Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THU TRÀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI VIỆC
PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: GS.TS ĐỖ THẾ TÙNG
LUẬN VĂN ThS KINH TẾ

HÀ NỘI 2006

thi

82
3.3. y mnh vic tuyờn truyn, giỏo dc phỏp lut v bo h quyn s
hu trớ tu
90
3.4. Trng tr nghiờm nhng hnh vi vi phm phỏp lut v s hu trớ
tu
94
Kt lun
97
Danh mc ti liu tham kho
100 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện cách mạng Khoa học và Công nghệ diễn ra ngày càng
mạnh mẽ. Một số nước phát triển nhất đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì
tri thức ngày càng trở thành nhân tố sản xuất hàng đầu và là một loại hàng hoá
công cộng. Hiệu quả sử dụng đòi hỏi phải truyền bá miễn phí các tri thức, nhưng
nếu không có phí sử dụng thì không thể khuyến khích sản xuất ra tri thức. Bởi
vậy phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Vì thế vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
trên thế giới nói chung có tầm quan trọng đặc biệt. Ở Việt Nam nói riêng theo xu
hướng tất yếu của tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế, khung pháp lý để bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ cũng ngày càng được hoàn thiện.
Số lượng các tổ chức, các nhân đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam đã tăng lên đáng kể đặc biệt là các thành phố lớn như: Hà nội, Hải phòng,
Đà nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh… Trong số các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài

Trên thế giới việc nghiên cứu sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
đã được các nước và các tổ chức quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này trong thời gian qua.
Ở Việt Nam cho đến nay vấn đề sở hữu trí tuệ vẫn là vấn đề mới mẻ vì
vậy việc nghiên cứu quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam còn ít ỏi. Trong Thư viện Quốc gia chỉ có hai luận án tiến sỹ viết về đề tài
này: 4
- Tiến sỹ Lê Xuân Thảo: “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp
luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”-
Chuyên ngành Luật học.
- Tiến sỹ Nguyễn Thị Quế Anh: “Bảo hộ các dấu hiệu dùng để phân biệt
sản phẩm, dịch vụ ở Việt Nam dưới ánh sáng của hiệp định TRIPS (Hiệp định về
các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ)”- Chuyên
ngành Luật học.
Năm 2001 - 2005 Trường Đại học Luật Hà Nội và Khoa Luật Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn có một số luận văn thạc sĩ về đề tài này như:
Nguyễn Thị Hồng Yến: “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo hiệp định
TRIPS/WTO trong so sánh với pháp luật Việt Nam” - Chuyên ngành Luật học.
Các đề tài trên đều nghiên cứu dưới góc độ pháp luật chưa đi sâu nghiên
cứu dưới góc độ kinh tế và ảnh hưởng của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối
với sự phát triển kinh tế xã hội.
Năm 2005 tại Học viện Nguyễn Ái Quốc, Ngô Tuấn Nghĩa đã bảo vệ
thành công luận văn thạc sĩ: “Sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị trường” -
Chuyên ngành Kinh tế chính trị nhưng đó là một đề tài rất rộng nghiên cứu về sở
hữu trí tuệ chứ chưa nghiên cứu dưới góc độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong
nền kinh tế thị trường.
Thời gian gần đây đã có nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế do Cục
6
Tập trung vào bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bản quyền tác giả, có
tham khảo kinh nghiệm của một số nước về vấn đề này.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Kinh tế Chính trị, nhất
là phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lôgíc với lịch sử, phương pháp
phân tích và tổng hợp, sử dụng số liệu thống kê.
6. Những đóng góp của luận văn
- Nêu rõ được tầm quan trọng của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với phát
triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế ở Việt Nam nói riêng.
- Khắc họa thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết.
- Luận giải có cơ sở khoa học một số phương hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Sở hữu trí tuệ và vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
trong kinh tế thị trường.
Chương 2: Tình hình về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong
thời gian qua.
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động bảo vệ
quyền Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
7
Chương 1

