Từ 1960 đến 1975: Vẫn là cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, ở giai đoạn
này Đảng ta chủ trương công nghiệp hoá hiện đại hoá xó hội chủ nghĩa
miền Bắc và đấu tranh giảu phóng miền Nam. Để tiến hành công nghiệp hoá
xó hội chủ nghĩa, Đảng ta chủ trương “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý”, và do đó các xí nghiệp quốc doanh càng được đầu tư nhiều hơn và
phát triển hơn cả về số lượng và quy mô, đặc biệt là trong ngành công nghiệp
nặng. Một loạt các khu công nghiệp mới được hỡnh thành như: Việt Trỡ, Thỏi
Nguyờn, Vinh, Đông Anh(Hà Nội)… đây là cơ sở để kinh tế quốc doanh được mở

cơ chế kinh tế : xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường
định hướng XHCN. Trong quá trỡnh hỡnh thành cơ chế kinh tế mới, công tác quản
lý KTQD vẫn cũn tiếp tục được cải tiến theo hướng phi tập trung hoá, kế hoạch
hoá và quản lý và quản lý đối với KTQD, đồng thời các thành phần kinh tế khác được hỡnh thành và chú trọng phát triển, đó là kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư
nhân và các thành phần khác. Từ đây KTQD mất vị trí độc tôn trong nền kinh tế
quốc dân. Song không có nghĩa là nó không cũn giữ vai trũ chủ đạo nữa, mà
ngược lại hơn bao giờ hết vai trũ chủ đạo của kinh tế quốc doanh – đó đổi thành
kinh tế nhà nước - được xem là quan trọng và cần thiết nhất. Trên giác độ kinh tế
thỡ KTNN luụn nắm giữ những lĩnh vực then chốt, những ngành trọng yếu của
nền kinh tế như: CN năng lượng (dầu mỏ, than, điện), công nghiệp luyện kim,
công nghiệp vật liệu xây dựng…
Như vậy cùng với tiến trỡnh lịch sử xõy dựng và phỏt triển QHSX mới
XHCN của nước ta, KTNN đó khẳng định được vai trũ chủ đạo mà chỉ có nó mới
thực hiện được những nhiệm vụ mà lịch sử phát triển đưa ra KTNN đó nắm được
những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trũ mở đường hướng
dẫn nền kinh tế phát triển đúng định hướng đó chọn suốt cả một thời kỳ lịch sử
phỏt triển kinh tế.
2.2 Kinh tế nhà nước và vai trũ chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN.
Để hiểu đúng vai trũ của một thành phần kinh tế trong một cơ chế kinh tế nhất
định thỡ ta phải hiểu được cơ chế vận hành và đặc trưng cơ bản của cơ chế kinh tế
đó. Vỡ vậy ở đây ta nghiên cứu về kinh tế nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Thỡ trước hết ta sẽ tỡm hiểu qua về cơ chế kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN.
Ta có thể hiểu cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế hàng hoá do
sự tác động của các quy luật vốn có của nó (đó là quy luật giá trị, quy luật cung
cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tê…), cơ chế đó giải quyết ba vấn

