BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Lê Ngọc Hằng
CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH HOA
KỲ VÀ ANH ĐỐI VỚI ĐÔNG DƯƠNG GIAI ĐOẠN
1941 – 1946 (QUA TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Lê Ngọc Hằng
CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC ĐỒNG MINH HOA
KỲ VÀ ANH ĐỐI VỚI ĐÔNG DƯƠNG GIAI ĐOẠN
1941 – 1946 (QUA TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM)
Chuyên ngành : Lịch sử thế giới
Mã số
: 60 22 03 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ PHỤNG HOÀNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Lê Ngọc Hằng
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
DẪN LUẬN .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài...................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài ......................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................5
4. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................5
5. Đóng góp của đề tài ..............................................................................................6
6. Mục tiêu của đề tài ................................................................................................7
7. Cấu trúc của đề tài.................................................................................................7
Chương 1. LẬP TRƯỜNG CỦA HOA KỲ VÀ ANH ĐỐI VỚI ĐÔNG
DƯƠNG TRƯỚC CUỘC CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG............... 8
1.1. Nhật Bản xâm chiếm Đông Dương ...................................................................8
1.1.1. Vai trò của Đông Dương đối với phát xít Nhật .................................... 8
1.1.2. Sự thỏa thuận Nhật - Pháp .................................................................. 13
1.2. Phản ứng của Hoa Kỳ trước những họat động xâm chiếm Đông Dương của
Nhật ........................................................................................................................ 16
1.2.1. Chủ nghĩa biệt lập ............................................................................... 16
1.2.2. Hoa Kỳ đề nghị “trung lập hóa” Đông Dương ................................... 23
1.3. Anh hợp tác với Pháp nhằm duy trì quyền lực ở các thuộc địa Đông Nam Á
................................................................................................................................ 27
TIỂU KẾT .......................................................................................................... 29
phát từ những căn cứ sau:
Trước hết, Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) đã để lại những hậu
quả hết sức nặng nề trong lịch sử nhân loại. Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương
là một trong những bộ phận hợp thành cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai,
diễn ra trên bình diện lớn, gồm nhiều cường quốc tham gia và có ảnh hưởng tới
vận mệnh của đa số các quốc gia trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Sau
khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ chính thức tham chiến đứng về phía
các nước đồng minh chống phát xít Đức – Italia - Nhật. Lúc này, Đông Dương
thuộc Pháp trước hết là Việt Nam được Nhật xem là cửa ngõ xâm nhập vào Hoa
Nam, hậu phương của quân đội Trung Hoa Dân quốc; là bàn đạp cho cuộc chiến
tranh xâm lược ở Đông Nam Á. Đông Dương đồng thời được Hoa Kỳ lựa chọn
như là một điểm trong kế hoạch phản công Nhật.
Thứ hai, trên cơ sở tìm hiểu những chính sách của các nước Đồng minh
Hoa Kỳ và Anh đối với Đông Dương qua trường hợp Việt Nam, chúng ta có thể
thấy được những tác động của những chính sách đó đối với tình hình cùng
những chuyển biến của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1941 – 1946, đặc
biệt là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 đưa đến sự ra đời của nhà nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc –
kết thúc gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp đối với Việt Nam. Nhưng cũng
do thái độ của Hoa Kỳ và Anh đã tạo điều kiện cho Pháp quay trở lại Việt Nam
và nhân dân Việt Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp.
2
Thứ ba là xuất phát từ nhu cầu của bản thân, mong muốn được mở rộng
kiến thức, có điều kiện tìm hiểu sâu sắc vấn đề phục vụ cho việc giảng dạy ở
trường phổ thông.
Chính vì vậy, tôi đã chọn vấn đề “Chính sách của các nước Đồng minh
Hoa Kỳ và Anh đối với Đông Dương giai đoạn 1941 – 1946 (Qua trường hợp
“Tại sao Việt Nam” xuất bản năm 1995 đã trình bày thẳng thắn các sự kiện đúng
như những gì đã diễn ra và được tác giả ghi lại theo dòng thời gian, cung cấp
một nguồn sử liệu quí giá về quá khứ liên quan đến cuộc Cách mạng tháng Tám
và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời tác giả cũng đưa ra lời giải đáp cho câu
hỏi: “Tại sao nước Mỹ đã từng sát cánh với những người cách mạng, những
người cộng sản Việt Nam trên một trận tuyến chung chống chủ nghĩa phát xít”
- Gary R. Hess, Franklin Roosevelt and Indochina, The Journal of
American History, Vol.59, No.2 (Sep..,1972) 353 – 368 – Tổng thống Roosevelt
muốn thiết lập một chế độ ủy trị đối với Đông Dương nhưng đã vấp phải sự
phản đối của các nước Đông minh Anh và Pháp.