kiểm soát.
Tài sản trí tuệ là nguồn khai thác vô tận không bao giờ cạn kiệt, có thể rất
nhiều người chiếm hữu và sử dụng nó mà không làm giảm đi giá trị thực tế của
nó. Một tri thức có thể thuộc quyền sở hữu của nhiều người. Có thể vô số người
cùng sử dụng một tri thức mà không ai mất phần. Một người có thể sử dụng
nhiều lần mà không phải trả thêm tiền. Người sau có thể kế thừa “tài sản trí tuệ”
của người đi trước để tạo ra một tri thức mới. Bởi vậy, tài sản trí tuệ là tài sản
khó kiểm soát nhất.
+ Thứ hai: Chi phí cho nghiên cứu rất lớn nhưng sản phẩm lại rẻ.
Ví dụ: Chi phí cho việc nghiên cứu đĩa CD đầu tiên tổn phí hết 50 triệu
USD, nhưng đĩa thứ hai và các đĩa tiếp theo chỉ tốn 3 USD [51].
Như vậy sản phẩm phải được bán với giá bao gồm cả chi phí cho nghiên
cứu thì mới thu hồi được vốn, có lợi nhuận và bản quyền dành cho tác giả. Nếu
không những người có phát minh hay sáng chế sẽ bị phá sản.
+ Thứ ba: Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, một tri thức mới ra đời dễ
dàng được lưu chuyển khắp thế giới. Bởi vậy lợi ích thu được từ tri thức và công
nghệ mới không nhất thiết thuộc về nơi phát minh ra chúng mà tuỳ vào khả năng
ứng dụng và việc tổ chức sản xuất ra sản phẩm với chi phí thấp nhất.
Ví dụ: Hoa Kỳ đã phát minh ra máy quay phim và máy ghi âm, máy fax.
Hà Lan phát minh ra máy CD nhưng phần lớn lợi nhuận của sản phẩm này lại rơi
vào tay Nhật Bản [72].
Do những đặc điểm trên việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữ vai trò cực
kỳ quan trọng, ở đây nảy sinh hai xu thế đối lập nhau: Muốn sử dụng tài sản trí 9
tuệ có hiệu quả phải phổ biến nhanh, rộng rãi và toàn bộ tri thức với giá rẻ, thậm
chí bằng không. Nhưng việc sản xuất ra tri thức rất tốn kém, đòi hỏi phải tạo
điều kiện cho những người đã sáng tạo ra tri thức bù lại được những chi phí và
có lãi gắn với việc sử dụng tri thức để họ tiếp tục sáng tạo ra tri thức mới.

một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Tại Vương quốc Anh, việc bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ được luật hoá tại bộ luật Anne năm 1709, tại Pháp hệ thống
bảo hộ được triển khai từ năm 1789 và tại Mỹ từ năm 1787.
Khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau. Có học giả cho rằng không có một khái niệm chung đơn nhất có thể bao
quát được tất cả các tài sản trí tuệ. Có học giả lại cho rằng quyền sở hữu trí tuệ
bao gồm các đối tượng như: Sáng chế, quyền tác giả, bí mật thương mại, tên
thương mại, và tập hợp các quyền khác. Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO)
đã đưa ra một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất: “Sở hữu trí tuệ được
hiểu rộng rãi hơn và bao gồm các quyền liên quan tới các sản phẩm văn học nghệ
thuật, khoa học, sự trình diễn của các nghệ sĩ, các chương trình phát và truyền
thanh, phát và truyền hình, các sáng chế thuộc mọi lĩnh vực, các phát minh khoa
học, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, các tên
thương mại và chỉ dẫn thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh và các
quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực Khoa học, Công
nghệ, Văn học nghệ thuật” (Điều 2 Công ước Stockholm 1967 về việc thành lập
WTO).
Hiệp định TRIPS (1994) đã quy định 7 đối tượng thuộc phạm vi của
quyền sở hữu trí tuệ là: Sáng chế, quyền tá giả, nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa 11
lý, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí mật. Tại
Việt Nam, vấn đề sở hữu trí tuệ đã được đề cập từ những năm 1980 nhưng trong
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, pháp luật đã coi sở hữu trí tuệ là sở hữu toàn
dân, nhà sáng chế được cấp bằng tác giả sáng chế, được trả thù lao, xong quyền
sở hữu thuộc về nhà nước. Do vậy, không phát huy được trí sáng tạo của các cá
nhân. Kể từ năm 1989 khi pháp lệnh về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ra đời
thì nhà nước thừa nhận quan điểm cho rằng: Các sản phẩm trí tuệ do con người
sáng tạo ra và chính con người có quyền sở hữu chúng. Nhà nước phải bảo hộ

