Chính sách của các nước lớn (Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc) đối với bán đảo Triều Tiên từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU THẢO CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC LỚN ( MỸ, NHẬT BẢN,
NGA, TRUNG QUỐC) ĐỐI VỚI BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN
TỪ KHI KẾT THÚC CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60.31.50

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Đình Chỉnh Hà Nội – 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU THẢO


1.3.2. Đại Hàn Dân Quốc 23
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2: CHÍNH SÁCH CỦA MỸ, TRUNG QUỐC, NGA VÀ NHẬT BẢN
ĐỐI VỚI BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN TỪ 1991 ĐẾN NAY 28
2.1. Chính sách của Mỹ 28
2.1.1 Đối với CHDCND Triều Tiên 37
2.1.2. Đối với Hàn Quốc 42
2. 2 Chính sách của Nhật Bản 49
2. 2.1. Đối với CHDCND Triều Tiên 50
2. 2.2. Đối với Hàn Quốc 55
2. 3. Chính sách của Trung Quốc 63
2.3.1. Đối với CHDCND Triều Tiên 64
2.3.2. Đối với Hàn Quốc 74
2. 4. Chính sách của Nga 78
2.4.1. Đối với CHDCND Triều Tiên 80
2.4.2. Đối với Hàn Quốc 89
Tiểu kết chương 2 93
Chương 3: ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH CỦA MỸ, 95
TRUNG QUỐC, NGA VÀ NHẬT BẢN ĐỐI VỚI BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY 95
3.1. Đối với CHDCND Triều Tiên 95
3.1.1. Về chính trị 95
3.1.2.Về kinh tế 103
3.1.3. Về văn hóa-xã hội 110
3.2. Đối với Hàn Quốc 113
3.2.1. Về chính trị 113
3.2.2. Về kinh tế 123
3.2.3. Về văn hóa - xã hội 128
Tiểu kết chương 3 130
KẾT LUẬN 134

đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên.
Từ những nội dung nêu trên có thể thấy rằng, vấn đề thống nhất bán đảo
Triều Tiên, tác động của các nước lớn đối với vùng bán đảo này là một chủ đề

2
khoa học quan trọng cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện
nhằm góp phần vào sự phát triển chung của xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.
Đối với CHDCND Triều Tiên, hiện nay Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì mối
quan hệ truyền thống hữu nghị với nhà nước này. Tuy nhiên bên cạnh đó, quan
hệ Việt Nam- Hàn Quốc được thiết lập từ năm 1992 đến nay đã trở thành mối
quan hệ đối tác chiến lược. Việc Việt Nam tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ
với hai nhà nước trên vùng bán đảo Triều Tiên là một vấn đề có ý nghĩa quan
trọng góp phần vào sự phát triển chung của xu thế hội nhập và bảo vệ, gìn giữ
anh ninh chung của khu vực và quốc tế.
Từ những nội dung nêu trên, chúng tôi cho rằng, chủ đề khoa học này cần
phải được nghiên cứu toàn diện và hệ thống, với tinh thần đó, tôi xin chọn đề tài:
“Chính sách của các nước lớn (Mỹ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc) đối với bán đảo
Triều Tiên từ năm 1991 cho đến nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên
ngành châu Á học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
- Thứ nhất, mục tiêu chủ yếu của đề tài dược tập trung vào việc nêu và phân
tích những chính sách của các nước như Mỹ, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc đối với
hai nhà nước trên vùng bán đảo Triều Tiên sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay
- Thứ hai, trên cơ sở nêu và phân tích chính sách của các nước lớn nêu trên,
đề tài luận văn tập trung làm rõ những tác động tích cực và những mặt hạn chế
của những nước này đến tình hình hai nhà nước trên vùng bán đảo Triều Tiên.
- Thứ ba, đề tài sẽ rút ra một số kết luận bước đầu về những thách thức và
triển vọng của quá trình hoà hợp và thống nhất đất nước của hai miền trên vùng
bán dảo trong tương lai.

Nguyễn Cư và Trần Quang, Nxb Lao động, Hà Nội 1964, Tra cứu văn hóa Hàn
Quốc” Hwang Gwi Yeon và Trịnh Cẩm Lan, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002,
“Ban biên soạn Hàn Quốc học, Bộ giáo trình Hàn Quốc học số 1 SNU-VNU”,
Đại học quốc gia Seoul, Đại học quốc gia Việt Nam, 2005…Nhìn chung, những
tài liệu nghiên cứu trên cũng chứa đựng nhiều nội dung quan trọng liên quan đến
vấn đề nghiên cứu của đề tài.

