Khủng hoảng nợ công tại châu âu - Pdf 94

Nhóm 15
LỜI NÓI ĐẦU 2
1. Khái niệm và đặc điểm 3
1.1. Khái niệm 3
1.2. Đặc điểm 3
2. Nguyên nhân khủng hoảng nợ công tại châu Âu
4
2.1. Nguyên nhân bên trong 4
2.2. Nguyên nhân bên ngoài 5
2.3.Nguồn gốc của những nguyên nhân trên 7
3. Diễn biến khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
13
3.1. Hy Lạp, nơi hình thành khủng hoảng nợ công 13
3.2. Ý: điểm lây lan mới của khủng hoảng 15
3.3. Nguy cơ vỡ nợ từ Hy Lạp lan sang Ireland rồi đến Bồ Đào Nha 16
4. Tác động của khủng hoảng nợ công đến nền kinh tế Châu Âu và thế giới 17
5. Những ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công châu Âu đến nền kinh tế Việt Nam và
bài học kinh nghiệm 27
5.1. Ảnh hưởng 27
5.2. Một số bài học rút ra cho Việt Nam 28
HP: Lý thuyết tài chính công Page 1
1
Nhóm 15
KẾT LUẬN 34LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử phát triển tài chính, thâm hụt ngân sách nhà nước đã trở thành một hiện
tượng khá phổ biến trong các nước phát triển và các nước kinh tế chậm phát triển. Kể từ cuộc
khủng hoảng tài chính năm 2008-2009, nợ công ở các nền kinh tế phát triển đã tăng lên đáng kể.
Nổi bật nhất trong khoảng thời gian vừa qua là cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực Châu Âu.
Khủng hoảng nợ ở Hy Lạp có thể lây lan đến một loạt các nước khác trong EU có mức nợ quốc
gia cao tương đương với Hy Lạp như Ý, bồ Đào Nha, Ireland, và Tây Ban Nha. Cuộc khủng
hoảng này không chỉ có những ảnh hưởng to lớn đến khu vực Châu Âu mà còn ảnh hưởng đến

quá khả năng kiểm soát, điều tiết và trả nợ của chính phủ, dẫn đến suy
giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng.
Năm 1996, Liên minh Châu Âu (EU) đã ký hiệp ước quy định các thành viên trong nhóm
giới hạn thâm hụt ngân sách hàng năm không vượt quá 3% GDP và tổng nợ chính phủ không vượt
quá 60% GDP quốc gia
1.2. Đặc điểm
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công có
những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước. Khác với
các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồm các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ của Nhà
nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợ trực tiếp và trả nợ gián tiếp. Trả nợ trực tiếpđược hiểu
là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước sẽ chịu trách
nhiệm trả nợ khoản vay. Trả nợ gián tiếp là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra
bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách
nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài).
HP: Lý thuyết tài chính công Page 3
3
Nhóm 15
Thứ hai, nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục
đích: Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán
cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; Hai là, đề đạt được những mục tiêu của quá
trình sử dụng vốn. Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan
trọng về mặt chính trị xã hội. Nguyên tắc quản lý nợ công Việt Nam là Nhà nước quản lý thống
nhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo
hai mục tiêu cơ bản trên.
Thứ ba, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế
– xã hội vì lợi ích cộng đồng. Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những

hưu sớm).
Vấn đề tổ chức tài chính và điều hành kinh tế của EU: Do vấn đề về cơ cấu nên EU có
hạn chế về điều hành nền kinh tế của Khối, các chính sách tiền tệ không đi cùng với cải cách thu
thuế và lao động. EU và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng phản ứng chậm với các nền
kinh tế khi gặp khủng hoảng. Bên cạnh đó, nhà kinh tế học Joseph Stiglitz, người đoạt giải thưởng
Nobel kinh tế năm 2001 cho rằng, các biện pháp của các chính phủ hiện nay tập trung vào giảm
thâm hụt ngân sách nên có thể đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng rủi ro.