- Một công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã cung cấp những tư liệu quí
giá về cuộc Cách mạng tháng Tám là tác phẩm “Vietnam 1945: the Quest for
Power” được xuất bản năm 1995 tại Mỹ, David G.Marr tái hiện lịch sử một cách
chân thực nhất theo góc nhìn từ dưới lên (bottom-up), trình bày về cuộc tổng
khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa thu năm 1945
một cách sinh động, cụ thể và khá chân thực. Với tác phẩm này, lần đầu tiên
cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 được trình bày một cách sáng tỏ và đây
chính là sự nghiệp đấu tranh của quần chúng.
- Stein Tonnesson (2002), Franklin D.Roosevelt and French loss of
Indochina 9, March 1945, International Peace Research Institute, Oslo (PRIO).
Sự kiện Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9.3.1945 đã tác động mạnh mẽ đến lịch
sử Việt Nam và thế giới, cuộc Cách mạng tháng Tám thành công dẫn đến sự ra
4
đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tác giả cũng cho thấy những
toan tính và thay đổi trong chính của Tổng thống Roosevelt đối với Đông
Dương.
- Sanford B. Hunt, IV, B.A (2004), Dropping the baton: decisions in
Nghiên cứu qua trường hợp Việt Nam vì lúc này Đông Dương thuộc Pháp
bao gồm Việt Nam, Lào và Campuchia nhưng nói đến Đông Dương là nói đến
Việt Nam và ngược lại. Bởi Việt Nam bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ với
hơn 44,5% diện tích và hơn 83,5% dân số là yếu tố quan trọng nhất.
Chọn giai đoạn chính (1941 – 1946) vì sau khi Chiến tranh thế giới thứ
hai bùng nổ thì Hoa Kỳ đến năm 1941 mới chính thức tham chiến sau khi Nhật
tấn công Trân Châu Cảng và có những thay đổi trong chính sách đối với Đông
Dương. Đến năm 1946 việc Đồng Minh chiếm đóng Đông Dương được coi như
chấm dứt, và các lực lượng Pháp chiếm đóng tất cả các thành phố lớn ở Việt
Nam, các vấn đề trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam sau đó đã
chuyển từ bối cảnh một chính sách trong chiến tranh sang phạm vi mối quan hệ
Hoa Kỳ và Pháp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khách quan trong cách trình bày và nhận định các vấn
đề, người viết đã sử dụng những phương pháp chuyên ngành như:
- Phương pháp lịch sử, phương pháp logic
- Phương pháp so sánh, phân tích và đánh giá
6
5. Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu chính sách của các nước Đồng minh Hoa Kỳ và Anh đối với
Đông Dương qua trường hợp Việt Nam trong giai đoạn 1941 – 1946 nhằm thu
thập và hệ thống các nguồn tài liệu, góp phần làm rõ bản chất của các nước đế
quốc về vấn đề thuộc địa, cả Hoa Kỳ và Anh đều xuất phát từ lợi ích quốc gia và
nhằm khẳng định vị thế của mình trong và sau khi chiến tranh kết thúc. Cả Hoa
Kỳ và Anh đều hiểu được “mong muốn” của nhau nên trong mối quan hệ đồng
minh thì vấn đề là theo đuổi chính sách nào để bảo vệ lợi ích của mỗi quốc gia.
