VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HOÀNG THUỲ VÂN
DI CHUYỂN LAO ĐỘNG Ở TRUNG QUỐC
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG HOÀNG THUỲ VÂN
DI CHUYỂN LAO ĐỘNG Ở TRUNG QUỐC
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XXI ĐẾN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số
: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Computable General
Nghĩa tiếng Việt
Cân bằng tổng thể Khả toán
1
CGE
2
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
3
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
4
GNP
Gross National Product
Organization
Labor Contract Law
Thông tin và công nghệ
truyền thông
Tổ chức lao động quốc tế
Luật hợp đồng lao đồng
Ministry of Human
9
MOHRSS
Resources and Social
Bộ nhân lực và An sinh xã
Security of the People’s
hội Trung Quốc
Republic of China
Doanh nghiệp đa quốc gia
10
MNEs
Multinational enterprises
Biểu đồ 2.4. Số lượng lao động tại Trung Quốc được tham gia bảo hiểm tai nạn lao
động (triệu người) ..................................................................................................... 47
Biểu đồ 2.5. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của lao động di cư nông thôn (20082013)...... ................................................................................................................... 51
Biểu đồ 2.6: Dự báo hướng di chuyển lao động thời kỳ từ 1999-2024……...63
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với các quốc gia đang phát triển, cùng với các nhân tố sản xuất thì lao
động được xem là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển - cũng là nguồn lực bị
dư thừa nhiều nhất. Các nước đang phát triển được đặc trưng bởi nền kinh tế kép
(dual economy) có lực lượng lao động dư thừa nhiều trong nông nghiệp và năng
suất lao động nông nghiệp thấp. Vì vậy, di chuyển lao động là một trong những
cách thức khai thác, tận dụng nguồn lao động dư thừa và phân bổ nguồn lực hiệu
quả nhất. Tuy nhiên, tác động của di chuyển lao động lại là khác nhau đối với
mỗi quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm của từng nền kinh tế. Di chuyển lao động
không phải luôn là động lực của tăng trưởng kinh tế thành công, thậm chí đôi
khi nó gây ra những bất bình đẳng về kinh tế và xã hội do bản chất tự phát và sự
kìm hãm của tổ chức hành chính.
Từ sau khi cải cách và chuyển đổi nền kinh tế năm 1978, làn sóng dịch
chuyển lao động của Trung Quốc bắt đầu gia tăng cả ở trong nước và ngoài
nước. Ở trong nước, một dòng chảy lao động lớn từ nông thôn ra thành thị sau
cải cách kinh tế và thể chế đất nước. Theo Chính phủ Trung Quốc, tỷ trọng dân
số thành thị ở Trung Quốc đã tăng đáng kể từ 18% năm 1978 lên 31% vào cuối
thế kỷ 20 [52]. Chính sách di chuyển lao động là một phần trong chính sách phát
triển của Trung Quốc. Bằng việc thừa nhận di chuyển lao động là công cụ thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, chính phủ Trung Quốc luôn điều chỉnh chính sách lao
động phù hợp với từng giai đoạn cải cách và phát triển. Tuy nhiên, cũng giống
như nhiều nước đang phát triển khác, các vấn đề thất nghiệp, bất bình đẳng và
thị, qua đó cho thấy việc nữ lao động di chuyển gặp phải rất nhiều vấn đề, đặc
biệt là vấn đề xã hội. Thực trạng này đã xảy ra ở hầu hết tất cả các quốc gia,
trong đó có Việt Nam. Sau khi phân tích thực tế, các tác giả cũng đưa ra một số
kiến nghị nhằm đảm bảo quyền lợi cho nữ lao động di chuyển.
2
Tác giả Đặng Nguyên Anh (2009) [1] với công trình “Di dân đến khu đô
thị và các khu công nghiệp - Thực trạng và một số vấn đề chính sách qua
nghiên cứu đánh giá tư liệu 2004 – 2009” đã nêu lên một vấn đề người lao
động di chuyển tới các khu công nghiệp để làm việc. Trong công trình này, tác
giả tập trung nghiên cứu thực trạng của việc di dân đến các khu đô thị và khu
công nghiệp của Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2009, thông qua phân tích,
đánh giá các tư liệu tác giả cho thấy việc di dân này rất bất cập, người di
chuyển chưa được đáp ứng đầy đủ các điều kiện lao động, điều kiện sinh
hoạt,… từ đó tác giả đã đưa ra một số kiến nghị về chính sách di dân của Việt
Nam trong thời gian tới.