4
Liên quan đến chủ đề nghiên cứu còn có nhiều bài viết trên các tạp chí
nghiên cứu chuyên ngành tại Việt nam. Qua khảo sát chúng tôi có thể thống kê
một số bài nghiên cứu có nội dung lien quan đến chủ đề nghiên cứu gồm: “Một
số thông tin về quân chủng phòng không- không quân Hàn Quốc”trên Tạp chí
Kiến thức Quốc phòng hiện đại; số 1, năm 2001; “Chiến lược phát triển mới của
quốc phòng Hàn Quốc”;Tạp chí Khoa học Quân sự; số 12, tháng 12, năm 2001;
“Tuyên bố chung Nhật Bản-Hàn Quốc” Tài liệu tham khảo đặc biệt, Việt Nam
thông tấn xã, ngày 12.6.2003; “Tuyên bố chung Trung Quốc- Hàn Quốc” Tài
liệu tham khảo đặc biệt, Việt Nam thông tấn xã, ngày 12.7.2003; “Những yếu tố
văn hoá- xã hội, giáo dục con người trong quá trình phát triẻn kinh tế Hàn
Quốcvà những vấn đề đặt ra trong chiến lược toàn cầu hoá hiện nay; Tạp chí
Nghiên cứu Nhật Bản; số 2-1998; “Chiến lược cải cách kinh tế của Hàn Quốc
trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế ( 1997-1999)” Tạp chí Nghiên cứu Nhật
Bản; số 4-1999; “Vài nét về tư tưởng Nho giáo ở Hàn Quốc; Tạp chí Nghiên cứu
Nhật Bản; số 6-1999; “Các biện pháp kinh tế chủ yếu của Chính phủ Hàn Quốc
cho quá trình thống nhất bán đảo Triều Tiên” Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản; số
5- 2000; “Vài nét về quan hệ kinh tế Hàn Quốc - Mỹ (1948-1979” Tạp chí
Nghiên cứu Nhật Bản; số 2- 2001; “Nhân tố Nhật Bản trong sự phát triển kinh tế
của Hàn Quốc ( 1961-1993)”, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản; số 5- 2001; „Giao
lưu hợp tác văn hoá giữa Hàn Quốc với Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên
trong những năm gần đây‟ Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản; số 1- 2002.
Liên quan đến chủ đề nghiên cứu của đề tài đã có một số luận án tiến sĩ, luận

của bán đảo Triều Tiên và đồng thời cũng cho thấy được mục tiêu của các nước
lớn đối với bán đảo Triều Tiên trong tương lai.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hai nhà nước CHDCND Triều Tiên và Hàn
Quốc được xoay quanh trục quan hệ chính các nước lớn là Mỹ, Nhật, Nga, Trung
Quốc.
5 . Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn này chủ yếu sử dụng phương
pháp mô tả lịch sử và liên ngành. Trong đó, phương pháp mô tả lịch sử sẽ giúp
cho đề tài hệ thống hóa được nội dung nghiên cứu và có cái nhìn hệ thống về các
vấn đề lịch sử. Phương pháp nghiên cứu liên ngành còn mở rộng phạm vi nghiên

6
cứu của đề tài, cũng như sắp xếp, xử lý các nguồn tài liệu nghiên cứu. Ngoài ra,
đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp tổng hợp và phân
tích…
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo của luận văn, đề tài
luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:
Chương 1: Vài nét về bán đảo Triều Tiên từ năm 1945 đến năm 1991
Chương 2: Chính sách của Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga đối với
bán đảo Triều Tiên từ năm 1991 đến nay
Chương 3: Ảnh hưởng của chính sách của Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc,
Nga đối với bán đảo Triều Tiên từ năm 1991 đến nay