Cho nên khi tình hình thay đổi, Hoa Kỳ lập tức điều chỉnh, thay đổi chính sách
các nước đồng minh đã điều chỉnh và thay đổi chính sách của họ đối với Việt
Nam để đảm bảo lợi ích một cách toàn diện nhất. Trong bối cảnh, Hoa Kỳ và
Anh theo đuổi những kế hoạch khác nhau đối Đông Dương, Việt Nam dưới sự
lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm bắt được những điều kiện thuận lợi
cho cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc đưa đến sự thành công của Cách
mạng tháng Tám 1945.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần dẫn luận, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục,
luận văn có ba chương với những nội dung chính:
-
Chương 1: Lập trường của Hoa Kỳ và Anh đối với Đông Dương
trước cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương
-
Chương 2: Chính sách của các nước Đồng minh Hoa Kỳ và Anh
đối với Đông Dương trong Chiến tranh Thái Bình Dương (đến ngày 9.3.1945)
-
Chương 3: Chính sách của Hoa Kỳ và Anh đối với Đông Dương từ
khi Nhật đảo chính Pháp (đến 3.1946)
8
Chương 1
LẬP TRƯỜNG CỦA HOA KỲ VÀ ANH ĐỐI VỚI ĐÔNG DƯƠNG
Liên bang Đông Dương.
Tuy vậy cho đến giữa những năm 1930, sự lưu tâm của Nhật Bản đối với
xứ Đông Dương vẫn chưa đậm nét. Chỉ từ khi chính phủ quân phiệt Nhật bắt tay
vào việc chuẩn bị kế hoạch bành trướng, phát động chiến tranh xâm lược ở Châu
Á thì xứ Đông Dương thuộc Pháp mới được họ thực sự quan tâm đặc biệt.
Tháng 7 năm 1937, Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh xâm lược toàn Trung
Quốc. Chỉ sau một thời gian ngắn, quân Nhật nhanh chóng tiến xuống phía
Nam. Tháng 10 năm 1938, quân Nhật chiếm được Quảng Châu, áp sát biên giới
Việt – Trung. Cũng chính từ thời điểm này quân Nhật chính thức đặt vấn đề xâm
lược Đông Dương.
Đối với phát xít Nhật, việc chiếm Đông Dương vào thời điểm lúc bấy giờ
đóng vai trò then chốt - “chìa khoá” thành công cho mọi nỗ lực tiến hành chiến
tranh ở Châu Á. Cụ thể là, Bắc Việt Nam với tuyến đường sắt Hải Phòng – Hà
Nội – Vân Nam là một trong hai huyết mạch giao thông chính cung cấp viện trợ
quân sự từ các nước đồng minh cho chính phủ Trùng Khánh của Tưởng Giới
Thạch. Bởi theo cách nhìn của giới cầm quyền Tôkyô thì “dây rốn của chính
quyền Trùng Khánh chạy dài tới Anh và Hoa Kỳ”. Chính giới Nhật Bản cho
rằng để đánh gục sự kháng cự của Trùng Khánh thì phải bằng mọi giá cắt đứt
tuyến đường viện trợ này. Bên cạnh đó, mục đích không kém phần quan trọng
của quân đội Nhật khi chiếm Đông Dương chính là tạo ra một bàn đạp chiến
lược cho các bước tiến công xâm lược tiếp theo. Một “điểm tựa” tối ưu để “phía
Bắc đánh Hoa Nam, Đông đánh Phi Luật Tân, Nam đánh Mã Lai, Inđônêxia,
Australia và Tây đánh Mianma, Ấn Độ”. Đây chính là một trong những nhân tố
10
giúp quân Nhật chiếm lĩnh vị trí “thượng phong” trên chiến trường Châu Á –
Thái Bình Dương tính đến năm 1943.
Tuy nhiên việc thực hiện âm mưu xâm lược Đông Dương của giới quân
thế bị động, từng bước bị đẩy lùi trên khắp các chiến trường thì vị trí của Đông
Dương trong chiến lược chiến tranh của Nhật bắt đầu thay đổi. Đặc biệt là sau
khi quân Nhật bị thất bại nặng nề cả trên chiến trường Philippin (4.1945), Miến
Điện (5.1945) và trước nguy cơ thực dân Pháp ở Đông Dương tiến hành “kháng
chiến” chống Nhật khi quân Đồng Minh đổ bộ vào thì Đông Dương trở thành
“cầu nối chiến lược” có tầm quan trọng sống còn, nối liền quân Nhật trên lục địa
Châu Á với lực lượng hải quân ở Đông Nam Á. Nếu mất “cây cầu này” thì
không những toàn bộ quân Nhật ở Đông Nam Á sẽ bị đánh tan mà các cánh
quân Nhật ở Hoa Nam cũng rơi vào tình thế bị bủa vây. Chính vì thế mà quân
Nhật buộc phải giữ Đông Dương bằng mọi giá. Cho nên Nhật đã tiến hành đảo
chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương vào đêm 9.3.1945, nhằm độc chiếm xứ
thuộc địa này.
