Vai trò của hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Phạm Thị Hiếu VAI TRÒ CỦA HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)
CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.NGUYỄN QUANG THUẤN

Hà Nội 2007

ii

MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT
TẮT………………………………… ……… ………
v
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH…………………… ………………………….…
vi
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………… …
01
CHƢƠNG 1: VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ODA VÀ SỰ CẦN
THIẾT CỦA ODA NHẬT BẢN……………………………………………………

05
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về ODA….……………… ………
05
1.1.1. Khái niệm về ODA …………………….…………… ………
05
1.1.2. Các hình thức ODA………………………………………………

26
2.1.Thực trạng ODA của Nhật Bản ở Việt Nam………………
26
2.1.1. Tình hình ký kết vốn ODA……………………………… ……
26
2.1.2.Tình hình thực hiện giải ngân ODA………………………………
28
2.1.3. Tình hình quản lý và sử dụng ODA ………………………… …
32 iii
2.2. Vai trò của ODA Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế xã hội của
Việt Nam…………………………………………………………………

34
2.2.1. Bổ sung nguồn vốn………………………………………………
34
2.2.1.1. ODA cho cải thiện hạ tầng kinh tế………………………………
34
2.2.1.2. ODA của Nhật Bản cho cải thiện môi trường xã hội……………
38
2.2.2. Chuyển giao thành tựu khoa học kỹ thuật………………………….
42
2.2.3. Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực
45
2.2.4. Điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa

46

Kết luận Chƣơng 3
75
KẾT LUẬN
78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
80 iv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương
BOT Hợp đồng hợp tác kinh doanh
CCKT Cơ cấu kinh tế
CIDA Cơ quan phát triển quốc tế Canada
DAC Ủy ban viện trợ phát triển của tổ chức hợp tác phát triển kinh tế
DANIDA Cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch
DFID Bộ phát triển quốc tế Anh
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HSC Cam kết Hà Nội
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
IRR Tỷ suất hoàn vốn nội bộ
JBIC Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
JICA Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

Bảng 2.5: Tỷ trọng của kinh tế Nhà nước trong từng khu vực
50
Danh mục Hình
Trang
Hình 2.1: Tỷ lệ vốn ODA cam kết của Nhật Bản trong tổng
ODA cam kết
28
Hình 2.2: ODA giải ngân của Nhật Bản trong tổng vốn ODA
giải ngân của cộng đồng tài trợ Quốc tế 2001-2005
32
Hình 2.3: Đóng góp của ODA Nhật Bản cho GDP của Việt
Nam giai đoạn 1992 - 2000
55 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hai mươi năm đổi mới (1986-2006) Việt Nam đã đạt được những
thành tựu cực kỳ to lớn trên tất cả các mặt. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng
khá cao, GDP liên tục qua các năm bình quân khoảng 7,5%/năm. Cơ cấu kinh

1.Vũ Ngọc Uyên, (2006), Vai trò của viện trợ phát triển chính thức
trong tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế học, Viện kinh
tế Việt Nam, Hà Nội. Tác giả đã khái quát “Những vấn đề lý thuyết phân tích
đóng góp của viện trợ phát tiển chính thức vào tăng trưởng” và đánh giá,
phân tích một số tác động của ODA ở tầm vi mô đối với tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam đến năm 2004. Tài liệu cũng đưa ra một số chính sách nhằm tăng
cường đóng góp của ODA cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
2. Nguyễn Yến Hải, (2000), Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, Luận văn thạc sỹ,
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Tác giả đã đánh giá khái quát hiệu quả vĩ
mô của ODA đối với phát triển kinh tế xã hội đến năm 1999 và đưa ra một số
giải phát nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA ở Việt Nam.
3. Trần Tuấn Anh, (2004), ODA của Nhật Bản cho các nước Đông Nam
Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Hà Nội. Tác
giả đã đánh giá tình hình ký kết và giải ngân ODA của Nhật Bản cho Việt
Nam đến năm 2002. Tài liệu này cũng cung cấp một số bài học kinh nghiệm
của một số nước về thu hút và sử dụng ODA đối với Việt Nam.
4. Nguyễn Duy Dũng, (2003), “Vai trò của Viện trợ phát triển chính
thức của Nhật Bản cho Việt Nam và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Đông Bắc
Á, số 4/2003. Tác giả đã nêu ra một số vai trò của ODA Nhật Bản đối với
phát triển kinh tế Việt Nam và một số vấn đề tồn tại trong quản lý và sử dụng
ODA của Nhật Bản ở Việt Nam,… 3
Nhìn chung các tài liệu nghiên cứu trên phần lớn là nghiên cứu về ODA
nói chung và ODA của Nhật Bản cho Việt Nam dưới góc độ chính sách phân
bổ nguồn vốn. Ngoài ra, có một số bài viết đề cập đến vai trò của ODA Nhật
Bản đối với phát triển kinh tế Việt Nam đăng tải trên các tạp chí kinh tế
chuyên ngành, có riêng trang Web đăng tải các thông tin về ODA Nhật Bản

