Chủ đề: Nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng nợ công tại một
số nước trong liên minh EU và phản ứng chính sách của các nước
đó.
Nhóm 4:
1. Nguyễn Thị Mai Phương (Nhóm Trưởng)
2. Nguyễn Thị Tình
3. Phạm Thị Hồ Vân
4. Lê Thị Phượng
5. Phí Trọng Đức
6. Lê Tuấn Quang
7. Nguyễn Tiến Dũng
8. Nguyễn Quang Chung
Phần 1: Khái quát về Nợ công
1.1. Khái niệm
• Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB): Nợ công là toàn bộ khoản nợ của Chính
phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh. Trong đó:
- Nợ của Chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ và
các đại lý của Chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị trực thuộc Chính
phủ và các đại lý của các tổ chức này; các doanh nghiệp nhà nước.
- Nợ của Chính phủ bảo lãnh là những khoản nợ trong nước và nước ngoài của khu vực tư
nhân do Chính phủ bảo lãnh.
• Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công được bao gồm nợ của khu vực tài
chính công và nợ khu vực phi tài chính công. Trong đó:
- Khu tài chính công gồm: Tổ chức tiền tệ (NHTW, các tổ chức tín dụng nhà nước) và các
tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng không cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát
triển),
- Các tổ chức phi tài chính công như: Chính phủ, tỉnh, thành phố, các tổ chức chính quyền
địa phương.
• Theo luật quản lý nợ công của Việt Nam, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ Chính phủ
bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trong đó:
- Nợ Chính phủ: là các khoản nợ được ký kết, phát hành nhân danh nhà nước hoặc Chính
- Nợ có lãi suất cố định: là những khoản nợ có mức lãi suất cố định từ khi vay cho
đến kh đáo hạn, không bị phụ thuộc vào sự biến động của thị trường
- Nợ có lãi suất thả nổi: là những khoản nợ được điều chỉnh về lãi suất khi có sự
biến động về lãi suất trên thị trường.
• Căn cứ theo loại tiền vay:
- Nợ bằng đồng nội tệ: là những khoản nợ được vay bằng chính đồng tiền của quốc gia đó.
- Nợ bằng ngoại tệ: là những khoản nợ được vay bằng các đồng ngoại tệ, có thể vay từ các
chủ thể trong nước hoặc nước ngoài.
• Theo quan điểm của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công được bao gồm nợ của khu vực tài
chính công và nợ khu vực phi tài chính công.
• Theo luật quản lý nợ công của Việt Nam, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ Chính phủ
bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Tuỳ theo quan điểm của các tổ chức, nợ công được hiểu theo các nghĩa khác nhau. Việc xác
định nợ công một cách chính xác sẽ giúp các nhà quản lý đánh giá đúng những tác động tích cực,
tiêu cực của nợ công từ đó có biện pháp điều chỉnh hợp lý nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc
gia một cách bền vững.
1.3. Rủi ro nợ công:
Nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát
Lạm phát được tạo ra do hai nguyên nhân chính: Do tổng cầu tăng lên hoặc do chi phí đẩy.
Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của chính phủ tăng lên,
một mặt sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao.
Giá vàng bùng nổ
thị trường vàng trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong thời gian vừa qua rất sôi động với sự
tăng đột biến của giá vàng trong nước.Nó tạo thành cơn sốt vàng và theo nghiên cứu một trong
những nguyên nhân đảy giá vàng lên cao như vậy là do khủng hoảng nợ công .Vấn đề là họ thấy
2
được vàng là nơi trú ẩn an toàn,vàng luôn là tiền thật trước khủng hoảng nợ công.( vàng đã lập
kỷ lục cao nhất mọi thời đại với mức 1.928 USD hồi cuối tháng 8/2011 49 tr/lượng).
Gây gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai
Thế hệ tương lai cũng phải chịu đựng sự sụt giảm về chất lượng cuộc sống do những hệ quả của
Lợi tức trái phiếu liên tục giảm nhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu EU (năm 1981) và làn
sóng bán tháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy Hy Lạp đã để vuột khỏi tay một kênh huy động
vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho chi tiêu công.
2.1.2. Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách.
Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bình hàng năm là 4,3%
(2001 – 2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone là 3,1%. Tuy nhiên, trong giai đoạn
này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87% trong khi mức thu của chính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho
ngân sách thâm hụt vượt quá mức cho phép 3% GDP của EU.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chi tiêu cho quản lý công trong tổng số
chi tiêu công của Hy Lạp năm 2004 đã cao hơn nhiều so với các nước thành viên OECD khác
trong khi chất lượng và số lượng dịch vụ không được cải thiện nhiều. Năm 2008, khủng hoảng tài
3
chính toàn nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các ngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp.
Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm 2009. Kinh tế Hy Lạp
cũng lâm vào tình trạng khó khăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh.
Trong khi đó Hy Lạp lại phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh tế. Tính đến tháng
01/2010, nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế đạt mức 130% GDP.
Sự già hóa dân số và hệ thống lương hưu vào loại hào phóng bậc nhất khu vực châu Âu của
Hy Lạp cũng được coi là một trong những gánh nặng cho chi tiêu công. Ước tính tổng số tiền chi
trả cho lương hưu khu vực công của Hy Lạp sẽ tăng từ 11,5% GDP (2005) lên 24% (2050).
2.1.3. Nguồn thu giảm sút cũng là một nhân tố dẫn tới tình trạng thâm hụt ngân sách và
gia tăng nợ công. Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là nhân tố làm giảm
nguồn thu ngân sách.
Theo đánh giá của WB, kinh tế không chính thức ở Hy Lạp chiếm tới 25 - 30% GDP(so với
mức 15,6% GDP của Việt Nam; 13,1% GDP của Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của
Nhật Bản). Hệ thống thuế với nhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư
thừa và thiếu hiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế và kinh tế
ngầm phát triển ở Hy Lạp.
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ lệ tham nhũng cao
nhất trong EU. Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã chi tới 750 triệu EUR tiền phong bì cho
nhà đầu tư. Khủng hoảng nợ công của Hy Lạp do chính phủ không minh bạch các số liệu, cố
gắng vẽ nên bức tranh sáng, màu hồng về tình trạng ngân sách về những chính sách sắp ban hành
để khắc phục những khó khăn về ngân sách hay vấn đề kinh tế vĩ mô do vậy, hiệu lực của những
chính sách đó sẽ bị hạn chế nhiều.
2.2. Khủng hoảng nợ công ở Tây Ban Nha: 5 nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng ở Tây
Ban Nha:
2.2.1. Kinh tế Tây Ban Nha đang rơi vào tình trạng bất ổn do lợi suất trái phiếu tăng vọt
Điều đầu tiên liên quan tới con số 7 hay ám chỉ 7% với lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của
Tây Ban Nha. Mọi người thường xuyên nhắc lại mức 7% thể hiện cho sự bất ổn.
Tuy nhiên, dù trong hoàn cảnh căng thẳng như vậy, Tây Ban Nha vẫn tìm được nguồn tài trợ
200-220 tỷ euro tới năm 2014 với lãi suất 8-9%. Điều này có thể tác động khiến lãi suất trung
bình các khoản nợ nước này tăng từ 4,1% hiện tại lên 5%. Mặc dù đây không phải điều dễ chịu
gì, nhưng chắc chắn không phải là “bất ổn”.
2.2.2. Nợ tư nhân đang gây sức ép cho kinh tế Tây Ban Nha
Tây Ban Nha có mức nợ tư khổng lồ, nhưng lại có tình hình tài chính công tương đối lành
mạnh so với các hàng xóm châu Âu của mình. Nợ công trên GDP Tây Ban Nha chỉ ở dưới 60%,
nhưng nợ tư Tây Ban Nha lên tới trên 200% GDP.
Nhiều người không hiểu bản chất những khoản nợ này. Một phần lớn nợ khu vực phi tài chính
trong số này được các công ty Tây Ban Nha đầu tư vào các thị trường mới nổi dọc châu Mỹ
Latinh, Đông Âu và châu Á.
2.2.3. Kinh tế Tây Ban Nha không thể tìm ra động lực tăng trưởng
Mặc dù thật sự, nhu cầu nội địa của Tây Ban Nha vẫn đang giảm, nhưng ít người chú ý kinh
tế nước này nhanh chóng bù đắp bằng xuất khẩu tăng vọt. Trong 3 tháng đầu năm 2012, xuất
khẩu hàng hóa, dịch vụ của Tây Ban Nha chạm mức kỷ lục trong lịch sử.