Áp lực của các nhóm tài phiệt: các nhà đầu cơ, các tổ chức tài chính lớn và các trung tâm
quyền lực kinh tế kinh tế đã thuyết phục được các chính phủ chỉ điều chỉnh thể chế chứ không áp
dụng các biện pháp cải cách các thể chế. Chính phủ các nước phải tốn nhiều tỷ Euro hỗ trợ các
ngân hàng và cho các chương trình hỗ trợ hoạt động kinh tế nhằm cứu ngân hàng và nền kinh tế
không bị đổ vỡ. điều này không tránh khỏi việc nợ công gia tăng. Trong khi đó, các ngân hàng tư
nhân nhận tiền với lãi suất thấp, khoảng 1%, từ các ngân hàng trung ương với mục đích cung cấp
tài chính cho các doanh nghiệp và tư nhân phát triển sản xuất nhưng lại dùng tiền đó để mua nợ
của các chính phủ với lãi suất 4% hoặc 5%.
2.2. Nguyên nhân bên ngoài
Chiến dịch tấn công làm suy yếu đồng Euro: Ngay từ tháng 02/2010, Bộ trưởng xây
dựng Tây Ban Nha José Blanco cho rằng có một chiến dịch tấn công đồng Euro trên các thị
trường thế giới mà mục tiên nhằm vào Tây Ban Nha. Giới đầu cơ đang thực hiện các chiến dịch
nhằm hạ thấp đồng Euro và kiếm lời. Họ chủ yếu đầu cơ trong ngắn hạn. Cũng có một số nhà
kinh tế cho rằng cuộc khủng hoảng này do Anh và Mỹ tạo ra để nhằm hạ đồng Euro. Bởi theo họ,
HP: Lý thuyết tài chính công Page 5
5
Nhóm 15
Anh luôn khó chịu với đồng Euro, còn Mỹ thì cảm thấy bị đồng Euro đe doạ, việc tấn công đồng
Euro cũng để chuyển hướng dư luận về sự yếu kém của đồng đô la Mỹ và đồng Bảng Anh.
Các cơ quan đánh giá rủi ro trái phiếu vào thị trường tài chính: Cuộc khủng hoảng nợ ở
Dubai, các cơ quan đánh giá rủi ro phát hiện có một cuộc khủng hoảng và hạ thấp trái phiếu của
Dubai, thị trường tài chính Dubai chao đảo và giới tài phiệt đầu cơ được thu lời. Tiếp đó, các cơ
quan đánh giá rủi ro tiếp tục đi tìm các khoản nợ chủ quyền khác và họ đã nhắm tới các nước

nghiệp là cho thị trường chứng khoán Mỹ giảm. Tập đoàn đầu tư và đánh giá Moody’s “đổ thêm
dầu vào lửa” khi cảnh báo tài chính công của Mỹ và Anh đang xấu đi. Khi mối đe doạ khủng
khoảng nợ công của Hy Lạp có thể lan sang các quốc gia khác như Tây Ban Nha, Italia và Bồ Đào
Nha… để đối phó với khủng khoảng, các nhà đầu tư buộc phải rời khỏi các nước này, làm cho các
nước rơi vào cảnh thiếu tiền. Vốn đầu tư bị rút khỏi Hy Lạp không ngừng tăng. Chỉ tính riêng
trong tháng 1/2010 đã có 8 đến 10 tỷ Euro bị rút khỏi Hy Lạp, con số này cao hơn số tiền trái
phiếu mà chính phủ Hy Lạp đã phát hành lần gần đây nhất.
Tóm lại, cuộc khủng hoảng nợ công của các nước châu Âu bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân, cả bên trong lẫn bên ngoài. Âm mưu và ý đồ của giời tài phiệt tiếp tục gây áp lực lên thị
trường tài chính nhằm đầu cơ kiếm lời trong ngắn hạn. Gói cứu trợ 750 tỷ Euro có tác dụng trong
ngắn hạn, nhưng về trung hạn, nguy cơ tiềm ẩn vẫn còn cao, vẫn còn có nghi ngờ về các món nợ
công và sự bất ổn tài chính. Tình hình này có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế châu Âu, nhưng cũng
có thể gây ra hiệu ứng đối với cả thế giới.