sáng chế đã được cấp bằng, tác quyền, hoặc nhãn hiệu hàng hoá… là thực hiện
các chế tài nghiêm khắc như chế tài hành chính, dân sự, hình sự.
Tác phẩm được bảo hộ phải là tác phẩm nguyên gốc trong lĩnh vực văn
học nghệ thuật, bao gồm phần mềm máy tính và cơ sở dữ liệu. Bảo hộ quyền tác
giả không phân biệt hình thức, ngôn ngữ thể hiện và chất lượng tác phẩm.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được thể hiện bằng việc nhà nước cấp
bằng bảo hộ cho chủ thể sở hữu công nghiệp. Bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cấp là chứng chỉ duy nhất của nhà nước xác nhận quyền sở hữu
công nghiệp của chủ thể được cấp văn bằng, quyền tác giả của các tác giả sáng
chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và xác nhận khối lượng bảo hộ đối
với quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1, Điều 9 Nghị định số 63/CP ngày
24/10/1996).
Quyền sở hữu công nghiệp của một chủ thể phát sinh từ thời điểm được
cấp bằng bảo hộ. 13
Ví dụ: Một người có sáng chế nhưng không nộp đơn đăng ký với Cục Sở
hữu trí tuệ nên chưa được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc họ làm thủ tục nói
trên sau một người thứ hai thì họ không được nhận sự bảo hộ bằng pháp luật từ
phía nhà nước. Đây là điểm khác với quyền tác giả, quyền tác giả được bảo hộ từ
khi tác phẩm được sáng tạo dưới một hình thức nhất định.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của từng
nước và các hiệp ước quốc tế mà nước đó cam kết tham gia.
Thời hạn bảo hộ quyền tác giả theo quy định tại điều 766 (Bộ luật Dân sự)
và Điều 14 Nghị định 76/CP là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm tiếp theo năm tác
giả chết cho mọi loại hình tác phẩm, không có quy định về thời gian bảo hộ
quyền của người biểu diễn. Như vậy pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả
và các quyền liên quan về cơ bản tương thích với pháp luật quốc tế. Tuy nhiên
cần bổ sung quy định cụ thể về chương trình máy tính và sưu tập dữ liệu. Về nội

năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ, có thể gia hạn liên tiếp hai lần mỗi lần 5 năm.
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất sứ hàng hoá có hiệu lực vô
thời hạn từ ngày cấp.
Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường là cơ
quan có thẩm quyền xem xét và quyết định gia hạn hiệu lực của văn bằng bảo
hộ.
Thời gian bảo hộ theo pháp luật Việt Nam phù hợp với thông lệ của các
nước trên thế giới, bảo đảm thời gian cần thiết bù đắp những chi phí mà tác giả 15
chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích đã bỏ ra, do đó khuyến khích sự sáng tạo
của các thành viên trong xã hội.
Phạm vi bảo hộ mang tính lãnh thổ. Tất cả các nhà đầu tư đến nước nào
đều phải tuân theo pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ ở nước đó. Tuy nhiên, trong
xu thế toàn cầu hoá ngày càng phát triển với mức độ nhanh chóng như hiện nay
thì các nước cần hoàn thiện luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho phù hợp với
những quy định của hệ thống pháp luật quốc tế.
Hệ thống luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hoàn thiện và bộ máy thực thi
đủ mạnh sẽ đạt các mục đích: Ngăn ngừa và xử lý nghiêm khắc các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ, tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh.
WIPO là tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới đang quản lý hai văn bản lâu đời
nhất điều chỉnh về quyền sở hữu trí tuệ. Đó là Công ước Paris về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp năm 1883 (sửa đổi năm 1979) và công ước Berne về bảo hộ
đối với tác phẩm văn học nghệ thuật năm 1886 (sửa đổi năm 1971). Những văn
bản này đã điều chỉnh hai lĩnh vực quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm
quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả. Theo quy định mới đây những nước
nào muốn trở thành thành viên của WTO thì phải tham gia vào công ước Paris và
công ước Berne.
Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng quy định “Để bảo hộ và