Luận văn sử dụng hệ thống phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin,
cụ thể là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp
tổng hợp, phân tích, so sánh, phương pháp thống kê số học để xử lý số liệu.
Ngoài ra, còn sử dụng kế hợp phương pháp định tính, định lượng và nội suy,
phỏng vấn chuyên gia, điều tra để giải quyết mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
6. Dự kiến đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về ODA nói chung và ODA
Nhật Bản nói riêng.
- Phân tích, làm rõ vai trò của ODA Nhật Bản đối với sự quá trình phát
triển kinh tế xã - hội của Việt Nam.
- Phân tích những cơ hội, thách thức thu hút ODA của Nhật Bản, từ đó
dự báo triển vọng ODA của Nhật Bản cho Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của
ODA Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Vấn đề lý luận và thực tiễn về ODA và sự cần thiết của
ODA Nhật Bản
Chương 2: Vai trò của ODA Nhật Bản đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của ODA Nhật Bản đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
CHƢƠNG 1: VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ODA VÀ SỰ CẦN THIẾT 5
CỦA ODA NHẬT BẢN

1.1. Một số vấn đề lý luận chung về ODA
1.1.1. Khái niệm về ODA

động này, hỗ trợ về kinh phí và hợp tác kỹ thuật của Chính phủ dành cho các
nước đang phát triển được gọi là Viện trợ phát triển chính thức (Official
Development Assistance gọi tắt là ODA)” [29, tr12]. “Cương lĩnh ODA” của
Nhật Bản soạn thảo năm 1992 với mục đích làm rõ những khái niệm và
nguyên tắc trong hỗ trợ ODA của Nhật Bản có viết “Hỗ trợ ODA là để đóng
góp cho hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế, nhờ đó đảm bảo an
ninh và sự phồn vinh cho đất nước Nhật Bản”. Vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) của Nhật Bản là một khoản tiền của ngân sách Nhật Bản trích từ
tiền thuế đóng góp của người dân Nhật Bản.
Dù ODA là tên gọi tắt của cụm từ “Viện trợ phát triển chính thức” hay
“Hỗ trợ phát triển chính thức”, nhưng về bản chất là hoàn toàn giống nhau.
Theo tôi sử dụng cụm từ “Hỗ trợ phát triển chính thức” gọi tắt là ODA là
thông dụng và phù hợp với tình hình hiện nay hơn. Do vậy, ODA được quan
niệm như sau:
“Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance)” gọi tắt
là ODA, là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu
đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính
chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 25% trong tổng viện trợ
dành cho các nước đang phát triển.
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) khác với Tài chính phát triển chính
thức (Official Development Finance) gọi tắt là ODF. ODA là một phần của
ODF, trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và
phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ. “Tài chính phát triển chính thức là
tất cả các nguồn tài chính mà Chính phủ các nước phát triển và các tổ chức đa 7
phương dành cho các nước đang phát triển. Một số khoản viện trợ này có
mức lãi suất gần với lãi suất thương mại” [37, tr7]. Viện trợ nước ngoài
thường liên quan tới hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và thường dành cho