Trong hai tác phẩm: “Những vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay”
của Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai [8] và “Những vấn đề toàn cầu trong hai
thập niên đầu thế kỷ XXI”của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn [5] làm chủ biên
đều tập trung mô tả tình hình và một số xu thế lớn của hiện tượng di chuyển lao
động quốc tế, chủ yếu là trong nửa cuối thể kỷ XX, đồng thời chỉ ra những
nguyên nhân cơ bản của vấn đề này. Trong đó những nước đang phát triển là
nguồn của lao động di cư, đặc biệt là di cư lao động kể từ những năm cuối thế
kỷ XX, ngược lại, các nước phát triển của phương Tây và Trung Đông thu hút
nhiều người di cư quốc tế. Bên cạnh đó, những kinh nghiệm từ hoạt động xuất
khẩu lao động, du học của một số quốc gia trên thế giới cũng được phân tích, từ
đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về lao động di cư trên các tạp chí lớn như
chuyển lao động đến phát triển kinh tế, các vấn đề tồn tại và nguyên nhân. Tác
giả cũng đưa ra một số các khuyến nghị chính sách sử dụng lao động di chuyển
một cách hợp lý và hiệu quả.
Trong công trình nghiên cứu “Order (and Disorder) at the Border:
Mobility, International Labour Migration and Border Controls in Southeast
Asia, in Mobility, Labour Migration and Border Controls in Asia” (Di chuyển
lao động, di chuyển lao động quốc tế và kiểm soát biên giới ở Đông Nam Á, di
4
chuyển lao động, di chuyển lao động quốc tế và kiểm soát biên giới ở Châu Á)
của tác giả Kaur, A, (2006) [2], ông đã chỉ rõ di cư lao động là một tính năng nổi
trội của lịch sử lao động khu vực Đông Nam Á từ năm 1870, phù hợp với biên
giới mở, hội nhập gia tăng của khu vực vào nền kinh tế toàn cầu. Sau khi Chiến
tranh thế giới thứ hai và giải phóng thuộc địa, pháp luật hạn chế đã được đưa ra
để ngăn chặn di cư lao động phổ thông vào khu vực. Từ năm 1970 trở đi, nhu
cầu thị trường lao động thay đổi. Mục tiêu di cư và các dòng di cư cũng thay đổi
và nhằm vào quốc tịch, chủng tộc, nguồn gốc địa lý, giới tính và kỹ năng của
người di cư, do đó di cư tự do đã mở đường cho chính sách di cư hạn chế và
tăng cường kiểm soát biên giới, các biện pháp thực thi nội bộ phức tạp hơn, và
hình thành một khu vực gồm nhiều quy định và thủ tục hành chính. Mặc dù có
các biện pháp khuyến khích kinh tế cho người lao động di chuyển, tuy nhiên
việc hạn chế nhập cư và tăng cường kiểm soát biên giới ở các nước xuất khẩu
lao động hiện nay đã tạo thành rào cản chính đối với di cư lao động quốc tế
trong khu vực. Cũng chính Amarjit Kaur (2016) [1] với công trình “Managing
the Border: Regulation of International Labour Migration and State Policy
Responses to Global Governance in Southeast Asia” (Quản lý biên giới: Quy
định về di chuyển lao động quốc tế và chính sách nhà nước trong Quản trị toàn
cầu tại khu vực Đông Nam Á), University of England. Đã nêu lên vấn đề di
chuyển lao động tại biên giới các quốc gia Đông Nam Á, nơi mà diễn biến di
Ding Lu (2009) [35], The Economic Consequence of Labour Mobility in
China's Regional Development, The Earth Institute at Columbia University and
the Musachusetts Institute of Technology. Di chuyển lao động đóng một vai trò
quan trọng trong sự tăng lên của mức thu nhập khu vực. Bài viết này xem xét vai
trò của di chuyển lao động trong phát triển kinh tế khu vực của Trung Quốc
trong quá trình chuyển đổi nhân khẩu học và sự tồn tại của các rào cản về thể
chế. Những phát hiện của tác giả cho thấy rằng hai nguồn quan trọng nhất của sự
chênh lệch thu nhập liên vùng đều là giá cổ phiếu vốn lao động và trình độ công
nghệ. Giải thích hiện tượng này qua 2 nguyên nhân: Một là, vốn và phong trào
6
lao động chỉ đóng vai trò hạn chế trong cân bằng lợi nhuận cận biên của họ trên
khắp khu vực bất chấp thực tế là vai trò của di chuyển lao động đã tăng đáng kể
từ năm 2000. Hai là, do tác động của những thay đổi nhân khẩu học với tăng
trưởng thu nhập đã không đồng đều giữa các vùng giàu và vùng nghèo. Đây là
hiện tượng phổ biến của di cư lao động liên vùng Trung Quốc.