Có thể thấy rằng: Đầu những năm 1940, Đông Dương đã trở thành một tụ
điểm cho các hoạt động chính trị quốc tế tại miền tây Thái Bình Dương. Vị trí
địa chính trị của Đông Dương là rất quan trọng đối với Nhật Bản. Đông Dương
là con đường đi miền Nam Trung Quốc, nơi mà người Nhật đang chiến đấu. Một
số lượng quan trọng vật tư được chuyển đến Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch
qua Đông Dương. Đông Dương cũng là một con đường không thể thiếu để
người Nhật tiến về phần còn lại của Đông Nam Á trong tương lai.
Khi đặt vấn đề xâm lược Đông Dương, giới cầm quyền Tôkyô không chỉ
xem Đông Dương là vị trí “chiến lược quan trọng”, có thể xâm nhập vào Trung
Quốc từ phía Nam và mở rộng xâm lược xuống vùng Đông Nam Á nhằm gạt bỏ
những ảnh hưởng của các nước phương Tây khỏi khu vực này mà còn xem xứ
12
sở này là nơi cung cấp tài nguyên phục vụ chiến tranh, trong đó chủ yếu là thóc
gạo. Đông Dương, trong đó có Việt Nam được gọi là “bát cơm của Châu Á”,
ngoài cây lúa còn có nhiều loại cây công nghiệp và khoáng sản “khu vực giàu có
1.1.2. Sự thỏa thuận Nhật - Pháp
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở Châu Âu (1.9.1939), đầu
tháng 6.1940 phát xít Đức tấn công Pháp. Ngày 14.6.1940, nước Pháp thất thủ.
Ngay lúc này, Nhật liền chụp lấy cơ hội để ép thực dân Pháp ở Đông Dương
chấp nhận nhượng bộ. Ngày 19.6.1940, quân Nhật gởi cho toàn quyền Georges
Catroux một bản tối hậu thư đòi phải đóng cửa hoàn toàn biên giới Việt – Trung.
Cuối mùa hè năm 1940, Chính phủ Vichy đã thoả thuận công nhận những quyền
lợi tối cao của Nhật Bản trong các lĩnh vực kinh tế và chính trị ở Viễn Đông với
hy vọng sự chiếm đóng của Nhật sẽ chỉ là tạm thời và giới hạn ở Bắc Kỳ. Ngày
29.6.1940, một phái đoàn quân sự Nhật đã đến Hà Nội để kiểm soát việc đóng
cửa biên giới. Đây là bước thứ nhất trong quá trình đầu hàng nhục nhã của chính
quyền thực dân Pháp trước sưc ép của quân phiệt Nhật.