các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm
“yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với
các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
+ ODA vay hỗn hợp: là các khoản ODA không hoàn lại hoặc các khoản
vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại,
nhưng tính chung lại có “yếu tố không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các
khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.
ODA vay ưu đãi của Chính phủ Nhật Bản hay còn gọi là tín dụng đồng
Yên được cung cấp từ Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC). Tín
dụng của JBIC được sử dụng chủ yếu để phát triển hạ tầng kinh tế cho Việt
Nam, đặc biệt đối với những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn như năng lượng
(điện), giao thông vận tải và hạ tầng đô thị.
Ngoài ra, gần đây còn có một số hình thức hỗ trợ khác như sáng kiến
Miyazawa giúp khắc phục các tác động của khủng hoảng tài chính khu
vực,…Chính phủ Nhật Bản cũng dành một khoản tiền không nhỏ để thông
qua các tổ chức phi chính phủ (NGO) nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển.
1.1.3. Đối tác cung cấp ODA
ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ
một nước với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song
phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ. Do vậy, đối tác
cung cấp ODA gồm 2 nhóm chủ yếu sau:
- Chính phủ các quốc gia cung cấp ODA: hợp tác song phương giữa các
Chính phủ. Đây là hỗ trợ của Chính phủ nước này dành cho Chính phủ nước
khác và do cơ quan Chính phủ cung cấp ODA quản lý.
- Các tổ chức quốc tế: ODA thực hiện bởi các tổ chức này gọi chung là 9
hỗ trợ đa phương. Loại hỗ trợ này do các nước giàu đóng góp và do các tổ
chức quốc tế như Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc và Ngân hàng

phủ
Nhật
Bản
Hợp tác vốn
vay
Ngân hàng hợp tác
Quốc tế Nhật Bản
( JBIC)
Hợp tác
song
phương
Hỗ trợ
thông qua
các tổ chức
quốc tế
Viện trợ
không hoàn
lại
Hợp tác kỹ
thuật
Bộ ngoại giao
Đại sứ quán Nhật
Bản tại VN

Cơ quan hợp tác
quốc tế Nhật Bản
(JICA) 10

nước tiếp nhận ODA. Việc cấp ODA cũng theo bốn nguyên tắc cơ bản sau:
- Bảo vệ môi trường và phát triển sẽ được tôn trọng như nhau.
- Không sử dụng ODA vào mục đích quân sự và không làm trầm trọng
thêm những đối đầu quốc tế.
- Nhằm duy trì và củng cố nền hòa bình và phát triển ổn định nền kinh tế
xã hội của các nước nhận ODA.
- Thúc đẩy dân chủ hóa bước đầu đi vào kinh tế thị trường, đảm bảo
quyền tự do và nhân quyền.
Ngoài ra, ODA của Nhật Bản còn có những điểm khác biệt sau:
- Thứ nhất, ODA của Nhật Bản thực hiện trên nguyên tắc tiếp nhận yêu
cầu từ các nước tiếp nhận ODA.
- Thứ hai, ít mang tính điều kiện ngặt nghèo về áp lực chính trị so với
các nước khác, thường thiên về hỗ trợ theo công trình. Nhưng thường kèm
theo những điều kiện nhất định liên quan đến hỗ trợ chính sách đối ngoại của
Nhật Bản; hoặc nhằm phục vụ cho lợi ích của các doanh nghiệp Nhật Bản,
kích thích xuất khẩu hàng hóa Nhật Bản.
- Thứ ba, trong cơ cấu ODA với tỷ lệ cao là ODA vốn vay và một mức
thấp dành cho ODA không hoàn lại, trong đó chú trọng tới hỗ trợ theo dạng
trợ giúp kỹ thuật. Sử dụng ODA vốn vay trong nguồn vốn ODA của Nhật
Bản là để hỗ trợ phần nào những trì trệ của nền kinh tế Nhật Bản, duy trì thế
cân bằng và phát triển kinh tế, góp phần nhất định làm chậm lại quá trình
giảm sút sức tăng trưởng.
Các nguyên tắc trên đã được cụ thể hóa trong Hiến chương về ODA của
Nhật Bản [65] và có thể tóm lược các nội dung đó như sau:
Một là, Nhật Bản sẽ tích cực thúc đẩy chính sách đối ngoại với các nước
nhận ODA nhằm tổng hợp và phân tích thông tin thu nhận được. Qua đó,
Nhật Bản cũng chia sẻ với giới lãnh đạo của các nước đó những nhận thức về 12