7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: VÀI NÉT VỀ BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1991
1.1 Chính sách của các nước lớn đối với bán đảo Triều Tiên trong thời
kỳ 1945-1953
Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX, thế giới loài người tiếp tục phải đối mặt với

nguyên tắc tổ chức xã hội loài người, một cuộc đua tranh giữa chủ nghĩa tự do
và chủ nghĩa tập thể cưỡng ép. Đối với Hoa Kỳ, Chiến tranh lạnh là cam kết thực
sự bền vững đầu tiên của đất nước trong Nền Chính trị Cường quốc, và nó đòi
hỏi người dân Mỹ phải để cho những xung lực trái ngược nhau của họ đối mặt
với thế giới bên ngoài: mong muốn tồn tại biệt lập và mong muốn bảo vệ tự do
cho những dân tộc khác – vì sự thúc đẩy của cả chủ nghĩa vị tha lẫn tư tưởng tư
lợi.” [12].
Như vậy, từ góc nhìn chính trị có thể thấy cuộc chiến tranh lạnh chính là
sự hình thành mâu thuẫn giữa hai hệ thống thế giới mà chủ yếu là sự đối lập về
mục tiêu chiến lược giữa hai cường quốc Liên Xô và Mỹ.
Đối với Liên Xô, là nước đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa, Liên Xô
muốn duy trì hòa bình và an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ
nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới. Ngược lại, về phía Mỹ,
mục tiêu chiến lược toàn cầu là bao vây, chống phá Liên Xô và các nước XHCN,
đẩy lùi phong trào cách mạng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ latinh nhằm
thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới.
Trước sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào dân tộc
trên phạm vi thế giới, đầu năm 1947, Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đưa ra
chủ nghĩa Truman lộ rõ âm mưu chiến lược toàn cầu với quan điểm rằng Mỹ
phải đứng ra đảm nhiệm sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do, phải giúp đỡ cho các
dân tộc trên thế giới chống lại sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản, chống lại sự
bành trướng của nước Nga, giúp đỡ bằng mọi biện pháp kinh tế, quân sự. Cũng
từ đó, Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh chống Liên Xô và các nước XHCN, đàn
áp phong trào giải phóng dân tộc.
Ở khu vực châu Á, bán đảo Triều Tiên nằm ở khu vực Đông Bắc Á, là
một trong những khu vực có vị trí địa - chiến lược quan trọng. Không phải ngẫu
nhiên mà trong nhiều thập kỷ qua, vùng bán đảo này luôn được các nước lớn như

9
Liên Xô (nay là Nga), Trung Quốc, Mỹ và Nhật đặc biệt quan tâm. Là một bán

10
sau sự thất trận của Nhật, mà còn ảnh hưởng đến tương lai của bán đảo Triều
Tiên.
Vào thời điểm khi Đại chiến thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn cuối,
sau Hội Nghị Teheran, Hội nghị Yalta họp vào thời điểm tháng 2 năm 1945, các
nước Đồng minh và Liên Xô tiếp tục đề cập đến vấn đề bán đảo Triều Tiên, đối
với vấn đề Triều Tiên, Hội nghị đã thông qua quy định:
- Nhằm xây dựng một nước Triều Tiên độc lập, thành lập một chính phủ
dân chủ lâm thời Triều Tiên để đảm nhiệm việc phát triển nông nghiệp, công
nghiệp, vận tải và nền văn hoá quốc gia chung cho cả nước Triều Tiên, đồng thời
sớm thanh toán những hậu quả chiến tranh do Nhật Bản gây ra.
- Để giúp cho việc thành lập chính phủ lâm thời Triều Tiên, Uỷ ban liên
hợp gồm đại diện bộ chỉ huy Liên Xô và Mỹ ở Triều Tiên được thành lập. Uỷ
ban này sẽ thăm dò ý kiến của các đảng phái, và các tổ chức dân chủ để thảo ra
những đề nghị về giải quyết vấn đề Triều Tiên. Những khuyến nghị này của uỷ
ban sẽ được gửi đến bốn nước Liên Xô, Anh, Mỹ và Trung Quốc xét và hai chính
phủ Liên Xô và Trung Quốc sẽ có quyết định cuối cùng.
Hội nghị cũng quy định thời gian ủy trị của 4 cường quốc là không quá 5
năm và việc uỷ trị của các nước này chỉ nhằm khuyến khích và giúp đỡ cho sự
tiến bộ về kinh tế, chính trị, xã hội cũng như phát triển quyền tự quản dân chủ
cho nền độc lập dân tộc của Triều Tiên [13, tr229].
Tuy nhiên, những quyết định nêu trên đã không được thực hiện theo đúng
tinh thần của nó, vì do những bất đồng về quan điểm giữa Liên Xô và Mỹ trong
cách giải quyết vấn đề bán đảo Triều Tiên.
Như vậy, sự bất đồng quan điểm giữa Liên Xô và Mỹ đã gây ra những ảnh
hưởng nghiêm trọng trong việc thống nhất hai miền bán đảo Triều Tiên thời điểm
đó. Cuối cùng, Uỷ ban tạm thời của Liên Hợp Quốc đến bán đảo Triều Tiên làm
nhiệm vụ tổ chức bầu cử thành lập một Uỷ ban tạm thời, nhưng sau đó tình hình
diễn ra cũng không theo đúng dự định, các mục tiêu ban đầu của Liên Hợp Quốc
về vấn đề bán đảo Triều Tiên đã bị loại bỏ.

