luận văn Sự chuyển biến kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008) - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu lịch sử địa phương là một việc làm quan trọng để từ đó hiểu
rõ hơn về lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương. Trong đó mảng đề tài về kinh tế
xã hội địa phương đang được nhiều người chú ý, bởi qua kinh tế xã hội địa
phương ta sẽ thấy được sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong một
giai đoạn nhất định.
Năm 1986 Đảng ta đã đưa ra chủ trương đổi mới đất nước.Cũng từ đó
nước ta thu được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế - xã
hội.Sau mười năm tiến hành sự nghiệp đổi mới Việt Nam không những
thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc vào cuối thập niên 70 đầu thập niên 80
của thế kỷ trước mà còn vươn lên bắt kịp nhịp phát triển sôi động của nền
kinh tế - khu vực và thế giới.Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp với
cơ chế thị trường xó hụị chủ nghĩa, nền kinh tế nhiều thành phần hình thành
phát triển đồng bộ và đạt kết quả mới, niềm tin của nhân dân vào sự tất
thắng của chủ nghĩa xã hội được củng cố.
Nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, tháng 6 – 1996, Đảng
ta tiến hành đại hội lần thứ VIII, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải
pháp đưa sự nghiệp đổi mới đi vào chiều sâu – công nghiệp hoá - hiện đại hoỏ
vỡ mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.Chớnh sỏch đổi mới của Đảng đã tác động sâu sắc đến sự phát triển
kinh tế - xã hội của nhiều địa phương trong cả nước, Huyện Lang Chánh nói
chung cũng như thị trấn Lang Chánh nói riêng là một trong những địa phương
thực hiện tốt đường lối “Công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ” của Đảng.
Thị trấn Lang Chánh là thị trấn miền núi vùng cao nằm ở phía Tây, Tây
Bắc Thanh hoá, được thiên nhiên ban tặng về tài nguyên thiên nhiên phong
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội

thị trấn truyền thống tốt đẹp của quê hương thị trấn Lang Chánh. Đồng thời
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
2
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

góp một phần thiết thực phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu lịch sử
địa phương ở nhà trường phổ thông của bản thân sau này.
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sự chuyển
biến kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)” để làm đề tài tốt nghiệp đại học, đồng
thời đóng góp một phần công sức của mình vào việc nghiên cứu, đánh giá
những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới của thị trấn Lang Chánh.
2. Lịch sử vấn đề
Đổi mới là một chủ trương hết sức quan trọng, chủ trương đú đó tác
động sâu rộng đến từng ngành, từng địa phương trong cả nước.Quỏ trỡnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước tức là tiếp tục thực hiện công cuộc đổi
mới của đất nước.Chớnh vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước như tác phẩm : “ Con đường
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nụng thụn”- NXB Chính trị quốc
gia – Hà Nội – 2002; “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và các nước
trong khu vực” - Phạm Khiêm Ích – NXB Thống Kê – 1994,…Cỏc công trình
trờn đã nghiên cứu “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ” ở nhiều khía cạnh nhưng
cú ớt tác phẩm nghiên cứu về một thị trấn, đặc biệt là một thị trấn miền núi
trong thời điểm hiện tại. Tuy nhiên những tài liệu trên đã cung cấp những kiến
thức về “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ”, giỳp cho người viết có cách nhìn
khái quát về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nghiờn cứu về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thị trấn
Lang Chánh còn là vấn đề tương đối mới mẻ, chưa thu hút được sự quan

uỷ ban nhân dân thị trấn… chỉ ra những thành tựu và hạn chế của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá thị trấn Lang Chánh.
Nói chung, các tác phẩm và tài liệu nói trên đã làm sáng tỏ được một
số vấn đề của thị trấn Lang Chỏnh.Tuy nhiờn cho đến nay chưa có một công
trình, hay bài viết nào nghiên cứu cụ thể về sự chuyển biến kinh tế - xã hội
của thị trấn Lang Chánh từ năm 1996 – 2008.Chính vì thế luận văn tập trung
tìm hiểu một cách hệ thống sự chuyển biến kinh tế - xã hội thị trấn Lang
Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (từ năm 1996 – 2008).
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
4
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển biến
kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá từ 1996 đến 2008
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình kinh tế - xã
hội của thị trấn Lang Chánh từ năm 1996 – 2008
Về mặt không gian: Địa bàn mà khoá luận tìm hiểu là thị trấn Lang
Chánh - huyện Lang Chánh - tỉnh Thanh Hoá.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu.
Để hoàn thành khoá luận này chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tích luỹ
nhiều nguồn tư liệu:
- Tài liệu lưu trữ của tỉnh, huyện, thị trấn: Đó là những báo cáo hàng
quý, hàng năm; Các nghị quyết, văn bản, các chỉ thị tỉnh uỷ, của uỷ ban