2.2.4. Kinh tế Tây Ban Nha mất tính cạnh tranh từ khi euro ra đời và không thể điều
chỉnh chính sách, phá giá euro
Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh của Tây Ban Nha lại đang tăng nhanh. Lương danh nghĩa
giảm, cùng với năng suất lao động theo giờ tăng khiến chi phí lao động giảm mạnh. Chi phí lao
động giảm có thể giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh.
2.2.5. Thị trường lo ngại về các khoản nợ của 17 khu vực tự trị của Tây Ban Nha tăng
lên hệ thống ngân hàng.
Bồ Đào Nha hiện cũng đang phải đối mặt với 3 khó khăn lớn là: bất ổn về tài chính; tăng
trưởng kinh tế thấp (quý II/2012, GDP của Bồ Đào Nha giảm 1,2% so với 0,1% trong quý I. Đây
là tháng thứ bảy liên tiếp GDP của nước này giảm); ngân sách và cán cân thanh toán bị thâm hụt
triền miên (Dự báo nợ công của Bồ Đào Nha sẽ vào khoảng gần 100% GDP vào năm 2020).
2.3.3. Đức - không nghĩ tới dài hạn
Kinh tế Đức có nhiều điểm đáng nể, thế nhưng kinh tế Đức thực tế cũng thiếu cân bằng như
nhiều nước khác trong khu vực đồng tiền chung. Đức không nghĩ tới dài hạn, tiền thu được từ
xuất khẩu dành để chi cho nhập khẩu. Họ đã đầu tư tiền tiết kiệm vào thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ
và nợ chính phủ Hy Lạp. Điều này đẫn đến nợ công của họ ở mức cao 82%GDP.
Phần 3: Hậu quả và phản ứng, chính sách
3.1. Hậu quả:
3.1.1. Hậu quả chung:
- Cuộc khủng hoảng nợ công đã đe dọa sự tồn tại của đồng tiền euro, gây ảnh hưởng nền tài
chính toàn cầu, khiến cho thủ tướng Hy Lạp và thủ tướng Ý phải từ chức.
- Ngày 6/2/2012 Chính phủ Romania sụp đổ do khủng hoảng nợ.
- Hơn 18 triệu người thất nghiệp ở châu Âu, một phần tư dân số Hy Lạp và Tây Ban Nha
không có việc làm, khiến tỷ lệ thất nghiệp chung của eurozone lên 11,6%, cao nhất từ trước tới
nay.
- Cuộc khủng hoảng nợ công châu âu làm đồng euro mất giá so với đồng nhân dân tệ. Điều
này làm tăng áp lực chi phí cho các nhà sản xuất trung quốc, tác động tiêu cực đến xuất khẩu
trung quốc.
- Làm cho thị trường tài chính mỹ đi xuống bởi Mỹ là chủ nợ lớn của các nước thuộc khu
vực đồng euro và nếu đồng euro mất giá so với đồng đôla Mỹ, các hoạt động xuất khẩu của Mỹ
sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực. Bên cạnh đó, lợi nhuận của các công ty Mỹ có thị phần tại Châu Âu
giảm do thị trường Châu Âu đóng góp 20% tổng doanh thu của các công ty tiêu dùng ở Mỹ. Việc
tiếp tục gia tăng bất ổn ở thị trường tài chính và các điều kiện tín dụng thắt chặt ở châu âu có thể
làm giảm ý chí của các công ty cho vay, cho thuê của Mỹ, vì vậy tác động đến khôi phục kinh tế
Mỹ.Tổng thống Obama đã kêu gọi lãnh đọa của các nước EU có biện pháp mạnh nhằm ngăn
chặn khủng hoảng nợ công.
3.1.3. Hậu quả tại Tây Ban Nha:
Tình trạng nợ công của Tây Ban Nha đang bắt đầu lan rộng, lún sâu hơn, khả năng phải nhận
cứu trợ đã chuyển từ các ngân hàng sang ngân sách nhà nước. Báo chí Tây Ban Nha hôm thứ hai
23/7/2012 đưa tin: Ít nhất chính quyền 6 tỉnh của nước này đang rục rịch xin chính phủ trung
ương trợ cấp ngân sách sau khi tỉnh Valencia chính thức yêu cầu Madrid hỗ trợ.