đầu. Sau đó, Kim Il Sung là người thay thế nắm quyền chủ tịch.

12
Ngày 9.9.1948, Hội nghị nhân dân toàn bán đảo Korea tuyên bố thành lập
nước CHDCND Triều Tiên và tiến hành thành lập chính phủ do Kim Il Sung làm
thủ tướng. Hiến pháp CHDCND Triều Tiên cũng xem Seoul là thủ đô và chỉ định
Pyeongyang là thủ đô tạm thời. Từ đó, tình hình phát triển của hai miền Nam-
Bắc Triều Tiên diễn ra theo hai hướng khác nhau, vĩ tuyến 38 trở thành đường
gianh giới tạm thời giữa hai miền.
Như vậy, trước khi xảy ra cuộc nội chiến, bán đảo Triều Tiên là một khu
vực hết sức nhạy cảm về chính trị và quan hệ quốc tế. Đại chiến thế giới thứ hai
kết thúc, Triều Tiên được giải phóng, nhưng vùng bán đảo này lại đặt dưới sự Uỷ
trị quốc tế, mà ở đó là thế lực của các cường quốc quốc tế, đại diện là Liên Xô và
Mỹ. Về một phương diện nào đó, bán đảo Triều Tiên đã được đặt trên bàn cờ
quốc tế, người Triều Tiên không tự giải phóng được cho mình mà đã đặt quốc gia
mình vào một thế lưỡng khó đảo ngược. Hơn nữa, trước vận mệnh của lịch sử,
người Triều Tiên đã không nắm được thời cơ và không tìm được tiếng nói chung
trong việc thống nhất bán đảo mà đã đặt quốc gia dưới sự chi phối của các quốc
gia lớn là Mỹ và Liên Xô thời điểm đó.
Vậy là, cho đến thời điểm năm 1948, bán đảo Triều Tiên đã xuất hiện hai
nhà nước với hai chế độ chính trị xã hội khác nhau và hai hệ tư tưởng đối lập
nhau. Hai nhà nước này ngoài việc không thừa nhận chế độ của nhau mà còn
thường xuyên công kích và muốn lật đổ nhau bằng biện pháp quân sự. Sự tồn tại
của hai nhà nước có chế độ chính trị và hệ tư tưởng đối lập nhau trong thời điểm
sau khi bán đảo Triều Tiên vừa giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật Bản là
điều khó có thể tránh khỏi dẫn tới sự xung đột thôn tính lẫn nhau giành quyền
thống trị.
Từ tháng 6.1950 đến tháng 7.1953, trên vùng bán đảo Korea đã xảy ra
cuộc nội chiến giữa hai miền Nam- Bắc. Xét về tính chất, cuộc chiến tranh này
không chỉ dừng lại ở một cuộc nội chiến mà nó chính là một cuộc đụng đầu lịch

lại những món lợi khổng lồ về kinh tế, đưa Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số
1 thế giới [3, tr78].
Mặc dù là nước siêu cường về kinh tế và đang chiếm giữ độc quyền về vũ
khí nguyên tử thời điểm đó, nhưng không phải vì thế mà sức mạnh của Mỹ trở
thành vô hạn. Cũng trong thời gian này, sự lớn mạnh của hệ phong trào giải