Nếu nền kinh tế thị trường được để phát triển một cách tự do, không sự quản
lý của nhà nước thỡ sẽ bộc lộ rừ ngay những hạn chế, yếu kộm, những khuyết tật
vốn cú của nú. Bởi vậy với định hướng xó hội chủ nghĩa cú sự quản lý của nhà
nước thỡ nền kinh tế thị trường của chúng ta đạt được thành quả cả về mặt xó hội
và kinh tế. Muốn như vậy, mối quan hệ mới XHCN càng phải được củng cố và
phát triển hơn nữa – mà đại diện của nó là thành phần kinh tế nhà nước phải được
tổ chức làm sao ngày càng hoàn thiện và nắm được vai trũ chủ đạo của nó trong
nền kinh tế thị trường. Đó là đũi hỏi khỏch quan do những đặc điểm của cơ chế
kinh tế mới. Thứ nhất, kinh tế thị trường là một nền kinh tế mở, theo xu hướng hội nhập
với khu vực và quốc tế, nhưng để có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới đũi hỏi
cỏc doanh nghiệp phải cú cơ sở vật chất, kỹ thuật có quy mô, công nghệ hiện đại
ngang tầm với các nước khác trên thế giới. Bởi có như vậy Việt Nam mới có thể
phát huy được những lợi thế so sánh so với các nước khác và đứng vững để cạnh
tranh được với nền kinh tế vốn lớn mạnh của các nước trong khu vực và thế giới.
Nhưng một đặc điểm rất nổi bật của các thành phần kinh tế cá thể và tư bản tư
nhân là quy mô sản xuất của chúng rất nhỏ bé, lượng vốn đầu tư xây dựng cơ sở
sản xuất ban đầu rất nhỏ chúng chỉ đủ khả năng tham gia vào một số ngành, lĩnh
vực mà có khả năng tạo lợi nhuận nhiều nhất, đầu tư ít vốn nhưng chu kỡ quay
vũng vốn nhanh và chỉ cú thể cạnh trong nước, hơn một lý do rất đơn giản là quy
mô quá nhỏ hep, vốn quá ít không đủ điều kiện để hội nhập với các nước bạn.
Trong điều kiện đó thỡ kinh tế nhà nước với các doanh nghiệp nhà nước có
quy mô lớn và vừa mới có khả năng tham gia vào hoạt động kinh tế với các nước
trên thế giới. Bởi chỉ có Nhà nước mới có đủ nguồn vốn để xây dựng được các
doanh nghiệp nhà nước đủ lớn trong các ngành, lĩnh vực then chốt, các ngành kinh
doanh mà Việt Nam có lợi thế so sánh so với các nước khác. Do đó mà kinh tế nhà
nước trở thành lực lượng giữ vai trũ dẫn dắt, làm hạt nhõn để các danh nghiệp
trong khu vực kinh tế tư nhân dân có thể tham gia vào nền kinh tế hội nhập.

trong việc thực hiện pháp luật, hướng dẫn các thành phần kinh tế khác cùng thực
hiện theo luật pháp trong cơ chế kinh tế mới đảm bảo phát triển một nền kinh tế thị
trường lớn mạnh với một xó hội phỏt triển đúng định hướng đó chọn của Đảng.

3. Nội dung vai trũ chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN.
Để đảm bảo thực hiện được vai trũ là thành phần kinh tế chủ lực của nền kinh
tế trong giai đoạn hiện nay thỡ kinh tế nhà nước phải thực hiện được bốn nội dung
hay là bốn chức năng của nó trong kinh tế nhiều thành phần của nước ta hiện nay.
* Thứ nhất, kinh tế nhà nước mà thành phần chính là các doanh nghiệp nhà
nước, phải đi đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
Là lực lượng kinh tế được nhà nước chú trọng đầu tư, phát triển, do Nhà nước
nắm giữ nguồn vốn chi phối do đó quy mô hoạt động của các kinh tế nhà nước và đặc biệt là thành phần doanh nghiệp nhà nước rất rộng lớn, và đang ngày càng
được tổ chức sắp xếp lại theo hướng hiện đại nhằm hoạt động có hiệu quả hơn.
Bởi nguồn vốn đầu tư lớn, chủ yếu trong các doanh nghiệp nhà nước có 100% vốn
của nhà nước hoặc nhà nước giữ cổ phần chi phối) nên các doanh nghiệp nhà nước
có điều kiện đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Có khả năng tạo ra
năng xuất, chất lượng các loại hàng hoá, dịch vụ cao, sử dụng tối đa và tận dụng
được các nguyên nhiên vật liệu đầu vào, tiết kiệm được chi phí sản xuất nhưng
mang lại hiệu quả sản xuất cao, đóng góp ngân sách lớn. Chỉ có doanh nghiệp nhà
nước mới có khả năng đi đầu trong việc việc ứng dụng ác công nghệ mũi nhọn,
công nghệ cao để có thể đưa kinh tế đất nước theo kịp với nền kinh tế thế giới.
Kinh tế nhà nước phải tạo được động lực thúc đẩy, tạo đà và dẫn dắt các thành
phần kinh tế khác mà cơ bản nhất là thành phần kinh tế tư bản tư nhân và thành
phần kinh tế cá thể (mà chủ yếu là các doanh nghiệp dân doanh) cũng đóng góp
phần vào việc tăng trưởng kinh tế. Muốn thực hiện được chức năng này thỡ kinh tế