2.3. Nguồn gốc của những nguyên nhân trên
Tất cả các nguyên nhân trên đều bắt nguồn từ hai hệ lụy chính, đó chính là việc vay nợ mới
trả nợ cũ và nguồn vay chủ yếu là nợ nước ngoài.
 Chúng ta sẽ bắt đầu từ quá khứ: vay nợ mới trả nợ cũ.
HP: Lý thuyết tài chính công Page 7
7
Nhóm 15
Hình : Các cuộc khủng hoảng trong lịch sử
Mỗi khi nền kinh tế suy thoái thì nợ công cũng bắt đầu tăng vọt. Và mỗi khi có bầu cử
hoặc phục vụ cho lợi ích chính trị thì nợ công cũng leo thang. Lý do là chính phủ không nhìn nhận
và tìm ra giải pháp lâu dài cho vấn đề nợ công, mà chỉ chú tâm vào giải pháp nhất thời miễn sao là
qua được kỳ bầu cử là được rồi, hoặc giải quyết vấn đề tam thời.
Nhìn lại những cuộc khủng hoảng trong quá khứ:
Năm 1973: xảy ra một cuộc khủng hoảng dầu mỏ. Các nước OPEC ngừng xuất khẩu dầu
sang các nước ủng hộ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur chống lại Ai Cập và Syria ( gồm
Mỹ, Nhật và Tây Âu), tạo nên cuộc khủng hoảng dầu mỏ đẩy kinh tế Âu Mỹ chìm vào suy thoái.
Đó cũng là lúc Âu Mỹ tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển từ sản suất công nghệ sang dịch vụ tài

những người đòi nhiều tiền hơn cho các cuộc phẫu thuật; các nhà quy hoạch thành phố là những
người quyết định thời gian giấy phép xây dựng được cấp và các quan chức ở địa phương cũng liên
quan đến những vụ việc nhận hối lộ. Thiệt hại mà tham nhũng gây ra cho Hy Lạp ước tính vào
khoảng 8% GDP.
Như vậy, chính phủ đã vay nợ nước ngoài để chi trả chi tiêu trong nước nhưng số tiền vay
này không được sử dụng một cách có hiệu quả và hợp lý, khi đến đáo hạn số nợ vay, chính phủ lại
HP: Lý thuyết tài chính công Page 9
9
Nhóm 15
tiếp tục vay nợ mới trả nợ cũ, gây ra hiệu ứng tuyết lăn. Đến năm 2008, cuộc khủng hoảng tài
chính thế giới bùng nổ và tạo ra ngòi lửa cho cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu.
Theo các chuyên gia kinh tế, bản chất của nợ công không phải xấu bởi mọi chính phủ đều
cần các khoản vay để tăng nguồn đầu tư, thúc đẩy kinh tế phát triển. Song vấn đề là quản lý việc
chi tiêu thế nào cho hiệu quả và có đủ khả năng thanh toán nợ mới là điều cần bàn.
 Hợp đồng hoán đổi nợ xấu: (Credit Default Swap).
Thêm vào đó, các hoạt động đầu cơ bằng công cụ tài chính cực kì nguy hiểm như Credit
Default Swap (hợp đồng hoán đổi nợ xấu) diễn ra sôi nổi, nhằm đánh cược cho một sự sụp đổ tài
chính rất có khả năng xảy ra. Những kẻ đầu cơ lớn nhất hiện nay chính là ngân hàng trung ương,
họ đã vượt qua các quỹ phòng hộ Hedge Funds về quy mô giao dịch tiền tệ.
Credit Default Swap là gì?