14
phóng dân tộc và hệ thống xã hội chủ nghĩa đã buộc Mỹ phải lựa chọn âm mưu
chiến lược toàn cầu bằng cách ngăn chặn sự phát triển của phong trào cách mạng
thế giới. Để thực hiện âm mưu chiến lược đó, Mỹ đã chi gần 10 tỷ đô la nhằm
phục hồi các nước tư bản ở châu Âu và 2,4 tỷ đô la cho việc phục hồi Nhật Bản.
Cũng từ đó, hàng loạt các khối liên minh quân sự được thành lập: Tổ chức Hiệp
ước Bắc Đại Tây Dương (NATO tháng 9.1949); Hiệp ước an ninh Thái Bình
Dương ( ANZUS 9.1951); ngoài ra, Mỹ còn ký các hiệp ước liên minh quân sự
khác như Hiệp ước An ninh Nhật- Mỹ; Hiệp ước Mỹ- Nam Triều Tiên; Mỹ - Đài
Loan; Mỹ- Thái Lan; Mỹ - Philippin…cùng với hệ thống quân sự được triển khai
với các nước đồng minh, Mỹ còn đặt 800 căn cứ quân sự trên 35 nước và khu
vực tạo thành thế chiến lược bao vây Liên Xô và các nước XHCN. Trước sự lớn
mạnh của Liên Xô và các XHCN, Mỹ buộc phải nhiều lần điều chỉnh chiến lược
toàn cầu. Chẳng hạn, từ 1946-1952 Mỹ thực hiện chiến lược ngăn chặn chủ
nghĩa cộng sản; từ 1953-1960 là chiến lược trả đũa ồ ạt; từ năm 1961-1968 là
chiến lược phản ứng linh hoạt; từ năm 1969-1980 là chiến lược răn đe thực tế và
từ 1981-1989 là chiến lược đối đầu trực tiếp… Sau cuộc khủng bố ngày
11.9.2001, Mỹ đã liệt CHDCND Triều Tiên vào trục Liên minh ma quỷ cần phải
đối phó. Đó cũng là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo
Triều Tiên[9, tr127].
Đối với bán đảo Triều Tiên, sau khi chiến tranh thứ hai kết thúc, Mỹ
nhanh chóng tiếp quản phía Nam bán đảo Triều Tiên. Sự xuất hiện của Mỹ trên
vùng bán đảo Triều Tiên cũng như mâu thuẫn Mỹ- Liên Xô trong việc giải quyết
vấn đề bán đảo Triều Tiên đã làm cho tình hình ngày càng phức tạp. Trong thời

tuyến 38 tiếp tục trở thành khu phi quân sự giữa hai miền, và văn kiện mới chỉ
dừng lại ở Hiệp định đình chiến nên trên thực tế, hai miền bán đảo Triều Tiên
ngày nay vẫn trong tình trạng chiến tranh.
Tóm lại, trong nhiều thập kỷ qua, sự tồn tại của hai nhà nước với hai chế
độ chính trị và hai hệ tư tưởng đối lập nhau trên cùng một vùng bán đảo đã gây ra
nhiều biến động phức tạp, thăng trầm trong lịch sử. Có thể thấy, từ sau Đại chiến
thế giới lần thứ hai, nhất là từ sau chiến tranh giữa hai miền trên vùng bán đảo
Triều Tiên 1950-1953 đến nay, Mỹ luôn luôn theo đuổi chính sách thù địch, bao
vây, cấm vận với CHDCND Triều Tiên.

16
Bên cạnh những quốc gia nêu trên, Nhật Bản cũng là nước láng giềng
quan trọng trong quan hệ với vùng bán đảo Triều Tiên trong thời kỳ chiến tranh
lạnh. Về mặt lịch sử, trước năm 1945, Nhật đã từng đô hộ bán đảo Korea hơn 35
năm với những chính sách thống trị rất hà khắc, nhất là trong thời kỳ chiến tranh
thế giới thứ hai. Đối với người Triều Tiên, mặc dù đã hơn nửa thế kỷ qua kể từ
ngày thoát khỏi ách thống trị của Nhật, họ cũng không dễ gì có thể gạt bỏ hận thù
quá khứ với Nhật, nhất là khi người Nhật chưa bao giờ thú nhận tội lỗi ở mức độ
làm người Triều Tiên hài lòng. Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, nhất là trong
thời gian chiến tranh lạnh thế giới, ảnh hưởng của Nhật Bản trên thế giới nói
chung và bán đảo Triều Tiên là khá mờ nhạt. Mặc dù vậy, trong chính sách đối
ngoại của mình, Nhật Bản không thể không giữa vai trò trong khu vực và nhất là
không thể không có quan hệ với bán đảo Triều Tiên. Vì thế, Nhật Bản đã được
Mỹ làm trung gian hoà giải nên năm 1965, Nhật Bản và Hàn Quốc đã thoả thuận
khép lại thù hận quá khứ tiến tới bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Sau đó,
Nhật Bản đã viện trợ cả gói cho Hàn Quốc 800 triệu USD trong thời gian 10 năm,
gồm 300 triệu viện trợ cho không, 200 triệu viện trợ cho vay của chính phủ, và
300 triệu tiền cho vay thương mại. Trong quan hệ kinh tế với Hàn Quốc, Nhật
Bản chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thương mại. Mậu dịch của Nhật Bản với Hàn
Quốc nhanh chóng được khôi phục từ sau thế chiến và tăng lên nhanh chóng sau