Ngoài những công trình nhằm đưa ra khung lý thuyết về di chuyển lao
động quốc tế, cả ở trong nước lẫn ngoài nước đều còn rất nhiều nghiên cứu thực
tiễn hiện đại tập trung phân tích các vấn đề liên quan để tìm ra xu hướng, quy
luật vận động của các dòng di chuyển. Trong các nghiên cứu thực tiễn hiện đại
về di chuyển lao động thì vấn đề di chuyển lao động lại được đề cập khá nhiều ở
các phạm vi khác nhau.
2.3. Đánh giá chung
Như vậy, có thể thấy, hầu hết các nghiên cứu tập trung bàn luận khá sâu
sắc về vấn đề di chuyển lao động quốc tế nói chung kể cả lý thuyết và thực tiễn.
Những công trình nghiên cứu về di chuyển lao động chủ yếu là các vấn đề thực
tiễn. Các tác giả tập trung vào việc xem xét hệ thống các chính sách phù hợp cho
các Chính phủ các quốc gia thành viên. Cũng có thể nhận thấy, lý thuyết về di
chuyển lao động nội khối còn khá khiêm tốn và còn thiếu vắng các công trình có
nước của Trung Quốc.
Về không gian: Di chuyển lao động trong nước tại Trung Quốc
Về thời gian: Từ sau giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế vào năm 1978 tới
nay đặc biệt là từ đầu thế kỷ XXI.
Đề tài tập trung nghiên cứu với trường hợp điển hình của nền kinh tế
Trung Quốc và những tác động của di chuyển lao động tới sự phát triển kinh tế
Trung Quốc trong gần hai thập niên qua.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, trên cơ sở phương
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu như:
8
Phương pháp phân tích, đánh giá được sử dụng để phân tích các dữ liệu,
số liệu rồi đánh giá những vấn đề còn tồn tại liên quan đến đề tài luận văn, lựa
chọn và xác định những vấn đề thuộc nội dung luận văn cần và sẽ tập trung giải
quyết. Phương pháp lịch sử nhằm tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của vấn
đề di chuyển lao động tại Trung Quốc, nhiệm vụ của phương pháp lịch sử là
thông qua các nguồn tư liệu để nghiên cứu và phục dựng đầy đủ các điều kiện
hình thành, quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
của các sự kiện, hiện tượng, đồng thời đặt quá trình phát triển đó trong mối quan
hệ tác động qua lại với các nhân tố liên quan khác trong suốt quá trình vận động
của chúng, từ đó có thể dựng lại bức tranh chân thực của sự vật, hiện tượng như
đã xảy ra.
Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu tổng quát các sự kiện,
hiện tượng lịch sử, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, không cơ bản để làm bộc lộ
bản chất, tính tất yếu và quy luật vận động và phát triển khách quan của sự kiện,
hiện tượng lịch sử đang “ẩn mình” trong các yếu tố tất nhiên lẫn ngẫu
nhiên phức tạp.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DI CHUYỂN LAO ĐỘNG
1.1. Khái quát về di chuyển lao động
1.1.1. Khái niệm lao động, thị trường lao động và di chuyển lao động
Trong cuối thể kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, việc di chuyển lao động trong
nước và quốc tế đã trở nên quen thuộc với số lượng ngày càng tăng. Đó là do
sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang có những chuyển biến về chất
và không đồng đều giữa các vùng trong nước và giữa các quốc gia dựa trên cơ
sở phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật. Thực tế cho thấy, sức lao động của
các quốc gia có dư thừa lao động đến giai đoạn hiện nay đã được xem như là
một loại hàng hoá có thể mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho ngân sách quốc
gia. Do vậy, để nghiên cứu về di chuyển lao động trước hết cần phải tìm hiểu và
làm rõ các khái niệm có liên quan:
Lao động (labour): là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người
nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực
chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho
xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản
xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Có thể nói lao động là
yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.
Thị trường lao động (labour market) hoặc thị trường sức lao động là nơi
thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm
thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các
hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc
khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông
qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác.