Counterparty Risk là rủi ro đối tác. Rủi ro đó có nghĩa là đối tác B của công ty A bất ngờ
có vấn đề về tài chính (phá sản, vỡ nợ, ) khiến B mất khả năng trả nợ khi đến hạn, hoặc không
thể thực hiện hợp đồng đã ký với A được nữa. Lúc này A chịu thiệt hại nặng nề thậm chí mất
trắng. Để phòng ngừa rủi ro này, công ty A cần tìm đến một bên thứ 3 là ngân hàng C, mua bảo
hiểm vỡ nợ hay còn gọi là Hợp đồng hoán đổi nợ xấu (Credit Default Swap - CDS) nhằm giảm
thiểu thiệt hại nếu B phá sản bất thình lình. Ví dụ: trên cùng 1 chiếc xe Jeep có các bánh xe A, B,
C. Nếu B xẹp giữa chừng thì sẽ có C thay vào vị trí của B giúp xe tiếp tục chạy.
Trước đây, Credit rating là một công cụ phổ biến để đánh giá mức độ rủi ro của đối tác của
mình, khi Lehman sụp đổ công ty này vẫn còn được A rating và điều này xóa bỏ mọi sự tin tưởng
của thị trường vào hệ thống credit rating hiện tại. Sự sụp đổ của Lehman mà nguyên nhân chủ yếu

Sự đầu cơ này thật sự đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính của thế giới. Những kẻ
đầu cơ lớn nhất hiện nay chính là ngân hàng trung ương, họ đã vượt qua các quỹ phòng hộ Hedge
Funds về quy mô giao dịch tiền tệ.
Dù nhận thức được bất hợp lý trong việc chuyển sang mô hình kinh tế thiên về tài chính,
nhưng các chính phủ vẫn “ ngựa quen đường cũ” với nền kinh tế “ ảo”, chỉ giải quyết tạm thời
bằng cách vay nợ mới gối đầu nợ cũ và ném phao cứu hộ cho những ngân hàng đang sắp chết
đuối.
 Nợ chủ yếu là nợ nước ngoài
HP: Lý thuyết tài chính công Page 11
11
Nhóm 15
Yếu tố thực sự gây ra khủng hoảng ở châu Âu là nợ nước ngoài khổng lồ đang ngày càng
gia tăng. Vấn đề hiện nay ở khu vực châu Âu được biết đến trên toàn thế giới như là cuộc khủng
hoảng nợ công. Nhưng cuộc khủng hoảng thực sự đang xảy ra chính là khủng hoảng nợ nước
ngoài.
Tại các quốc gia khu vực đồng Euro, điều quan trọng là đảm bảo được hoạt động thu thuế.
Với những quốc gia có nợ công cao nhưng nợ nước ngoài thấp, nợ công chủ yếu do người dân
nắm giữ, và Chính phủ luôn luôn có thể giải quyết vấn đề nợ công bằng một số hình thức thu thuế.
Vì thế, nợ nước ngoài là thành phần chủ yếu gây ra những vấn đề trong khả năng thanh
toán nợ của một quốc gia. Trường hợp ngoại lệ trong vấn đề này chính là Mỹ, giống như những gì
được gọi là “đặc quyền cắt cổ” của nền kinh tế lớn nhất thế giới: nợ nước ngoài của Mỹ lại chính
bằng đồng USD, giúp Chính phủ Mỹ có thể linh hoạt giải quyết các vấn đề nợ công.
Một điều phức tạp hơn nữa là, một quốc gia có nợ nước ngoài cao, trong khi cư dân của họ
cũng nắm giữ một lượng tài sản lớn của nước ngoài. Trong trường hợp này, Chính phủ phải đối
mặt với trường hợp, quốc gia có thể vỡ nợ trong khi người dân của mình vẫn có thể hưởng lợi
nhuận từ tài sản nước ngoài. Ngay cả khi điều này xảy ra, Chính phủ có thể giải quyết bằng cách,
kêu gọi người dân bán tài sản nước ngoài và mua trái phiếu Chính phủ trong nước thay thế.