Dựa vào nguồn tư liệu, luận văn đã dựng lại bức tranh toàn cảnh về
kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh, làm sáng tỏ sự chuyển biến về kinh
tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ 1996 – 2008, qua đó nêu
lên những thành tựu và hạn chế.
Luận văn đã hệ thống được những tư liệu có thể cung cấp về thị trấn
Lang Chánh. Đồng thời, qua luận văn cũng cung cấp tư liệu cho việc giảng dạy
lịch sử địa phương, góp phần giáo dục truyền thống qua các bài học lịch sử.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần ở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội
dung chính của khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát vài nét về mảnh đất và cọn người thị trấn Lang Chánh
Chương 2: Những chuyển biến kinh tế của thị trấn Lang Chánh trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)
Chương 3: Những chuyển biến xã hội của thị trấn Lang Chánh trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
6
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
7
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

kinh độ Đông.
Thị trấn Lang Chánh nằm trên trục đường quốc lộ 15A - trục đường
quốc lộ nối liền các huyện miền núi phớa tõy tỉnh Thanh Hoá.Thị trấn cách
thành phố Thanh Hoá 101 km, cách đô thị Ngọc Lặc (tương lai là trung tâm
các huyện miền núi phía Tây Thanh Hóa) 16 km, cách huyện Bá Thước 40
km, cách biên giới nước CHND Lào 60 km.Hiện nay khi con đường Hồ Chí
Minh được đưa vào sử sụng đã rút ngắn khoảng cách của thị trấn Lang
Chánh với trung tâm thủ đô Hà Nội còn khoảng 170 km cũng như nối liền
thị trấn với sự phát triển của đất nước. Thị trấn Lang Chánh có danh giới
như sau:
Phía Đông Bắc giáp xã Đồng Lương
Phía Tây Nam giỏp xã Quang Hiến
Con đường chính trong thị trấn là đoạn nối từ quốc lộ 15A thẳng lên
trung tâm thị trấn đến ngã 4 đi xó Tõn Phỳc, xó Quang Hiến, xã Đồng
Lương.Thị trấn không có giao thông đường thuỷ và đường sắt.Toàn bộ hệ
thống đường bộ của thị trấn đã rải đường nhựa tạo điều kiện thuận cho việc
vận chuyển hàng hoá và sinh hoạt của người dân thị trấn.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
8
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Với vị trí địa lý như vậy ta có thể thấy rằng mặc dù là một thị trấn
miền núi, xa các trung tâm phát triển của đất nước, nhưng thị trấn Lang
Chỏnh cú tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ trong tương lai.
1.1.2 Địa hình, đất đai, sông ngòi
Thị trấn Lang Chánh trước kia là vùng rừng núi với những khu rừng
tự nhiên bao quanh.Nhưng với quá trình phát triển, sự thay đổi của môi
trường tự nhiên cùng những tác động của con người, diện tích rừng của thị