bán đảo Triều Tiên sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừa chiến tranh
xảy ra trên bán đảo này và hầu như gắn chiếc ô hạt nhân của Mỹ với Hàn Quốc
để che chắn cho Nhật. Về mặt chiến lược, Nhật Bản cũng không muốn bán đảo
Triều Tiên thống nhất, bởi lẽ nếu thống nhất thì Nhật sẽ mất đi một đồng minh
thân cận là Hàn Quốc và Nhật cũng sẽ mất đi cả sự che chở của Mỹ. Và, nếu một
Triều Tiên thống nhất sẽ trở thành nước hùng mạnh và tự phòng vệ bằng vũ khí
hạt nhân nên đó là điều mà Nhật Bản không muốn xảy ra.
1.2.2 Vai trò của Liên Xô và Trung Quốc
Trước hết có thể thấy, Liên Xô là cường quốc lớn đã cùng với Mỹ tham
gia giải quyết vấn đề bán đảo Triều Tiên thông qua các Hội nghị Yalta, Hội nghị
Potsdam và sau đó là Hội nghị Ngoại trưởng 5 nước tại Matxcơva. Trong cuộc
nội chiến Nam- Bắc bán đảo Korea 1950-1953, Liên Xô không chỉ đóng vai trò
hậu thuẫn quan trọng giúp CHDCND Triều Tiên về vật chất, vũ khí, phương tiện

18
chiến tranh mà còn đưa quân đội đến giúp CHDCND Triều Tiên chống Mỹ. Theo
tài liệu lưu trữ của nước này thì có khoảng 1.963 người lính Xô Viết bị chết và bị
thương trong các trận chiến để giải phóng Triều Tiên [19, tr116].
Là nước có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề hoà bình quốc
tế trên vùng bán đảo Triều Tiên, Liên Xô thật sự tôn trọng nguyện vọng của nhân
dân Triều Tiên được sống trong hoà bình, thống nhất, độc lập và tự chủ, mà còn
tôn trọng bản sắc văn hoá dân tộc của người dân Triều Tiên.
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Liên Xô thực hiện chính sách hoà bình
hữu nghị, hợp tác toàn diện với CHDCND Triều Tiên và chính sách thù địch xa
lánh với Hàn Quốc. Cụ thể, sau năm 1953, Liên Xô đã giúp đỡ vật chất và kỹ
thuật cho CHDCNDTriều Tiên để nước này thực hiện nền kinh tế công nghiệp
hoá XHCN. Dưới sự giúp đỡ của Liên Xô, từ đống đổ nát sau chiến tranh,
CHDCND Triều Tiên đã xây dựng được hơn 50 xí nghiệp công nghiệp lớn, 30
công trình có ý nghĩa kinh tế quốc dân quan trọng chiếm 40 % số hàng hoá do
Liên Xô trang bị. Cho đến cuối thập kỷ 1980 (trước khi Liên Xô tan rã) kim