Một ví dụ đặc trưng là trường hợp của của Argentina năm 2001. Nợ nước ngoài ròng mà
Argentina nắm giữ là không lớn, chỉ tương đương với số tài sản nước ngoài mà khu vực tư nhân
trong nước nắm giữ. Mặc dù vậy, Chính phủ Argentina đã phá sản, bởi vì tầng lớp người giàu thì

HP: Lý thuyết tài chính công Page 13
13
Nhóm 15
ngân sách của nước này cao hơn dự kiến và nước này đang cần một khoản hỗ trợ mới.
(Nguồn:Toàn cảnh khủng hoảng nợ công châu Âu )
Các nhà lãnh đạo châu Âu đang kéo dài cuộc tranh luận về chuyện chọn lựa phương án bởi
vì các bên đều đang cố gắng lựa chọn một phương án có lợi cho mình. Chẳng hạn, một trong
những đề xuất của Pháp (và được Đức ủng hộ) là các chủ nợ tư nhân có thể đảo nợ, biến khoảng
90% các khoản nợ sắp đáo hạn thành các khoản nợ mới kỳ hạn năm năm.
Một đề xuất khác phức tạp hơn là Hy Lạp trả một phần các khoản nợ bằng tiền mặt
(khoảng 30%), phần còn lại thì được xem như là đầu tư lại vào trái phiếu kỳ hạn 30 năm của Hy
Lạp. Những đề xuất kéo dài thời hạn nợ hay đảo nợ kiểu này có thể khiến các tổ chức xếp hạng
tín nhiệm như S&P hạ bậc tín nhiệm của Hy Lạp xuống hạng vỡ nợ vì những giải pháp như vậy
khiến chủ nợ nhận được ít tiền hơn đáng kể so với các khoản cho vay ban đầu.
Một số quan chức các chính phủ châu Âu đang xem xét tới khả năng lựa chọn các đề xuất
cho phép Hy Lạp “vỡ nợ tạm thời”. Những giải pháp này có thể được gói ghém sao cho dù có thể
khiến Hy Lạp rơi vào vỡ nợ tạm thời nhưng sẽ không đủ để tạo ra một “sự kiện tín dụng”, nghĩa
là không đủ để cấu thành lý do khiến các nhà phát hành các hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS-credit
default swaps) phải tiến hành chi trả, như vậy giảm bớt tổn thất đối với các định chế tài chính.
Nhưng phía Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) lại không muốn Hy Lạp bị hạ xếp
hạng tín nhiệm xuống khu vực vỡ nợ. ECB lập luận rằng điều đó có thể phát ra tín hiệu xấu về độ
tin cậy của các trái phiếu do chính phủ châu Âu khác phát hành, đồng thời nếu trái phiếu chính
phủ Hy Lạp bị xếp vào hạng vỡ nợ thì sẽ hạn chế khả năng ECB chấp nhận các trái phiếu của Hy
Lạp làm tài sản cầm cố trong trường hợp hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng nước này. Điều
đó đồng nghĩa hệ thống ngân hàng Hy Lạp gặp nguy cơ thiếu thanh khoản và có thể sụp đổ vì Hy
Lạp không thể tự in tiền ra.
Và cho dù Hy Lạp có nhận được tiền tài trợ mới, được giãn nợ sau cuộc thảo luận lần này
của các quan chức EU (21-7) thì cũng không có nghĩa là Hy Lạp có thể tránh được chuyện bị các
tổ chức xếp hạng tín nhiệm dán nhãn “vỡ nợ”. Điều đó đồng nghĩa với việc mối lo khủng hoảng
nợ sẽ tiếp tục có thể tác động xấu đến thị trường cổ phiếu, nhất là các cổ phiếu ngân hàng, và trái

lớn tương ứng trong khi tăng trưởng của nước này vốn dĩ là chậm chạp còn dân số Ý thì thuộc
nhóm dân số già.
3.3. Nguy cơ vỡ nợ từ Hy Lạp lan sang Ireland rồi đến Bồ Đào Nha
HP: Lý thuyết tài chính công Page 15
15
Nhóm 15
• Ireland
Ireland đã đưa ra các kết quả mới nhất về các ngân hàng nước này. Ngân hàng Trung Ương
đã lên tiếng yêu cầu trợ giúp từ liên minh Châu Âu trong việc kiểm soát chặt chẽ lĩnh vực ngân
hàng do chi phí trang trải các khoản nợ lên tới 70 tỷ Euro, tương đương 99 tỷ USD, một con số nợ
khổng lồ đối với một đất nước tạo ra 171 tỷ USD một năm.