khoảng 62% tài sản của doanh nghiệp ở Hoa Kỳ là tài sản vật chất nhưng đến
năm 2000 con số đó giảm xuống chỉ còn 30%. Vào đầu những năm 1990 ở châu
Âu tài sản vô hình chiếm 1/3 tổng số tài sản. Tại Hà Lan năm 1992 tài sản vô
hình chiếm 35% tổng đầu tư của nhà nước và tư nhân [85, tr.54]. 17
“Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của một nước chịu ảnh hưởng của chính sách sở
hữu trí tuệ của chính phủ” [85, tr.93]. Chủ sở hữu có thể tự mình ứng dụng hoặc
chuyển nhượng bằng độc quyền sáng chế để thu lại chi phí đã bỏ ra tái sản xuất
ra tri thức.
Nhiều khi sản phẩm trí tuệ có tính ứng dụng cao cho hoạt động kinh tế -
xã hội nhưng do hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không nghiêm ngặt khiến
chủ sở hữu chưa thu được đủ chi phí sản xuất nên họ không muốn đăng ký với
cơ quan hữu quan. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trước hết là bảo vệ lợi ích của
người phát minh nhằm khuyến khích các viện nghiên cứu chuyển giao và triển
khai trí thức thông qua việc gắn kết các nỗ lực của nhà nước và giới khoa học
với các nỗ lực của khu vực thương mại. Đặc biệt ở các nước đang phát triển như
ở nước ta khi kinh phí dành cho nghiên cứu và triển khai trong khu vực công
nghiệp còn thấp thì cần bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh hơn để gia tăng tài trợ
tư nhân trong khu vực này hoặc để tăng lợi nhuận từ sản phẩm và dịch vụ đạt
được trong thương mại, có sử dụng kết quả nghiên cứu để đầu tư tiếp cho nghiên
cứu và triển khai.
Những nghệ sĩ, người sáng tạo và doanh nhân cạnh tranh trực tiếp với
những sản phẩm bất hợp pháp là người cảm nhận trực tiếp nhất hậu quả về mặt
xã hội của nạn bằng giả và chiếm đoạt.
Ví dụ: Những nhạc sĩ, ban nhạc, công ty ghi âm và nhà phân phối trong
nước không thể phát hành một đĩa CD vì các sản phẩm của họ bị đẩy ra khỏi thị
trường bởi các bản sao làm giả được bán với giá thấp và không bảo đảm chất
lượng.


19
bị thiệt hại cũng có thể đưa ra bằng chứng để chứng minh thiệt hại của mình, đặc
biệt là các thiệt hại vô hình như uy tín trên thương trường.
Ba là: Bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
Chất lượng của sản phẩm là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết
định mua hàng của người tiêu dùng. Nhãn hiệu và uy tín của sản phẩm là chỉ dẫn
thương mại giúp người tiêu dùng tìm đến sản phẩm yêu thích đáp ứng nhu cầu và
thị hiếu của mình. Người tiêu dùng thường có thói quen mua hàng mang nhãn
hiệu mà họ đã quen dùng vì họ tin tưởng hàng hoá đó có chất lượng tốt như họ
đã được biết.
Hiện nay nạn hàng giả phát triển với quy mô quốc tế. Việc ăn cắp bản
quyền và giả mạo hàng hoá không chỉ diễn ra với các hàng tiêu dùng như túi
sách, nước hoa và quần áo mà cả dược phẩm. Thậm chí cả những phụ tùng của
máy bay. Việc mua nhầm một túi sách tay dởm nhãn hiệu Chanel hoặc đồng hồ
Rolex có thể gây ra nỗi kinh hoàng, tức giận hoặc căng thẳng về tâm lý. Việc
mua phải dược phẩm giả mạo có thể gây ra hậu quả chết người. Đã có trường
hợp một máy bay được lắp ráp bằng êcu và bulông giả mạo khi ở độ cao
12.000m đinh ốc long ra làm máy bay rơi. Tại Việt Nam, điều đáng lo ngại là
hiện tượng hàng giả ngày càng phát triển một cách tinh vi, khó phát hiện [71].
Ví dụ: Máy tính Casio giả đã bắt chước toàn bộ kiểu dáng và nhãn hiệu
của loại máy LC - 403LB, Fx - 500… Sách giáo khoa do Nhà xuất bản Giáo dục
xuất bản được in lậu bán tràn lan trên thị trường chỉ khi người tiêu dùng sử dụng
mới phát hiện ra hàng in lậu. Mì chính giả nhãn hiệu AJINOMOTO hiện nay
đang lưu hành trên thị trường với lôgô hình thức mẫu mã giống hệt hàng thật, Xi
-rô paracentamol giả đã cướp đi sinh mạng của 109 trẻ em ở Nigeria (nguồn:
http:// www.interpol.int). Một phiên bản giả thuốc kháng sinh loại kháng sinh 20