Di chuyển lao động (labour movement) còn gọi là di cư lao động (labour
chuyển phố trong một khoảng thời gian nhất định. Là một quá trình di chuyển từ
khu vực kém phát triển hơn đến khu vực phát triển hơn;
13
Di chuyển lao động quốc tế được định nghĩa là sự di chuyển của người lao
động từ nước này sang nước khác với mục đích tìm kiếm việc làm.
Như vậy, di chuyển lao động về cơ bản là sự phản ứng những thay đổi về
phân bổ nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, trật tự thế giới, sự biến đổi của môi
trường, sự phát triển của kinh tế và công nghệ… Con người di chuyển từ nơi này
đến nơi khác nhằm tận dụng lợi thế về điều kiện, khí hậu, nguồn tài nguyên
thiên nhiên để có được nguồn thu nhập cao hơn, có nhiều việc làm hơn hoặc để
thoát khỏi sự phân biệt đối xử.
1.1.2. Nguyên nhân di chuyển lao động
Di chuyển lao động quốc tế được thúc đẩy bởi các nhân tố cầu đẩy (push)
và cầu kéo (pull). Nhân tố cầu đẩy là các nhân tố từ phía cung (supply), khuyên
khích mong muốn di chuyển và các nhân tố kéo xuất phát từ phía cầu (demand).
Từ phía cung, thu nhập cao hơn ở các nước chủ nhà là nhân tố chính quyết định
sự di chuyển lao động, trong khi từ phía cầu là việc sử dụng lao động chuyên
môn cao với chi phí thấp hơn và do thiếu lao động có chuyên môn cao của các
nước chủ nhà trong một số lĩnh vực.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng di chuyển lao động nhưng tình
trạng bất bình đẳng là nguyên nhân chính thúc đẩy con người di chuyển nơi làm
việc. Bên cạnh đó, khủng hoảng tài chính toàn cầu thúc đẩy lao động di chuyển
tại các khu vực trong nước và ra quốc tế, hiện tượng này tại các nước đang phát
triển diễn ra ngày càng tăng nhanh. Di chuyển lao động là vấn đề tất yếu mà các
quốc gia đang phát triển phải đối mặt trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế.
Mục đích duy nhất của sự di chuyển lao động nhằm tạo dựng một cuộc sống đầy
đủ hơn cho bản thân, gia đình và xã hội.
Bungari...
Thứ tư, do có sự chênh lệch về mức thu nhập và mức sống giữa người lao
động tại địa phương này với địa phương trong một nước hoặc người lao động
trong nước và người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Vì lý do này mà nhiều
15
người dù không thuộc đội quân thất nghiệp nhưng vẫn muốn đi lao động tại nơi
khác để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống bản thân và gia đình.
Thứ năm, do xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, lực lượng sản xuất
phát triển, nền sản xuất lớn không thể bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia
mà mở rộng ra nhiều nước, việc sử dụng lao động mang tính quốc tế. Hơn nữa,
việc tăng cường xuất khẩu công nghệ, bao thầu công trình quốc tế sẽ tất yếu kèm
theo việc phát triển di chuyển lao động.
1.1.3. Phân loại lao động di chuyển
Di chuyển lao động diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau gồm:
Theo pháp lý
Bao gồm: Di chuyển lao động có tổ chức (di chuyển lao động hợp pháp)
và Di chuyển lao động không hợp pháp. Di chuyển lao động có tổ chức: diễn ra
trong khuôn khổ chương trình của nhà nước, trong trường hợp này những người
di chuyển lao động thường nhận một khoản trợ cấp hỗ trợ và thường di chuyển
nơi ở thường trú của gia đình. Di chuyển lao động hợp pháp: là việc chuyển đến
nơi sinh sống mới do bản thân người di chuyển lao động tự quyết định bao gồm
cả việc lựa chọn địa bàn nhập cư, tổ chức di chuyển, cũng như trang trải mọi phí
tổn và tìm việc làm…
Di chuyển lao động bất hợp pháp: là việc chuyển đến nơi ở mới giống như
di chuyển lao động hợp pháp, tuy nhiên người di chuyển lao động lờ đi các quy
định và cố gắng tránh liên lạc với các cấp chính quyền.
Theo nơi đi và nơi đến
Tại mỗi nơi đến thường đưa ra những điều kiện cho những người nhập cư
vào sinh sống hay hoạt động kinh tế trên địa bàn của mình. Điều đó tạo nên
những dạng khác nhau của người di chuyển.