việc thực hiện luật bảo vệ môi trường để các doanh nghiệp khác đi theo.
* Thứ hai, bằng nhiều hỡnh thức, kinh tế nhà nước hỗ trợ các thành phần kinh
tế phát triển theo định hướng XHCN.
Muốn xây dựng nền kinh tế thị trường đinh hướng XHCN đương nhiên phải
xây dựng một lực lượng kinh tế đóng vai trũ chủ đạo, làm tâm điểm ảnh hưởng tới
các lực lượng khác của nền kinh tế, hướng dẫn, hỗ trợ các lực lượng kinh tế khác
cùng phát triển theo cùng một định hướng đó chọn và đó chính là KTNN. Trên cơ
sở xác định, không một nền kinh tế nào phát triển mà chỉ dựa trên một thành phần
kinh tế mà đó phải là sự phát triển đồng bộ của nhiều thành phần kinh tế có thể
phát huy được mọi tiềm năng của đất nước. Tuy nhiên như đó phõn tớch ở cỏc
phần trờn chỳng ta biết rằng quy mụ của cỏc thành phần kinh tế tư nhân của nước
ta cũn rất nhỏ hẹp, mặt khỏc thời gian phỏt triển cũn ngắn nờn cỏc doanh nghiệp
dõn doanh chưa thể tích luỹ để mở rộng quy mô lớn hơn đẻ làm nguồn cốt cho
việc phát triển kinh tế nước ta. Trong điều kiện đó, chỉ các doanh nghiệp nhà nước
có đủ điều kiện để trở thành lực lượng nguồn cốt, tạo choừ dạ cững chắc cho để
dẫn dắt các doanh nghiệp dân doanh cùng phát triển. Muốn làm được điể đó thỡ
kinh tế nhà nước phải xác định được cơ cấu thành phần kinh tế của mỡnh một
cỏch hợp lý. Luụn giữ được vị trớ, vai trũ xứng đáng, phát huy được lợi thế, khai
thác được khả năng đóng gốp thiết thực vào sự phát triển của kinh tế đất nước,
kinh tế nhà nước phải tích luỹ được vốn để phát triển trong các lĩnh vực then chốt, chi phối nhiều mặt của đời sống kinh tế - xó hội, trở thành xương sống của nền
kinh tế quốc dân, để từ đó các thành phân kinh tế khác có được chỗ dựa vững mà
cùng phát triển, đi lên.
Mặt khác, trong cơ chế thị trường, lợi nhuận luôn là mục tiêu mà các doanh
nghiệp theo đuổi, do đó các thành phần khác thường tập trung kinh doanh ở những
ngành kinh tế hoặc những vùng có khả năng đưa đến lợi nhuận cao một cách
nhanh chóng mà ít rủi ro nhất, do đó sẽ tạo ra lỗ hổng là những ngành và vùng
kinh tế kém tiềm năng hoặc đũi hỏi đầu tư lớn: đó là các vùng sâu, vùng xa, vùng

hay một công cụ điều tiết hiệu quả, là vỡ :
Thứ nhất: KTNN từ khi được hỡnh thành cho tới nay luụn được chú trọng đầu
tư ở hầu khắp các kĩnh vực, ngày kinh té, vả ngành không có khả năng sinh lợi
nhuận. (Các hàng hoá, dịch vụ công cộng) do đó nó làm cân đối giữa các ngành
của nền kinh tế. Với tư cách là công cụ điều tiết, các DNNN được nhà nước đầu tư
phát triển theo phương châm: “Ở đâu, khi nào nền kinh tế quốc dân đang cần mở
rộng sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó mà các thành phần kinh tế khác
không muốn hoặc không có khả năng kinh doanh thỡ khi đó cần có sự có mặt của
DNNN”, đến một lúc nào đó khi khả năng sinh lời tăng lên thỡ doanh nghiệp dõn
doanh nhày vào hoạt động và đủ khả năng cung cấp cho thị trường thỡ DNNN rỳt
ra và tiếp tục hoạt động ở các lĩnh vực khác.
Thứ hai : trong các vùng kinh té luôn có sự phát triển mất cân đối giữa các
ngành kinh tế đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế kém phát triển.
Nhà nước đó rất chỳ trọng đầu tư phát triển ở các vùng này từ rất lâu và hiện nay
nó đó phỏt huy chức năng điều tiết cho kinh tế của các vùng đó tương tự như tạo
ra sự cân bằng trong nền kinh tế vĩ mô của cả nước.
Thứ tư : kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể tạo dẫn nền tảng kinh tế cho
chế độ xó hội mới, XHCN.
Theo luận điểm của Mác-Lenin thỡ chế độ XHCN phải được xây dựng dựa
trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, tức là mọi tư liệu sản xuất đều thuộc sở
hữu chung của tập thể, của toàn dân, không một cá nhân nào được biến TLSX
thành tài sản riêng của mỡnh. Đó được coi là chế độ sở hữu tiến bộ nhất trong lịch
sử phỏt triển của xó hội loài người. Khi xem xét về nguồn gốc hỡnh thành KTNN
ta đó biết rằng KTNN được xây dựng dựa trên hỡnh thức sở hữu toàn dõn, cũn
kinh tế tập thể được xây dựng dựa trờn hỡnh thức sở hữu tập thể, trong thời kỳ quỏ
độ lên CNXH của nước ta thỡ đây là hai hỡnh thức sở hữu được xem là tiến bộ nhất, nó đại diện cho QHSX mới XHCN. Vỡ vậy để xây dựng nền kinh tế XHCN
thỡ KTNN cựng kinh tế tập thể cú vai trũ là nền tảng cơ bản .