Ngay từ khi phát động chiến tranh, để hợp lý hoá và hỗ trợ cho việc bành
trướng xuống phương Nam nói chung và xứ Đông Dương nói riêng, chính giới
Nhật Bản công bố cái gọi là “Khu vực Đại Đông Á thịnh vượng chung” hay còn
gọi là “Thuyết Đại Đông Á” (Dai Toa Kyoei Ken). Nội dung cốt lõi của “Thuyết
Đại Đông Á” núp dưới chiêu bài: thành lập khu vực thịnh vượng chung Đại
Đông Á, tức là sẽ xây dựng khu vực này thành khu vực thịnh vượng và phát
triển các quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia dựa theo 5 nguyên tắc: ngoại giao
liên hợp – quân sự đồng minh – kinh tế hợp tác – văn hoá giao lưu – chính trị
độc lập. Thứ hai là bảo vệ nhân dân Châu Á, giúp nhân dân Châu Á chống lại
chính sách bất công về kinh tế, chính trị của các đế quốc Anh, Pháp, Hoa Kỳ và
quyết tâm thực hiện thắng lợi thuyết Đại Đông Á. Tuy nhiên, thực tế lịch sử
chứng minh, giới cầm quyền Nhật đi ngược lại lời hoa mỹ đó, nó chỉ là tấm bình
phong cho sự thống trị của đế quốc Nhật Bản tại các quốc gia chiếm đóng trong
Chiến tranh thế giới thứ hai. Song song với việc công bố “thuyết Đại Đông Á”,
14
Cuối tháng 7.1940, chính phủ Vichy cử đô đốc Jean Decoux làm toàn
quyền mới ở Đông Dương. Nhật Bản tiếp tục trấn an Chính phủ Vichy về chủ
quyền của Pháp trên toàn Đông Dương rằng chính phủ Nhật Bản luôn tôn trọng
quyền lợi của Pháp tại Viễn Đông, đặc biệt là sự toàn vẹn lãnh thổ của Đông
Dương và chủ quyền của Pháp trên toàn Liên bang Đông Dương. Nhật Bản đã
sớm xác định rằng, phương pháp hiệu quả nhất của việc cai quản miền đất mới
“giành được” của mình là cho phép chính quyền Decoux tiếp tục chức năng điều
hành. Vì vậy chỉ cần một ít lính tráng để kiểm soát Việt Nam là quân đội Nhật
được rảnh tay để theo đuổi những mục tiêu lãnh thổ khác ở châu Á. Các nhà
quản lý Pháp, cảnh sát và giới thương gia trên thực tế phải chịu trách nhiệm duy
trì trật tự và điều hành Việt Nam như một cơ sở tiếp tế và hậu cần hiệu quả cho
quân đội Thiên triều.
Sau khi ký Hiệp ước tay ba với Đức và Italia tháng 9 năm 1940, Nhật
Bản đã ở vào vị thế mạnh hơn để đưa ra những đòi hỏi với Pháp. Tại Đông
Dương, thực dân Pháp vẫn cố cứu vãn lợi ích của họ. Decoux tìm cách trì hoãn
việc mở cửa biên giới cho quân Nhật tiến vào Đông Dương. Sáng ngày 22 tháng
9, Nhật đã tấn công Pháp ở Đồng Đăng và Lạng Sơn. Chỉ sau vài giờ kháng cự
yếu ớt, Pháp đã quy hàng và buộc Decoux phải khuất phục. Chiều ngày
22.9.1940, hiệp ước bổ sung quy định thể thức chiếm Đông Dương của Nhật đã
được chính phủ thực dân Pháp chấp nhận. Sự kháng cự của Pháp đã bị nhấn
chìm trước kẻ cai trị mới của Đông Dương.
Tuy nhiên, trong năm 1941 Nhật đã vượt qua việc sử dụng các căn cứ và
đưa ra đòi hỏi một sự hiện diện tương đương để chiếm đóng ở Đông Dương.
Đến tháng 7 năm 1941, quân Nhật đã tiến vào miền Nam Việt Nam mà không
gặp phải kháng cự, giành quyền kiểm soát các sân bay và hải cảng, bao gồm khu
vực xung quanh vịnh Cam Ranh và các sân bay quanh Sài Gòn. Nhật sử dụng
16
thưởng thức một loại “bảo mật miễn phí” và vẫn chủ yếu tách ra từ các cuộc
xung đột thế giới cũ. Tuy nhiên, trong Thế chiến thứ nhất, Tổng thống Woodrow
Wilson đã thực hiện một trường hợp cho Mỹ can thiệp vào cuộc xung đột và
quan tâm của Mỹ trong việc duy trì một trật tự thế giới hòa bình. Tuy nhiên,
kinh nghiệm của Mỹ trong cuộc chiến tranh đó đã phục vụ để củng cố lập luận
của những người theo chủ nghĩa biệt lập; họ cho rằng lợi ích của Mỹ trong cuộc
xung đột này đã không biện minh cho số thương vong của Mỹ. Thực tế của một
cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu và sự cần thiết phải quan tâm nhiều hơn đến các
vấn đề trong nước chỉ phục vụ để củng cố ý tưởng rằng Hoa Kỳ cần phải tự cô
lập từ các sự kiện đáng lo ngại ở châu Âu. Đối với những vấn đề quốc tế, Chính
phủ Hoa Kỳ nhiều lần chọn không vướng víu tham gia hoặc can thiệp vào. Ngay
sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Quốc hội Hoa Kỳ bác bỏ các thành viên trong
Hội Quốc Liên. Một số thành viên Quốc hội tỏ ra lo ngại rằng nó sẽ thu hút Hoa
Kỳ vào cuộc xung đột châu Âu.