Cuộc khủng hoảng nợ công của Ireland không phải là điều bất ngờ như trường hợp Hy
Lạp. Nhưng những dấu hiệu báo trước đã xuất hiện khá sớm. Trước tiên, đó là một thị trường bất
động sản bong bóng. Trong một thập niên tính đến năm 2007, giá nhà tại Ireland tăng gần gấp 4
lần, thậm chí còn đắt hơn cả những thành phố vẫn được mệnh danh là đắt đỏ trên thế giới như Los
Angeles.
Khi bong bóng bất động sản vỡ tung đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Và khi
chính phủ ra tay cứu trợ ngân hàng – nợ công trở thành gánh nặng cho ngân khố quốc gia.
Ireland đã trở thành quốc gia thứ hai sau Hy Lạp buộc phải thực hiện các biện pháp kinh tế
khắc khổ để đổi lấy khoản cứu trợ khẩn cấp từ IMF và EU, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cuộc
khủng hoảng nợ công tồi tệ như giảm ít nhất 10% mưc lương tối thiểu, tăng thuế giá trị gia tăng,
cắt giảm 25.000 biên chế trong các cơ quan nhà nước…
• Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha thừa nhận thâm hụt ngân sách 2010 của quốc gia này ở mức 8,6 % GDP, cao
hơn nhiều so với mục tiêu 7,3% đặt ra trước đó. Khoản nợ công của Bồ Đào Nha năm 2010 lên
tới 84% GDP. Nghiêm trọng hơn, 70% các khoản nợ của Bồ Đào Nha là nợ nước ngoài. Điều này
đòng nghĩa với việc quốc gia này khó có thể xoay xở hay trì hoãn khi bợ đáo hạn.
Cuộc khủng hoảng nợ công cũng khiến cho tình hình chính trị của nước này cũng bị chia rẽ
sâu săc. Quốc hội Bồ Đào Nha đã bác bỏ chương trình thắt lưng buộc bụng của chính phủ nhằm
hạn chế tác động của cuộc khủng hoảng tài chính của thủ tướng Bồ Đào Nha Ajose Socrates,

trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn lại làm cho tiết kiệm quốc gia (national saving) giảm và
kèm theo đó là những hệ lụy khác. Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh
(1772-1832) lại cho rằng mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ không có tác động
đến tiêu dùng như quan điểm về nợ truyền thống, kể cả trong ngắn hạn. Ngược lại, nó sẽ làm các
khoản tiết kiệm tư nhân tăng lên bởi người dân đang chuẩn bị cho mức thuế cao sẽ đến trong
HP: Lý thuyết tài chính công Page 17
17
Nhóm 15
tương lai để chi trả lãi và gốc cho các khoản nợ hiện tại. Trong thực tế, hai quan điểm luôn tồn tại
song hành. Vì vậy, để đưa ra nhận định quan điểm nào phù hợp với từng thời điểm của quốc gia
còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng, đó là hành vi của người tiêu dùng.
Xét về mặt tích cực, Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như là một công cụ để
tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, khuyến khích
phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế. Giải pháp tăng nợ công để bù đắp thâm hụt
ngân sách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích tiêu dùng, tăng sản lượng, việc làm, tăng
tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong dài hạn, một khoản nợ chính phủ lớn cũng là nguyên
nhân khiến cho lãi suất tăng, đầu tư giảm, tiết kiệm giảm và khuyến khích luồng vốn từ nước
ngoài chảy vào, từ đó làm cho sự tăng trưởng sản lượng tiềm năng quốc gia chậm lại. Nợ công
tăng cao, vượt quá giới hạn an toàn sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép
từ bên trong lẫn bên ngoài quốc gia. Cụ thể những tác động này của nợ công đến nến kinh tế như
sau:
Thứ nhất, nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân (private saving), dẫn đến hiện
tượng thoái lui đầu tư tư nhân.
Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tích lũy vốn tư nhân sẽ
được thay thế bởi tích lũy nợ chính phủ. Thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hay gửi
tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở hữu trái phiếu chính phủ làm cho cung về vốn giảm trong
khi cầu tín dụng của chính phủ lại tăng lên, từ đó đẩy lãi suất tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể
dẫn đến hiện tượng “thoái lui đầu tư” khu vực tư nhân (crowding-out effect). Để làm rõ vấn đề
này, chúng ta xét mối quan hệ cung- cầu trên thị trường tín dụng.

Biểu đồ: Tác động của nợ công đến lãi suất
Xoay xở với vấn đề thâm hụt
ngân sách và nhu cầu chi trả cho các
khoản nợ công ngày càng tăng cao, thị
trường tài chính của các quốc gia Hy
Lạp, Italy, Tây Ban Nha đang đứng
trước những cơn sốt khi lãi suất trái
phiếu chính phủ của các quốc gia này
liên tục tăng cao và đạt đến mức kỷ
lục kể từ khi tham gia vào khu vực
đồng tiền chung Euro. Thời điểm
tháng 8/2011, lãi suất trái phiếu Chính
phủ Tây Ban Nha kỳ hạn 10 năm tăng
lên tới 6,45%, tại Italy lãi suất trái
phiếu kỳ hạn 10 năm cũng lên tới 6,18% gần bằng lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp (TPCP kỳ
hạn 10 năm với lãi suất hơn 7,8%) tại thời điểm quốc gia này phải cầu cứu các khoản cứu trợ
quốc tế bởi nguy cơ vỡ nợ công.
Các đợt trái phiếu được phát hành liên tục với lãi suất ngày càng tăng cao đã làm các nhà
đầu tư lo ngại về khả năng thanh toán khi đáo hạn, nhiều nhà đầu tư đã ồ ạt bán rẻtrái phiếu của
các quốc gia này khi nguy cơ khó khăn về nợ công đang ngày càng trởnên trầm trọng hơn. Bên
cạnh đó, để cứu trợ cho khủng hoảng nợ công của Hy Lạp, khu vực tư nhân đã đóng góp 50 tỉ
euro trong tổng gói cứu trợ thứ hai trị giá 109 tỉ euro (155 tỉ USD) của IMF nhằm tái cấu trúc các
khoản nợ, ngăn chặn sự lây lan sang các nền kinh tế Châu Âu khác, củng cố lại giá trị của đồng
Euro.
HP: Lý thuyết tài chính công Page 19
19
Nhóm 15

Biểu đồ: Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm (Nguồn: Bloomberg.com)
Thứ hai, nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia (national saving)

vốn nước ngoài hơn. Trong trường hợp này, thu nhập người dân nội địa sẽ giảm, tiết kiệm quốc
gia giảm. Giảm xuất khẩu ròng cũng là một trong những nhân tố dẫn đến thâm hụt cán cân thương
mại.
Đặc biệt, khi thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại cùng xảy ra sẽ dẫn đến
hiện tượng “thâm hụt kép” gây tác động tiêu cực đến sự phát triển nền kinh tế.
Hậu quả thiên tai đã khiến cho Chính phủ Nhật Bản phải tăng chi ngân sách để tái thiết đất
nước. Những khoản chi này sẽ làm trầm trọng thêm gánh nặng nợ công vốn đã rất cao của Nhật
Bản (95.000 tỷ Yên, tương đương 200% GDP năm 2010). Mặc dù là quốc gia có truyền thống tiết
kiệm nội địa cao, nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng ngày càng giảm đi: từ mức 10% tổng thu
nhập quốc dân năm 1990 xuống 5% vào cuối thập kỷ 90 và chỉ còn trên 2% vào năm 2009. Khi
đối mặt với vấn đề thiếu vốn, Nhật Bản có thể từ một nước xuất khẩu trở thành nước nhập khẩu
vốn. Dòng vốn nước ngoài đổ vào Nhật tăng khiến cho tỷ giá giữa đồng Yên và các đồng tiền
khác tăng cao, gây bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Có đến 40% doanh nghiệp Nhật Bản
sẵn sàng di dời cơ sở sản xuất để tránh tác động của sự tăng giá đồng Yên này, điều này làm cho
mạng lưới công nghiệp và sản xuất quốc gia bịtổn hại và đe dọa trực tiếp đến việc làm, thu nhập
của người dân.