quân diện tích nông nghiệp/người là 0,014 ha/người và 0,05 ha/hộ.
Diện tớch đất ở cũng chiếm phần lớn trong diện tích tự nhiên của toàn
huyện (chiếm 25,7 %). Đất chưa sử dụng của thị trấn không cũn chứng tỏ
người dõn thị trấn đã tận dụng hết đất đai của địa phương. Sự phân chia gần
như đồng đều giữa đất nông nghiệp, lâm nghiệp, và đất ở cho thấy quá trình
chuyển dịch cơ cấu đất ở thị trấn đang diễn ra mạnh mẽ. Cùng với quá trình
tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thị trấn cũng đang diễn ra quỏ
trình đụ thị hoá. Đất ở đang có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ lệ cao trong
diện tích tự nhiên.Cùng với đó là sự thu hẹp diện tích đất nông nghiệp.
Đất thị trấn rất thuận lợi cho các loại cây lúa, cây rau màu và các loại
cây trồng lương thực khỏc.Những loại cây trồng phù hợp với các loại đất
của thị trấn:
- Đất vườn, phù hợp các loại cây như: cây chuối, cây dừa. cây bưởi,
cây cam, cây chanh, cây xoài, cõy mớt…
- Đất ruộng thị trấn Lang Chánh là những thũng lũng cấy lúa nhỏ hẹp
được khai phá từ ngàn đời của đồng bào các dõn tộc Lang Chánh, phù hợp
với cây lúa, cây ngô, khoai lang.Cõy rau màu vụ đông bao gồm: cải bắp, xu
hào, xúp lơ, xà lách, cải củ, cải bẹ, cải cỳc.Cõy rau màu vụ hè phù hợp với:
rau ngót, rau đay, bầu, mướp, xu xu, bí
Tổng diện tích đất nông nghiệp là 63,4 ha, trong đó:
- Diện tích đất trồng lúa là 25 ha:
- Diện tích đất ruộng trồng màu: 5,4 ha
- Đất trồng cây hàng năm: 7 ha
- Đất vườn tạp : 6 ha
- Đất trồng cây lâu năm : 7 ha
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
10
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

nuôi cá thịt.Mỏng tự nhiên và hồ nhân tạo khụng cú.Năm 1967 xây dựng
đập và mương Lãm dài 2.500m.Năm 2003 xây dựng đập và mương Lưỡi dài
700m để cung cấp nước cho 2 vùng nông nghiệp trọng điểm của thị trấn là
Bản Trãi và Bản Lưỡi.Vì vậy ngư nghiệp không phát triển mạnh ở thị trấn
Lang Chánh.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
11
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

1.2. Khái quát về lịch sử, văn hoá – xã hội.
1.2.1 Lịch sử hình thành.
Trải qua biến cố của lịch sử, địa giới hành chính Châu Lang Chánh
luôn luôn thay đổi.Thời thuộc Hán là phần đất thuộc huyện Đô Lung (Cát
Lung) sau này ghép vào huyện Vụ Biờn.Thời Tam Quốc cho đến nhà Tuỳ
(Trung Quốc) thuộc huyện Do Phong.Thời nhà Đường thuộc huyện Trường
Lõm.Thời Trần - Hồ gọi vùng này là “Mường Một” thuộc huyện Nga Lạc,
Châu Ái.Thời Lê Quang Thuận năm thứ 10 (1469) đặt tên là châu Lang
Chánh, gồm 14 động và thôn. Đến thời Tây Sơn đổi thành châu Lương
chính. Đến thời Minh Mệnh ghép huyện Thọ Xuân với châu Lang Chánh và
lấy lại tên cũ là châu Lang Chánh thuộc phủ Thanh Đô.
Năm 1829 nhà Nguyễn quyết định lập châu Quan Hoá bao gồm châu
Quan Gia, châu Tằm (thuộc vùng đất các huyện Quan Hoá, Quan Sơn,
Mường Lát) cắt một phần đất Lang Chánh và một phần đất Nông Cống lập
châu Thường Xuõn, tỏch chõu Lang Chánh ra khỏi phủ Thanh Đô lập châu
lỵ tại Ninh Lương (nay thuộc xã Quang Hiến).
Năm 1834, vua Minh Mệnh đổi động và thôn thành xã và đặt thêm
tổng, đồng thời xuống dụ, đặt các thổ ty, lang đạo dưới quyền kiểm soát của
Chánh Tổng.Thực chất của chính sách này là do triều đình phong kiến nhà