tuệ, đó là các nhãn hiệu nổi tiếng, các sáng chế đã tạo nên danh tiếng của một
công ty. Các công ty đa quốc gia có xu hướng xây dựng các công ty 100% vốn
của mình tại các nước có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh, vì họ có
thể bảo hộ tốt bí mật công nghệ và nhãn hiệu hàng hóa. Một trong các yếu tố mà
nhà đầu tư quan tâm là khả năng kiểm soát thị trường phân phối và tiêu thụ sản
phẩm. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ là một giải pháp hữu hiệu để loại trừ cạnh
tranh không lành mạnh, chống nạn làm hàng giả… Quyền sở hữu công nghiệp
gắn liền với việc chuyển giao công nghệ, công nghệ mới thường là các giải pháp
kỹ thuật mới có tính sáng tạo được cấp bằng độc quyền theo cơ chế bảo hộ sáng
chế. Trong chuyển giao công nghệ, người được chuyển giao muốn tiếp thu giải
pháp kỹ thuật được bảo hộ sáng chế trước tiên phải được chuyển giao quyền sử
dụng, tức là được khai thác công nghệ trong một thời hạn, lãnh thổ với những
hạn chế ràng buộc nhất định về nghĩa vụ. Để bảo vệ uy tín của công nghệ, của
chất lượng sản phẩm do công nghệ tạo ra, đồng thời lại muốn doanh số tiêu thụ
sản phẩm ngày càng tăng để làm căn cứ tính bản quyền thì quá trình chuyển giao
công nghệ thường đi kèm với chuyển giao sử dụng nhãn hiệu. Xây dựng được
một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh mới có điều kiện tiếp nhận công nghệ
tiên tiến phục vụ cho việc phát triển đất nước.
Tóm lại: Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tốt sẽ khuyến khích nghiên cứu,
phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá và tạo uy tín cho sản phẩm,
kinh doanh lành mạnh. Nước ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mục tiêu của Đảng ta là đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế 22
không có cách nào khác là chúng ta ứng dụng những thành tựu khoa học công
nghệ hiện đại. Bởi vậy, phải coi trọng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ khi đàm
phán, ký kết các hiệp định thương mại và hàng hải song phương với nước ta, tất
cả các nước đặc biệt là nước phát triển đều yêu cầu đưa nội dung bảo hộ quyền

- Hiệp định về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến
thương mại (TRIPS).
Để thực hiện những hiệp ước nói trên, mỗi nước phải xây dựng một hệ
thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế thực thi đủ mạnh. Ở châu Âu
và Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hình thành rất sớm
đầu thế kỷ XVI.
Ví dụ: Đạo luật của Nữ hoàng Anne ở nước Anh là bộ luật về bản quyền
sớm nhất được thông qua vào năm 1709.
Đạo luật về đặc quyền năm 1642 là bộ luật thành văn đầu tiên của Anh đã quy
định một đặc quyền cho sáng chế trong một thời gian nhất định.
Luật về bằng độc quyền sáng chế đầu tiên của Pháp quy định về bảo hộ
quyền của người sáng chế vào năm 1791, sau cách mạng Pháp và tuyên ngôn về
quyền con người và quyền công dân.
Ở Mỹ, năm 1788 hiến pháp đã quy định rõ về bằng độc quyền sáng chế và
sự bảo hộ việc sáng chế thông qua việc cấp bằng độc quyền cho người sáng chế.
Hơn nữa, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng các đạo luật riêng biệt
điều chỉnh từng đối tượng sở hữu trí tuệ.
Ví dụ: Ở Trung Quốc việc xây dựng khung pháp luật về quyền sở hữu trí
tuệ bao gồm: Luật nhãn hiệu hàng hoá năm 1982 (sửa đổi năm 2001), Luật sáng
chế năm 1984 (sửa đổi năm 2000), Luật bản quyền năm 1990 (sửa đổi năm
2001), Luật chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1993. Ở các nước khác như
Anh, Mỹ, Nhật, Thái Lan… cũng đều làm như vậy. 24
Hệ thống pháp luật hoàn thiện về sở hữu trí tuệ ở các nước phát triển đã
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội. Số đơn yêu cầu cấp bằng
độc quyền sáng chế ngày càng tăng. Đặc biệt là ở các nước châu Âu, Nhật Bản
và Hoa Kỳ.
Ví dụ: Ở Nhật Bản phải mất 95 năm để cấp 1 triệu bằng độc quyền sáng

107
51
Hµn Quèc
1514
2318
53
Singapo
225
271
20
Nam Phi
386
418
8
Nguån: S¸ch së h÷u trÝ tuÖ, tr.36.

Trích đoạn Trừng trị nghiờm những hành vi vi phạm phỏp luật về sở hữu trớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status