Thâm hụt ngân sách của Nhật Bản ở mức cao (chiếm khoảng 7% GDP), nợ công ngày càng
tăng cùng tỷ lệ tiết kiệm dân cư có xu hướng giảm sẽ sớm dẫn đến nguy cơ làm cho tiết kiệm
quốc dân của Nhật Bản giảm, thậm chí có thể rơi vào trạng thái âm, cản trở tốc độ tăng trưởng
kinh tế.
HP: Lý thuyết tài chính công Page 21
21
Nhóm 15
Thứ ba, nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát
Lạm phát được tạo ra do hai nguyên nhân chính: Do tổng cầu tăng lên hoặc do chi phí đẩy.
Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của chính phủ tăng lên,
một mặt sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao.
Khi tăng vay nợ trong nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tăng giá thành và giá bán
sản phẩm. Bên cạnh đó lãi suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ cảm thấy mình trở nên
giàu có hơn và có thể tiêu dùng nhiều hơn. Tiêu dùng tư nhân tăng, chi tiêu công của chính phủ

trọng gây ra tình trạng trì trệ trong phát triển kinh tế và lạm phát tăng cao hiện nay (dự báo
khoảng 19% năm 2011 theo IMF).
HP: Lý thuyết tài chính công Page 23
23
Nhóm 15
Thứ tư, nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội.
Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ trong nước hay vay nước ngoài thì đều có tác
động làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội. Nếu vay nước ngoài, nguồn
để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ các khoản thu thuế. Người dân phải chịu một khoản thuế
cao hơn trong tương lai để trả lãi cho các đối tượng ngoài quốc gia sẽ làm giảm thu nhập, giảm
tiêu dùng từ đó giảm chất lượng cuộc sống.
Vay trong nước có thể được coi là ít tác động hơn bởi lý do chính phủ nợ chính công dân
nước mình và cũng chính họ là người được hưởng thụ các lợi ích do các khoản chi tiêu công tạo
ra. Tuy nhiên, ngay cả khi một người bị đánh thuế để trả lãi cho chính họ do đang sở hữu trái
phiếu chính phủ thì vẫn có những tác động khiến cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp
méo. Dù cho Chính phủ dùng loại thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sản…), đánh
thuế dưới hình thức nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn đến những sai lệch trong các hoạt động
kinh tế của một cá nhân như thay đổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt
động kinh tế vi mô, vĩ mô khác như: sản xuất, việc làm, Bên cạnh đó, việc tăng thuế để trả lãi vô
hình chung đã tạo ra sự phân phối lại thu nhập giữa những người nộp thuế và người sở hữu trái
phiếu chính phủ, theo đó người nộp thuế chắc chắn phải gánh chịu sự suy giảm về thu nhập, tiêu
dùng hoặc tiết kiệm.
Để tránh nguy cơ vỡ nợ, sức ép cắt giảm nợ công đã buộc nhiều quốc gia Châu Âu phải
cam kết thực hiện hàng loạt các chính sách “thắt lưng buộc bụng” nhằm đổi lấy các gói cứu trợ từ
HP: Lý thuyết tài chính công Page 24
24
Nhóm 15
phía các tổ chức tài chính quốc tế, từ liên minh Châu Âu, IMF Trong khi Bồ Đào Nha phải cắt
giảm chi tiêu công đến mức “không thể chịu đựng được” nhằm mục đích kéo nợ công về số 0
trong vòng 5 năm tới, thì Hy Lạp cũng đang phải đối diện với những chính sách hà khắc như: cắt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status