13
dịch, sao cho cả ba bộ phận này đều thúc đẩy sự phát triển của các nước đang
phát triển. Để thực hiện mục đính này, ODA sẽ liên kết chặt chẽ và nhận sự
ủng hộ từ việc hợp tác kinh tế trong khu vực tư nhân thông qua bảo hiểm mậu
dịch mà những tổ chức thực hiện là Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản.
Tám là, việc hợp tác nghiên cứu và hình thành những dự án hoàn thiện
sẽ không ngừng được xúc tiến. Để cải thiện việc cung cấp ODA trong tương
lai, Nhật Bản luôn coi trọng việc đánh giá các dự án đã được thực hiện kể cả
những đánh giá của phía đối tác thứ ba và nước tiếp nhận ODA.
Chín là, Chính phủ Nhật Bản sẽ xúc tiến mạnh hơn đối với các công
trình nghiên cứu khu vực, những công trình nghiên cứu về các chính sách
phát triển, và các công trình đánh giá về ODA của các nước đang phát triển.
Như vậy, qua những nội dung cơ bản trên ta có thể thấy rằng dường như
ODA của Nhật Bản quan tâm nhiều tới khía cạnh nhân văn hơn là khía cạnh
kinh tế và chính trị. Vấn đề môi trường và dân số là những vấn đề quan trọng
mang tính toàn cầu đối với tất cả các nước phát triển cũng như các nước đang
phát triển. Do vậy, tất cả các nước phải phối hợp với nhau để giải quyết nó
như các vấn đề mang tính chung của nhân loại trong thế kỷ tới. Điều đó có
nghĩa là ODA của Nhật Bản sẽ chủ trương ủng hộ mọi nỗ lực mà các nước
đang phát triển đang thực hiện để vượt qua những vấn đề trên.
1.2.2.Chính sách ODA của Nhật Bản cho Việt Nam
Quan hệ tài trợ Nhật Bản cho Việt Nam trải qua những bước phát triển
thăng trầm gắn liền với những biến đổi của tình hình quốc tế và tình hình khu
vực trong suốt hơn hai thập niên gần đây.
Tùy thuộc vào quan niệm của từng cá nhân và theo các tiêu chí khác
nhau mà các nhà phân tích phân chia chính sách ODA của Nhật Bản cho Việt
Nam thành các thời kỳ khác nhau.
Một số nhà nghiên cứu khác chia chính sách ODA của Nhật Bản cho
15
hạn cho các nước đang phát triển. Thời kỳ này Chính sách ODA của Nhật
Bản đối với Việt Nam tập trung ưu tiên vào 5 lĩnh vực sau [3, tr296, 298]:
(1). Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực. Đây là hai nhân
tố căn bản đầu tiền để thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
(2). Hỗ trợ phát triển ngành giao thông vận tải và điện lực. Thiếu điện và
giao thông vận tải kém hiệu quả sẽ hạn chế sức hấp dẫn các nguồn vốn đầu tư
từ nước ngoài.
(3). Hỗ trợ phát triển nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn. Cải thiện
các điều kiện sản xuất và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp là những chú ý
hàng đầu, để có thể tạo ra một năng suất trong công nghiệp hóa cao hơn.
(4). Ưu tiên cho giáo dục, sức khỏe và dịch vụ y tế. Đây là những điều
kiện trực tiếp tác động tới việc nâng cao đời sống của nhân dân và tạo điều
kiện cho phát triển trong tương lai. Trong đó, chú ý tới tài trợ cho việc cải
thiện công tác giảng dạy, thông qua cung cấp thiết bị và xây dựng các
trường học, …
(5). Cải thiện môi trường. Trong đó, nhấn mạnh tới bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên như quản lý và tu bổ rừng, cải thiện môi trường đô thị và kiểm
soát ô nhiễm môi trường.
Ðể bảo đảm sử dụng ODA có hiệu quả, tiết kiệm và công khai, ba cơ
quan chịu trách nhiệm về chính sách ODA của Nhật Bản là Bộ Ngoại giao,
Bộ Tài chính và Bộ Công thương đã tiến hành xem xét lại chính sách ưu tiên
của Nhật Bản trong cung cấp tín dụng ODA. Dưới sự chỉ đạo của các cơ quan
nói trên, năm 2002 JBIC đã công bố “Chính sách trung hạn của JBIC trong
việc cung cấp tín dụng ODA cho các nước đang phát triển trong thời kỳ từ
1/4/2002 (ngày bắt đầu năm tài chính 2002 của Nhật Bản) đến 31/3/2005
(ngày kết thúc năm tài chính 2004)” [13]. Chính sách này về cơ bản sẽ tuân
theo 3 nguyên tắc mới sau đây:
- Hỗ trợ có chọn lọc: JBIC sẽ có chính sách cung cấp tín dụng ODA phù