đối với DNNN: có một bước đổi mới lớn dựa trên cơ sở phân công, phân cấp giữa
chính phủ và các cấp quản lý với đại diện chủ sở hữu ở Doanh nghiệp.
Quỏ trỡnh đổi mới cơ chế, chính sách đó hỡnh thành được khung pháp lý
tương đối rừ ràng và cơ bản để DNNN sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, xác
lập dân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, các doanh nghiệp đó được sử dụng hiệu qủ hơn tiền vốn và tài sản,
nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và ổn định việc làm cho người lao
động.
Kết quả hoạt động của các DNNN sau các chính sách đổi mới đó được thể
hiện qua những con số sau: thời kỳ 1991 – 1995, tốc độ tăng trưởng của các
DNNN bỡnh quõn theo GDP là 11,7% bằng 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung của
nền kinh tế và bằng 2 lần tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngoài quốc doanh. Từ
1990 đến nay do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới cùng
những thiên tai liên tiếp xảy ra thỡ tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế giảm dần,
DNNN cũng nằm trong tỡnh trạng đó, tỷ trọng tổng sản phẩm của DNNN trong
GDP tăng 33,3% năm 1991 lên 40,07% năm 1996 và 41,23% năm 1998. Tỷ lệ nộp
vốn ngân sách trên vốn nhà nước năm 1993 là 6,8% và năm 1999 là 12,31%. Năm
1999 các doanh nghiệp làm 40,2% GDP trên 50% giá trị xuất nhập khẩu, đóng góp
39,25% ngân sách Nhà nước. Từ 1995 đến nay, hằng năm DNNN đóng góp từ 26
– 28% nguồn thu thuế nội địa.
Từ thập niên 90 trở lại đây, Nhà nước đó sắp xếp, tổ chức, củng cố và phỏt
triển cỏc DNNN, cỏc tổng cụng ty Nhà nước: Chính phủ đó liờn tục chỉ đạo và
thực hiện sắp xếp lớn các DNNN đó là đợt 2 (1990 – 1993), đợt 2 (1994 – 1997),
đợt 3 (1998 – 1999), qua mỗi đợt sắp xếp đó là các DNNN đó cú sự đổi mới về
quy mô, về cơ cấu tổ chức quản lý bằng cỏch sỏt nhập, giải thể phỏ sản cỏc doanh
nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ kéo dài, chuyển doanh nghiệp nhà nước thành các
công ty cổ phần hoặc giao, bán, khoán, cho thuê DNNN có quy mô nhỏ. Kết quả
sau 3 đợt sắp xếp đổi mới đó là hiệu quả hoạt động của các DNNN tăng lên, mặc
dù số DN giảm xuống rất nhiều từ 12000 doanh nghiệp (năm 1990) xuống cũn

đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động và thực hiện luật pháp của nhà
nước. Theo nghị quyết hội nghị TW lần thứ tư (Khoá VIII) đó nờu trờn, đến thực
hiện, tỡnh hỡnh sản xuất kinh doanh của cỏc DN này khỏ lờn rừ rệt: so với trước
khi chuyển đổi vốn kinh doanh tăng 67,3% , doanh thu tăng 42,5%, nộp ngân sách nhà nước tăng 44,5% lao động tăng 12,8%, thu nhập bỡnh quõn đầu người bằng
38,7%, một số cũn tớch luỹ thờm và đó mở rộng được sản xuất. Đó là thành quả
rất đáng mừng đối với sự phát triển của kinh tế nhà nước.
Như vậy trong suốt quá trỡnh đổi mới từ 1986 đến nay, nhờ những chính sách
đổi mới, sắp xếp tổ chức lại các DNNN của chính phủ mà các DNNN đó cú những
chuyển biến tớch cực: việc tỏch quyền sở hữu đó tỏc động tích cực đến quyền tự
chủ của các doanh nghiệp và do đó hoạt động có hiệu quả hơn trước, trỡnh độ
công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ, vốn được bảo toàn và tăng thêm, bước đầu
đa dạng các nguồn vốn để phát triển, vốn tích luỹ tự bổ sung tăng lên 27,8% tổng
vốn sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của DNNN đang từng bước được nâng
lên, giúp KTNN thực hiện được vai trũ chủ đạo của nền kinh tế quốc dân, chi phối
được các ngành lĩnh vực then chốt, là lực lượng nũng cốt trong tăng trưởng kinh
tế, trong xuất khẩu và đóng góp cho ngân sách Nhà nước, bảo đảm cân đối vốn và
góp phần quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, là lực lượng rất quan trọng trong
việc bảo đảm các sản phẩm chủ yếu của nền kinh tế.

1.2 Kết quả bước đầu phát huy vai trũ chủ đạo của KTNN từ những bước đổi
mới:
Thứ nhất, hệ thống kinh tế Nhà nước các thể chế thống nhất đang làm đũn bẩy
thỳc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ khá.
Thứ hai, trong những năm lại đây, hoà chung vào xu thế toàn cầu hoá nền kinh
tế thế giới, kinh tế hợp tác, liên doanh với nước ngoài rất được phát triển mà chủ
yếu là với thành phần KTNN. Điều đó khẳng định là thành phần kinh tế đi đầu
trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, mở đường cho các thành phần

quyết vấn đề xó hội, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, làm
lực lượng vật chất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo
nền tảng cho chế độ XHCN” (Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VIII)
Thư hai, nhà nước XHCN VN đang từng bước hoàn thiện dần hệ thống cỏc
cụng cụ quản lý vĩ mụ, của mỡnh đối với thành phần KTNN đặc biệt là đối với các
DNNN.Bằng các văn bản pháp quy các chính sách kinh tế mà nhà nước đó thể chế
hoỏ cỏc quan điểm, chủ trương của Đảng về vai trũ chủ đạo của KTNN, DNNN;
một loạt các văn bản được thực thi như quyết định về hạch toán kinh doanh trong
DNNN, quy chế quản lý tài chớnh đối với DNNN. Luật DNNN, luật thương mại, chỉ thị về đẩy mạnh và sắp xếp, đổi mới các DNNN, nghị quyết về giao, bán,
khoán, đó là những công cụ điều tiết, quản lý kinh tế của nhà nước, thể hiện sự chỉ
đạo hết sức kiên trỡ của chớnh phủ cỏc cấp, cỏc ngành.
Thứ ba, sự cố gắng phấn đấu của các DNNN, của đội ngũ cán bộ, quản lý và
người lao động trong cơ chế mới mà Đảng đề ra đũi hỏi cỏc DNNN cũng như các
cán bộ quản lý người lao động, phải có một sự thay đoỏi nhất định, đáp ứng được
những đũi hỏi của cơ chế kinh tế mới. Càng ngày ta nhận thấy tính năng động,
sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của nhiều cán bộ, công nhân viên ở các DNNN
được nâng cao. Các DNNN đó cú những việt làm nhằm đưa hoạt động của sản
xuất của mỡnh hiệu quả hơn như đổi mới công nghệ, đào tạo đội ngũ cán bộ….
Thứ bốn: Hợp tác đa phương, đa hỡnh thức, hướng về xuất khẩu, của các
DNNN được phát triển cả về quy mô và hiệu quả, nhờ đó mà tranh thủ sự đầu tư,
giúp đỡ của quốc tế, của các DN nước ngoài, không chỉ cho thành phần KTNN mà
cũn cho cỏc thành phần kinh tế khỏc về thị trường, về đổi mới công nghệ, về
phương pháp sản xuất, kinh doanh…. nhờ đó mà KTNN thực hiện được vai trũ mở
đường, đón dắt cỏc thành phần kinh tế, phát triển theo đúng định hướng XHCN
của Đảng.