Năm 1931, Nhật Bản xâm chiếm Mãn Châu và tiếp theo đẩy mạnh việc
giành quyền kiểm soát rộng lớn của vùng Đông Bắc Trung Quốc. Hoa Kỳ bày tỏ
lo ngại về các hành động gây hấn mà bản thân không cam kết với bất kỳ sự tham
gia trực tiếp hoặc can thiệp, những xung đột khác như cuộc nội chiến Tây Ban
Nha cũng hầu như không có cam kết chính thức hoặc hành động nào của Chính
phủ Hoa Kỳ. Cho nên, trong quá trình vận động tranh cử của Franklin Delano
Roosevelt, ông đã tập trung vào chủ nghĩa hoà bình. Sau khi nhậm chức, Tổng
thống Roosevelt có xu hướng nhìn thấy một điều cần thiết đối với Hoa Kỳ để
tham gia tích cực hơn trong các vấn đề quốc tế, nhưng khả năng để áp dụng
quan điểm cá nhân của mình đối với chính sách nước ngoài bị giới hạn bởi sức
mạnh của thái độ cô lập trong Quốc hội. Năm 1933, Tổng thống Roosevelt đã đề
xuất một biện pháp với Quốc hội là cấp cho ông quyền tham khảo ý kiến với các
18
sự mâu thuẫn. Một mặt, họ phản đối cuộc xâm nhập Nhật Bản vào phía đông
bắc Trung Quốc và sự gia tăng của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản trong khu
vực, một phần là do ý thức của một tình bạn lâu dài với Trung Quốc. Mặt khác,
hầu hết các quan chức Mỹ tin rằng nó không có lợi ích sống còn ở Trung Quốc
có giá trị đi đến chiến tranh hơn với Nhật Bản. Roosevelt một lần nữa lên án
những hoạt động quân sự của Nhật Bản nhưng không cố gắng ngăn chặn sức
mạnh quân sự của Thiên Hoàng. Và cho dù, hầu hết công chúng Hoa Kỳ đều
muốn Nhật bại trận nhưng họ không ủng hộ những hành động quân sự của Hoa
Kỳ nhằm bảo vệ Trung Quốc. Rõ ràng, thiện cảm của Roosevelt còn dành cho
người Trung Quốc, mức độ lo lắng về những gì Nhật Bản có thể làm tiếp theo tất cả đã thuyết phục ông giúp Trung Quốc nếu có thể, nhưng bằng những cách
không gây đối kháng với cả Nhật Bản lẫn những người theo chủ nghĩa biệt lập
Mỹ.
Đến khi người Pháp đặc biệt lo ngại Nhật Bản có thể tấn công Bắc Kỳ,
nơi những trang thiết bị có tầm quan trọng sống còn được vận chuyển bằng
đường thuỷ đến Hải Phòng và từ đó theo đường sắt đến Vân Nam hoặc Lạng
Sơn rồi theo đường bộ vào trung tâm Trung Quốc. Trong khi theo dõi tình hình
châu Á, Roosevelt đã thúc giục các cố vấn của ông tìm kiếm những biện pháp
hoà bình giúp tiếp tục mở những tuyến tiếp tế đến trung tâm Trung Quốc nhưng
vì theo đuổi chủ nghĩa biệt lập nên về mặt chính trị và quân sự ông không thể
gửi quân tới bảo vệ Đông Dương hay bất kỳ thuộc địa nào khác của châu Âu.
Đầu năm 1939, chính quyền Roosevelt đã nhận thấy mối đe dọa toàn cầu
do sự bành trướng của Nhật và Đức gây ra, Nhật xâm nhập ngày càng sâu vào
Đông Nam Á. Sự quan tâm lớn nhất của Nhật ở vùng Đông Nam Á là nắm
quyền kiểm soát Inđônêxia - nước có nhiều dầu lửa. Và Đông Dương là một căn