17
với điều kiện đặc biệt dành cho quan hệ đối tác kinh tế (Special Term for
Economic Partnership - STEP). Như vậy, tín dụng ODA Nhật Bản dành cho
Việt Nam chỉ gói gọn trong một loại hình, với 4 loại điều kiện tài chính khác
nhau như sau:
Ðiều kiện phổ cập: Lãi suất 1,8%/năm, thời hạn thanh toán 30 năm bao
gồm 10 năm ân hạn. Áp dụng cho các dự án mà đa phần tín dụng JBIC được
dùng cho công tác xây dựng. Ðấu thầu quốc tế rộng rãi.
Ðiều kiện liên quan đến bảo vệ môi trường: Lãi suất 1,3%/năm, thời hạn
thanh toán 30 năm bao gồm 10 năm ân hạn. Áp dụng cho các dự án liên quan
đến bảo vệ môi trường như cấp nước. Ðấu thầu quốc tế rộng rãi.
Ðiều kiện đặc biệt dành cho quan hệ đối tác: Lãi suất sẽ được xác định
hàng năm phù hợp với quy định của OECD, thời hạn thanh toán 40 năm bao
gồm 10 năm ân hạn. Áp dụng cho các dự án mà đa phần tín dụng JBIC được
dùng để nhập khẩu thiết bị, vật tư. Ðấu thầu giữa các công ty Nhật Bản.
Ðiều kiện đặc biệt bảo vệ môi trường: Lãi suất 0,75%/năm, thời hạn
thanh toán 40 năm bao gồm 10 năm ân hạn. Áp dụng cho các dự án trực tiếp
bảo vệ môi trường như xử lý nước thải, rác thải, trồng rừng. Ðấu thầu giữa
các công ty Nhật.
Nhật Bản mới công bố Sách Trắng về Hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) năm 2006 [55], trong đó nhấn mạnh để đảm bảo nguồn cung cấp tài
nguyên và năng lượng, ODA cần phải được sử dụng để tăng cường quan hệ
với các nước giàu tài nguyên, đồng thời cải thiện điều kiện để khai thác
nguồn tài nguyên ở những nước đó. Ngoài việc hỗ trợ phát triển, ODA còn
đóng vai trò mới trong việc tạo dựng những sức mạnh vô hình để thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế thị trường như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thiết lập
cơ chế hoạt động hải quan và mở rộng thỏa thuận quan hệ đối tác kinh tế.
Sách Trắng cũng yêu cầu các nền kinh tế đang nổi lên như Trung Quốc và Ấn



19
nhiều mang tính điều kiện cho Việt Nam và nhằm phục vụ cho những lợi ích
chiến lược và lâu dài của Chính phủ Nhật Bản hơn là những thiện ý như phía
Nhật Bản công bố. Điều này thể hiện rất rõ trong Sách Trắng về hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) công bố năm 2006. Cụ thể là, Chính sách ODA của
Nhật Bản trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam là nhằm phát triển
và “khai thác hành lang nghèo” với tư cách là vùng phụ cận chiến lược cho
Nhật Bản. Song, dù chính sách ODA của Nhật Bản được nhìn nhận thế nào đi
chăng nữa ví như tấm huân chương luôn có hai mặt thì hiện tại nguồn vốn
ODA của Nhật Bản vẫn được coi là nguồn vốn hết sức quý giá cho tiến trình
thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Nhìn chung chính sách ODA của Nhật Bản trong thời gian qua về cơ
bản là đáp ứng được sự mong muốn của Chính phủ và nhân dân Việt Nam -
Nhật Bản. Xét trên nhiều phương diện và qua phân tích cho thấy chính sách
ODA của Nhật Bản cho Việt Nam trong tương lai sẽ còn nhiều triển vọng
phát triển.
1.3. Vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các
nƣớc đang phát triển
1.3.1. Bổ sung nguồn vốn
Hầu hết các nước đang phát triển là các nước nghèo làn lạc hậu, cơ sở hạ
tầng còn thấp kém, để phát triển kinh tế xã hội của mình các nước đó cần rất
nhiều vốn. Nguồn vốn trong nước không đủ để giải quyết các nhu cầu cần
thiết cho sự phát triển kinh tế, các nước đó phải nhờ vào các nguồn vốn bên
ngoài. ODA đóng vai trò là một nguồn vốn quan trọng tài trợ cho các chương
trình phát triển của các nước này. Đối với các nước thu nhập thấp, ODA
chiếm khoảng 82% tổng nguồn vốn ròng, khoảng 7% ~ 8%GNP [67, tr9].
1.3.2. Chuyển giao thành tựu khoa học kỹ thuật

Trích đoạn Điều chỉnh cơ cấu kinh tế Giải pháp về phía các Bộ, Ngành Giải pháp về phía các tỉnh, thành phố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status