Tháng 8/2012, tin xấu về khủng hoảng nợ Tây Ban Nha ngay lập tức gây nên tâm lý lo ngại
trong các nhà đầu tư, khiến cho lãi suất trái phiếu của Chính phủ Tây Ban Nha trong khu vực
đồng euro tăng lên đến 7,5%, vượt qua lãi suất của các "con nợ xấu" khác là Italia (6,37%) và
Ailen (6,21%). Nhiều nhà đầu tư tài chính quốc tế khác cũng lo lắng không kém, và điều đó đã
được thể hiện cụ thể trên giá cổ phiếu và tỉ giá hối đoái, làm cho các chỉ số thị trường chứng
khoán châu Âu và châu Á đồng loạt đi xuống, kéo theo đồng euro cũng tụt giá xuống còn ăn
1,208 USD và 94,94 yen - mức thấp nhất kể từ năm 2010.
Chưa hết, tình trạng thất nghiệp vốn đang rất cao của Tây Ban Nha (trên 24%) sẽ càng tồi tệ
thêm nếu các khoản đầu tư công bị cắt giảm và sản xuất bị trì trệ do thắt lưng buộc bụng. Người
dân Tây Ban Nha đã nhiều lần xuống đường để phản đối việc áp dụng các biện pháp tiêu cực này;
trung tuần tháng 7/2012, giới công nhân, thợ thuyền ngành khai thác mỏ cũng đồng loạt đình
công để đòi cuộc sống tốt hơn…
Đặc biệt Tây Ban Nha đang chìm trong cơn khủng hoảng lòng tin: Làn sóng phẫn nộ ngày
càng lan rộng, niềm tin của người dân dành cho giới chính trị gia Tây Ban Nha ngày càng sụt
giảm. Trong một khảo sát gần đây, có tới 96% người dân Tây Ban Nha tin rằng, tham nhũng rất
7
phổ biến trong hệ thống chính trị nước này và cuộc biểu tình quy mô lớn ngày 23-2-2013 chính là
một ví dụ điển hình cho sự xói mòn niềm tin nơi người dân. Nhiều người lo ngại rằng, nếu tình
trạng như hiện nay tiếp diễn, Tây Ban Nha có nguy cơ rơi vào thời kỳ bất ổn chính trị.
3.2. Phản ứng, chính sách:
3.2.1 Phản ứng chính sách chung:
- Ngày 2/5/2010, các nước thành viên khu vực đồng euro và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã thông
qua khoản vay 110 tỷ euro cho Hy Lạp, với điều kiện nước này phải thực thi các biện pháp thắt
lưng buộc bụng khắc nghiệt.
- Ngày 09/05/2010, Bộ trưởng Bộ Tài chính châu Âu đã thông qua gói giải cứu trị giá 750
biện pháp thay thế nêu trên là hạn chế. Về mặt dài hạn, Hy Lạp cần phải thực hiện cắt giảm chi
tiêu ngân sách và tăng các khoản thu, đồng thời thực hiện tái cấu trúc nợ. Cuối cùng, Hy Lạp cần
phải đạt được các mục tiêu ngân sách và tăng trưởng 3 năm (2010-2012) đặt ra trong “Chương
trình Tăng trưởng và Ổn định” của nước này.