và rơi vào tình trạng chiến tranh thì bên kia sẽ ngay lập tức chi viện, giúp đỡ về
quân sự và các mặt khác bằng tất cả các phương tiện mà nó có. Sự thống nhất
Triều Tiên cần được tiến hành trên cơ sở hoà bình và dân chủ và điều này đã đáp
ứng lợi ích quốc gia của nhân dân cũng như nhằm duy trì hoà bình ở Viễn Đông.
Đối với vấn đề an ninh của hai nước, hiệp định quy định trong trường hợp
nếu như một trong hai bên bị bất kỳ một nước hay một liên minh quân sự nào đó
tấn công vũ trang và rơi vào tình trạng chiến tranh thì bên kia sẽ ngay lập tức chi
viện, giúp đỡ về quân sự và các mặt khác bằng tất cả các phương tiện mà nó có.
Tuy nhiên, bước vào thập kỷ 1970, nửa đầu thập kỷ 1980, quan hệ Liên
Xô- CHDCND Triều Tiên ngày càng xấu đi là do những mâu thuẫn Xô-Trung,
do có sự hiểu lầm về nhau nên các cuộc viếng thăm giữa lãnh đạo cấp cao hai
nước đã bị gián đoạn, Liên Xô cắt các khoản viện trợ nên kinh tế của CHDCND
Triều Tiên bị ảnh hưởng và không đạt được mục tiêu như dự định. Đến giữa thập
kỷ 1980, quan hệ giữa hai nước lại tiếp tục phát triển, ngoài việc gửi một số máy
bay Mig 24 hiện đại, Liên Xô còn dành nhiều sự giúp đỡ khác về kinh tế và quân
sự cho CHDCND Triều Tiên. Về phần mình, phía CHDCND Triều Tiên cũng
đồng ý cho Liên Xô sử dụng cảng Wonsan, máy bay của Liên Xô được phép bay

20
qua không phận CHDCND Triều Tiên trên đường đến Việt Nam. Có thể thấy, sự
giúp đỡ của Liên Xô, cũng như các nước XHCN khác đã giúp cho CHDCND
Triều Tiên dành được nhiều thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, xây
dựng một nền quốc phòng có khả năng tự đảm bảo an ninh quốc gia của mình.
Sau đó, khi M. Gioócbachốp lên cầm quyền, Liên Xô bắt đầu nới lỏng quan hệ
với CHDCND Triều Tiên và cải thiện quan hệ với Mỹ và Hàn Quốc, cũng từ đó
quan hệ giữa hai nước bước vào thời kỳ gián đoạn.
Như đã nêu, đối với Hàn Quốc, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, do khác
nhau về ý thức hệ nên quan hệ giữa Liên Xô và Hàn Quốc là quan hệ đối nghịch.
Tuy nhiên, trong thời gian quan hệ giữa Liên Xô và CHDCND Triều Tiên xấu đi,
quan hệ Trung - Triều thân thiện thì Liên Xô có dấu hiệu xích lại quan hệ với

khi quân Mỹ tiếp tục ở lại Hàn Quốc sẽ là một đối trọng với Liên Xô chống lại sự
ảnh hưởng của nước này ở châu Á. Rõ ràng là, cũng như Mỹ và Nga, Trung
Quốc cũng muốn giữ vai trò ảnh hưởng của họ ở bán đảo Triều Tiên. Trên thực
tế, Trung Quốc đã biến bán đảo Triều Tiên thành bức tường an ninh lâu dài của
Trung Quốc.
1.3 Hai nhà nước Triều Tiên trong thời kỳ chiến tranh lạnh 1953-1990
1.3.1 Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên
Như đã nêu ở trên, sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, do sự bất đồng về
quan điểm giữa Mỹ và Liên Xô trong việc giải quyết vấn đề Triều Tiên nên tình
hình chính trị ở đây đã có nhiều biến động phức tạp, và kết quả cuối cùng đã dẫn
đến việc thành lập hai nhà nước trên vùng bán đảo với hai chế độ chính trị khác
nhau và hai hệ tư tưởng đối lập nhau.
Sau cuộc chiến tranh 1950-1953, tình hình chính trị và các quan hệ quốc
tế trên vùng bán đảo Triều Tiên tiếp tục diễn biến phức tạp và đó cũng chính là
hệ quả của cuộc đối đầu lịch sử giữa hai hệ thống thế giới.
Trở lại lịch sử của nhà nước CHDCND Triều Tiên trên vùng bán đảo
Triều Tiên sau cuộc chiến tranh 1950-1953 có thể thấy, sau khi kết thúc chiến
tranh, được sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên đã
khẩn trương bắt tay vào công cuộc phục hồi và phát triển đất nước.

Trích đoạn Chính sách của Nga Về chính trị Về văn hóa-xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status