Di chuyển lao động với mục đích định cư: người lao động muốn rời bỏ
quê hương để cư trú vĩnh viễn tại nơi đến, tuy nhiên người lao động muốn nhập
cư phải đáp ứng được rất nhiều điều kiện mà nơi đến đặt ra.
17
Di chuyển lao động với mục đích kinh tế - lao động: Đây là dạng phổ
biến, vì đa phần người di chuyển lao động di chuyển tới nơi khác là để tìm kiếm
cơ hội việc làm có mức thu nhập cao hơn. Tuy nhiên, các công việc mà người di
chuyển tới làm thường bị giới hạn. Người di chuyển lao động thường chỉ gắn
liền với một công việc cụ thể và một người thuê lao động trong suốt thời gian họ
chuyển tới.
Những cách phân loại trên tuy không hoàn toàn đầy đủ nhưng cũng giúp
chúng ta hiểu thêm về vấn đề di chuyển lao động. Mỗi học giả, quốc gia hay tổ
chức lại đưa ra một cách phân loại riêng, dựa trên những tiêu chí khác nhau để
tìm ra các loại hình thích hợp. Sự phân loại chỉ mang tính chất tương đối và có
nhiều điểm đan xen lẫn nhau. Xác định được những loại hình phù hợp sẽ tạo
điều kiện cho các cơ quan, tổ chức nói riêng và cộng đồng tìm ra cách quản lý,
giúp đỡ và bảo vệ người lao động một cách hiệu quả.
1.1.4. Đánh giá tác động của di chuyển lao động tới phát triển kinh tế
Di chuyển lao động là khái niệm phát triển được quốc tế thừa nhận rộng
khắp ở các nước đang phát triển. Tuy nhiên tác động của di chuyển lao động
khác nhau giữa các nước. Trong nội bộ quốc gia, di chuyển lao động không phải
luôn luôn là động lực của tăng trưởng kinh tế thành công, thậm chí đôi khi nó
gây ra những bất bình đẳng về kinh tế và xã hội do bản chất tự phát và sự kìm
hãm của tổ chức hành chính. Trong phạm vi quốc tê, nếu như di chuyển lao
tiền người lao động gửi về nhà được chia là hai phần: một phần gia đình chi tiêu
vào việc nâng cao mức sống, chăm sóc sức khỏe của gia đình đặc biệt là chi tiêu
cho việc học tập của con cái góp phần nâng cao dân trí; một phần lớn dành để
tiết kiệm nhằm mục đích đầu tư trong tương lai. Di chuyển lao động ra làm việc
ở nước ngoài góp tăng chi tiêu hộ gia đình và tăng đầu tư tư nhân trong dài hạn.
Để tăng chất lượng nguồn lao động di chuyển, Chính phủ phải đầu tư về cơ sở
vật chất, đội ngũ giảng viên và các điều kiện khác đảm bảo cho việc đào tạo và
đào tạo lại người lao động. Điều này sẽ làm tăng chi tiêu của Chính phủ. Khi chi
19
tiêu cho đầu tư của Chính phủ tăng sẽ góp phần làm tăng GDP cả trong ngắn hạn
và dài hạn, điều này cũng làm tăng tri thức cho dân di cư lao động. Bên cạnh đó,
trình độ người lao động đi làm việc ở nước ngoài được nâng cao nhờ được đào
tạo và đào tạo lại trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Chính người lao động
đi làm việc ở nước ngoài sẽ là động lực của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vì đây là nguồn lao động có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư
theo chiều sâu.
Những nhân tố thúc đẩy sự tăng nhanh di chuyển lao động chuyên môn
cao gồm: những thay đổi công nghệ, đặc biệt phát minh mới trong công nghệ
thông tin viễn thông ICT; toàn cầu hóa thị trường sản xuất và liên kết thông qua
thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI; khu vực hóa
các doanh nghiệp đa quốc gia MNEs; tiếp cận các lĩnh vực phát minh mới, cơ
hội kinh doanh công nghệ cao; chuyển giao công nghệ và quốc tế hóa các hoạt
động nghiên cứu và phát triển (R&D) các công ty quốc gia. Các nhân tố này có
vai trò rất quan trọng trong làn sóng di chuyển lao động chuyên môn cao ở các
nước phát triển và đang phát triển. Hơn nữa, các nhân tố như sự khác nhau trong
thị trường lao động, trong chi trả cho chuyên môn, trong cơ hội tìm việc và triển
vọng nghề nghiệp... vẫn tiếp tục được coi là những xu hướng chính của di