2. Những tồn tại yếu kộm trong quỏ trỡnh đổi mới và thực hiện vai trũ chủ đạo

phục, Việc bảo toàn và phát triển vốn nhiều DN thực hiện chưa tốt, tỡnh trạng ăn
vào vốn, mũn vốn, mất vốn vẫn cũn rất nhiều, Khụng ớt doanh nghiệp chưa thực
hiện tốt quy chế dân chủ tại DNNN, nhất là công khai tài chính, việc chi tiêu tuỳ
tiện, lóng phớ.
Thứ hai: DNNN quy mụ vẫn cũn nhỏ, cơ cấu cũn nhiều bất hợp lý, dàn trải,
chồng chộo, về ngành và tổ chức quản lý.
Đến tháng 5-2001, cả nước có 5.655 doanh nghiệp với tổng số vốn nhà nước
khoảng 126.030 tỷ đồng (không tính giá trị quyền sử dụng đất), bỡnh quõn mỗi
DN 22 tỷ đồng. Số DNNN có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 59,8%, trong đó số
DN có số vốn từ 1 tỷ đồng trở xuống chiếm 18,2% (tại 14 tỉnh, loại DN này chiếm
hơn 90%, chủ yếu trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, du lịch); số DN có vốn
từ 5 đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 15,2% ; số DN có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm
25%. Vốn lưu động của các DN nhà nước vào khoảng 27 ngàn tỷ đồng, chỉ bằng
trên 21% tổng số vốn nhà nước, bỡnh quõn, một doanh nghiệp gần 4,8 tỷ, nhưng
phần lớn các DN không có hoặc rất ít vốn lưu động nên chủ yếu phải đi vay để sản xuất kinh doanh. Nhiều DNNN cùng loại hoạt động trong tỡnh trạng chồng chộo
về ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý và trờn cựng một địa bàn.
Thứ ba: Công nợ của DNNN ngày càng tăng, đầu tư đổi mới công nghệ chậm,
trỡnh độ công nghệ lạc hậu; lao động thiếu việc làm va dôi dư cũn lớn; trỡnh độ
quản lý phần lớn cũn yếu kém.
Công nợ của DNNN hiện nay là quá lớn. Nợ quá hạn, nợ khó đũi ngày càng
tăng. Năm 2000, trong số 15,1% nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại nhà
nước thỡ DNNN chiếm 74,8% đó làm ảnh hưởng rất xấu đến hoạt động của tập thể
ngân hàng. Tỡnh trạng tài chớnh không lành mạnh một phần do lịch sử để lại,
phần lớn là mới phát sinh, nhưng cũn lỳng tỳng, chưa có phương án khả thi để xử
lý dứt điểm, làm cho hoạch toỏn kinh tế bị mộo mú, khụng minh bạch và DNNN
luụn trong tỡnh trạng bị động, ứng phó với các khoản nợ khó đũi.
Nguyên nhân dẫn đến yếu kém, hạn chế của DNNN: Nghị quyết TW VI khẳng

chế quản lý kiểm tra, kiểm soỏt, nhất là về mặt hoạch toỏn, tài chớnh.
Thứ 6: Trỡnh độ, phẩm chất của cán bộ quản lý DNNN cũn rất nhiều yếu
kộm. Đây là hậu quả, dư âm của cơ chế kinh tế cũ để lại, các cán bộ quản lý DN
ngày trước đó quen với chế độ bao cấp, của nhà nước - dù hoạt động không hiệu
quả vẫn được hưởng lương - thiếu năng động, nhanh nhạy trước các tỡnh huống
phỏt minh kinh tế trong cơ chế mới, mặc dù vậy nhưng vẫn bảo thủ, không chịu
tỡm hiểu, học hỏi nõng cao trỡnh độ để thích ứng và quản lý DN đi đúng hướng,
mà ngược lại một số trở lên sa sút về phẩm chât đạo đức, vi phạm pháp luật, trong
khi đó, việc thay đổi, bố trí lại số cán bộ này rất khó khăn, chậm chạp, chưa có cơ
chế phù hợp cho việc tuyển chọn những người có năng lực vào quản lý điều hành
DNNN.

2.2. Nguyên nhân của những hạn chế yếu kém trên:
Nghị quyết TW III đó khẳng định: “Những hạn chế, yếu kém của doanh
nghiệp nhà nước có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu do những nguyên
nhân chủ quan.”
*Thứ nhất: Chưa có sự thống nhất cao, trong nhận thức về vai trũ, vị trớ của
kinh tế nhà nước và DNNN, về yêu cầu và giải pháp sắp xếp đổi mới, đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN.
Rất nhiều ý kiến hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự vào sự cần thiết cũng như
vai trũ chủ đạo của KTNN và DNNN, dẫn đến sự bất dồng trong quan điểm, nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status