Ngày 21/10, Hy Lạp thông qua chính sách tiết kiệm ngân sách mới bao gồm tăng thuế, cắt
giảm trợ cấp, sa thải 30.000 công chức trước áp lực nợ công lên tới 162% GDP. Sau nhiều lần trì
8
hoãn, gói cứu trợ thứ 2 trị giá 130 tỷ euro đã được thành viên cuối cùng của châu Âu là Đức
thông qua nhằm giúp đưa nợ công quốc gia này giảm về gần 121% GDP vào năm 2020.Tháng
3/2012, các chủ nợ tư nhân đồng ý hoán đổi 85% nợ cho Hy Lạp, giúp cắt giảm khoảng 100 tỷ
EUR nợ khỏi nghĩ vụ nợ của quốc gia này. Ngay lập tức, ngày 9/3, Fitch và Moody’s đồng loạt
tuyên bố Hy Lạp đã vỡ nợ. Trước đó, vào ngày 28/2, Athens cũng bị một hãng định mức tín
nhiệm hàng đầu khác là S& P xem là đã vỡ nợ một phần
Khắc phục tình trạng tham nhũng và trốn thuế
- Nạn tham nhũng và trốn thuế ở Hy Lạp đã quá mức nghiêm trọng. Để khắc phục tình
trạng này, chính phủ Hy Lạp buộc phải đưa ra những biện pháp mạnh tay, cải tổ hoàn toàn bộ
máy. Chính phủ phải có chương trình hành động lâu dài. Phải tẩy sạch quốc nạn tham nhũng với
tinh thần, tư cách một cuộc cách mạng thật sự. Một số biện pháp cơ bản có thể đưa ra là:
- Phải thiết lập một hệ thống tổ chức chuyên sâu ở các cấp, các ngành với mạng lưới hoạt
động công khai và bí mật, theo dõi thường xuyên những người và vụ việc có dấu hiệu tham
nhũng để kịp thời ngăn chặn và xử lý.
- Kê khai tài sản riêng của các viên chức trong tất cả các tổ chức của bộ máy công quyền,
kể cả những người giữ cương vị lãnh đạo cao, những cán bộ chủ chốt, chuyên viên cao cấp, đầu
ngành khi được bổ nhiệm công việc cũng như khi thôi việc, nghỉ hưu.
- Có những chế tài xử lý mạnh mẽ hơn nữa với các hành vi tham nhũng
- Nâng cao tính minh bạch của hệ thống thuế, như thay thế một loạt quan chức ngành này,
tiến hành điều tra nội bộ nhằm vào những hành vi hối lộ, khai man trốn thuế
Nâng cao hiệu của quản lý chi tiêu công
- Đảm bảo quy mô chi ngân sách nhà nước. Theo đó, giảm tỉ lệ chi thường xuyên, hạn chế
lương thưởng cho cán bộ công chức, tinh giảm bộ máy hành chính.
Nha vỡ nợ, hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn rất nhiều và thậm chí có thể khiến Eurozone tan rã.
Mặt khác, vấn đề nợ công của Tây Ban Nha không phải đến từ việc chi tiêu quá mức mà chủ
yếu do khoản nợ của các hộ gia đình và công ty đối với hệ thống ngân hàng. Không những thế,
nước này còn phải thắt chặt chi tiêu để nhận được sự giúp đỡ từ EU cho hệ thống ngân hàng.
Trong bối cảnh kinh tế sụt giảm nghiêm trọng, việc phải thực hiện các biện pháp khắt khe đã
khiến các ngân hàng Tây Ban Nha càng thêm cùng quẫn. Được biết, khoản giải ngân gần 40 tỷ
euro mà Chính phủ Tây Ban Nha chính thức đề nghị được dùng để tái cấp vốn cho các ngân hàng
quốc doanh là Bankia, Catalunya Banc, NCG Banco và 2,5 tỷ euro trong số này sẽ được cấp cho
ngân hàng mua bán nợ xấu mới được thành lập.
Cho dù đã áp dụng mọi biện pháp kinh tế được cho là khắc nghiệt đến cùng cực, tình hình
khó khăn về kinh tế của 5 nước phải xin cứu trợ vẫn không được cải thiện. Kinh tế liên tiếp tăng
trưởng âm, thất nghiệp không ngừng gia tăng buộc cả người dân và Chính phủ phải thắt chặt hầu
bao đồng thời châm ngòi cho những bất ổn xã hội nghiêm trọng. Tình thế đó đã khiến các chuyên
gia kinh tế không dám đưa ra những nhận định chắc chắn về 12 nước còn lại trong khối. Liệu
quốc gia nào sẽ trở thành nạn nhân tiếp theo của cuộc khủng hoảng nợ công và tương lai
Eurozone sẽ đi về đâu vẫn còn là một dấu hỏi lớn.
Nguồn tài liệu mà nhóm thu thập thông tin để hoàn thành đề tài gồm:
- Wikipedia
- Vnexpress
- antg.cand.com.vn
- tailieu.vn
- taptritaichinh.vn
10