khu 1,2,3) và phố III.
Tổ 1, phố II hình thành là do một số hộ của phố Đồng Lương cũ hình
thành. Đến năm 1991 thì được đặt tên chính thức là tổ 1 phố II với tổng số 144
hộ và 504 nhõn khẩu.Dõn tộc Thỏi cú 8 người, dân tộc Mường có 127 người,
dân tộc kinh có 369 người.Dõn tộc Mường là ở lâu đời nhất.
Tổ 2, phố II hình thành là do một số hộ cán bộ công nhân viên chức nghỉ
hưu cũ Lâm Trường Bù Rinh trước được gọi là phố Đồng Lương 2, sau khi
thành lập thị trấn Lang Chánh được đặt tên chính thức là tổ 2, phố II.Bao gồm
100 hộ và 386 nhân khẩu, trong đó có 5 người Thái, 49 người dân tộc Mường,
dân tộc Kinh: 331.Người kinh là ở đây lâu nhất.
Phố III.Do một số hộ là cán bộ công nhân viên chức cũ của công ty xây
dựng cơ bản về hưu hoặc nghỉ theo chế độ 176 trước đây ở và cùng với một số
hộ dân miền xuôi đến định cư làm ăn ở.Trước 1991 được đặt là phố 3 với tổng
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
13
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

số hộ là 105 và 358 nhân khẩu.Trong đó dân tộc Thái: 23 người; Mường: 12
người ; Kinh: 323 người.Người kinh sống ở đõy lõu nhất.
Bản Lưỡi được hình thành từ trước năm 1945 do một số hộ dân làng Lãi Ó
và một số dân bản Lưỡi cũ khai phá mở mang.Thời phong kiến cha con Kỳ Tín
đặt tên là Làng Lưỡi.Trước năm 1991 khi thị trấn chưa thành lập là một làng của
xã Đồng Lương.Thỏng 4- 1991, thị trấn thành lập được đặt lại là Bản Lưỡi bao
gồm 66 hộ và 332 nhân khẩu.Trong đó dân tộc Thái là 5 người; dân tộc Kinh: 14
người; dân tộc Mường: 314 người.Người Mường sống ở đõy lõu nhất.
Bản Trải 1 được chia tách ra từ làng Chiềng Trại, là một phần đất
thuộc xã Quang Hiến. Sau khi thị trấn thành lập được đặt lại là Bản Trải 1
bao gồm 114 hộ và 598 nhõn khẩu. Trong đó dõn tộc Thái là 31 người, dõn

công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thị trấn là mái nhà chung của 3 dân tộc: Thái, Mường, Kinh từ ngàn
đời nay đã chung lưng đấu cật, đoàn kết gắn bó lao động sản xuất và chiến
đấu, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.Trong đó:
- Dân tộc Mường chiếm 30,2%
- Dân tộc Thái chiếm 7,05%
- Dân tộc kinh chiếm 62,43%
(số liệu này được tính đến tháng 6 năm 2008)
Người Kinh chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số thị trấn (62,43%) là một
thuận lợi cho sự phát triển của thị trấn Lang Chỏnh.Việc đưa khoa học kỹ
thuật vào đời sống và sản xuất của địa phương được nhanh chóng hơn.Mặt
khác dân số thị trấn trẻ, với lực lượng lao động hùng hậu như vậy là một điều
kiện tốt cho sự phát triển của thị trấn hơn cỏc xó khỏc.Tuy nhiờn chính điều
này dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế cũng như trình độ văn hóa giữa người
Kinh và dân tộc khác, cũng như của thị trấn với cỏc xó trong huyện.
Dân tộc mường với sử thi “đẻ đất đẻ nước” được lưu truyền qua nhiều
thế hệ, với cỏc khỳc dân ca Xướng, với lễ tục Pũụn Pụụng – hỏt mỳa quây
quanh cây hoa, ước mong cuộc sống yên lành với tiếng trống, tiếng kèn và sỏo
ụi âm vang sâu thẳm.Hội “Xộc bựa” với dàn cồng chiêng do các cô gái mường
biểu diễn…
Dân tộc thái với tiếng nói, chữ viết, trang phục và những khúc dân ca
(khắp thái), các điệu múa hát nghi lễ, cỏc trũ: cá sa, phấn chá (múa hát xung
quanh cây hoa) coong giàm, kốn bố… đó tạo nên những giá trị văn hoá đặc
sắc riêng cho người dân thị trấn.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
15
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền


Hà Nội
16
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

cũn phổ biến nhiều. Điều này không chỉ gõy ô nhiễm môi trường sinh hoạt
mà cũn làm giảm năng suất chăn nuôi của người dõn địa phương.
Thời kỳ này về ngư nghiệp chủ yếu là thả cá ở sông, suối. Việc nuôi
cá lồng chưa được người dõn thị trấn quan tõm.
* Về Lâm Nghiệp
Thị trấn Lang Chánh là một thị trấn miền núi nên lâm nghiệp là một
thế mạnh để phát triển kinh tế thị trấn.Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huỵện
cũng như UBND thị trấn, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của hai Lâm trường
đúng trờn địa bàn nhân dân thị trấn đã tập trung vốn, nguồn lực, khoa học kỹ
thuật vào việc khôi phục và phát triển rừng theo nghị quyết của trung ương,
của tỉnh. Tổng diện tích đất Lâm nghiệp năm 1995 là 61,4ha. UBND thị trấn
đã giao đất cho 41 hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâu
dài theo quyết định 02 của chớnh phủ.Cả năm lõm nghiệp của thị trấn khai
thác được 20 triệu đồng.
Trong giai đoạn này người dõn thị trấn đang cũn xem nhẹ việc sản
xuất kinh doanh nghề rừng và chăn nuôi, chưa thực hiện nông – lõm kết hợp
chặt chẽ. Cùng với đó là nạn phá rừng đang cũn nhiều ở thị trấn. Vì vậy kết
quả lõm nghiệp đạt được cũn thấp so với tiềm năng vốn có của thị trấn.
* Tiểu thủ công nghiệp.
Bờn cạnh nhịp độ phát triển của nông – lâm nghiệp thì tiểu thủ công
nghiệp cũng được nhõn dõn thị trấn quan tõm. Trong giai đoạn 1991 – 1996
thủ công nghiệp của thị trấn Lang Chánh bước đầu chuyển biến và đưa lại
hiệu quả thiết thực, giá trị hàng năm tăng lên. UBND thị trấn tổ chức ra
nghề rốn, tổ chế biến lâm sản, tổ chức nung gạch, nung vôi phục vụ nhu cầu
xây dựng cơ bản và sản xuất.

đổi lương thưc- thực phẩm.
Tóm lại, hoạt động phát triển kinh tế của thị trấn trong giai đoạn này đạt
được những kết quả đáng phấn khởi.Ngành nghề phát triển thu hút được phần
lớn lao động có công ăn việc làm ổn định.Năng suất cõy trồng, chăn nuôi tăng.
Một số hộ nhõn dõn đã từng bước đi vào chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, từ đó
dẫn đến sự thay đổi trong lĩnh vực văn hoá – giáo dục.
1.3.2 Văn hoá – giáo dục
Tháng 4 năm 1996 Thị trấn Lang Chánh được thành lập và trở thành
trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của huyện Lang Chánh. Là nơi đặt trụ
sở của các cơ quan đầu ngành trong huyện như: UBND Huyện, Nhà văn
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
18
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

hoá, Kho bạc Nhà Nước, Công an huyện, Trung tâm y tế huyện,…Chớnh vì
vậy tình hình văn hoá – giáo dục của thị trấn phát triển nhất so với cỏc xó
trong huyện.
Về giáo dục, trong giai đoạn này trên địa bàn thị trấn có 5 trường:
trường mầm non thị trấn, trường tiểu học thị trấn, trường THCS thị trấn,
trường phổ thông cấp 2-3, trường bổ túc văn hoá.
Trường mầm non đầu tiên của huyện được ra đời tại phố I thị trấn Lang
Chánh bước đầu đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của các gia đỡnh.Nhưng tỷ lệ gửi trẻ
đến trường trong giai đoạn này còn thấp.Năm 1994 có 281 cháu.Cùng với sự
thành lập thị trấn là mô hình trường Phổ thông cấp 2-3, trường bổ túc văn hoá
cấp III, tạo điều kiện cho con em thị trấn cũng như toàn huyện đến học tập.Tỷ
lệ học sinh lên lớp 89%.Nhưng tình trạng bỏ học trong giai đoạn này tăng
nhanh, trung bình 11,2%.Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học đạt 95%, tốt nghiệp phổ
thông cơ sở 96,6%. Hàng năm đều có học sinh giỏi tuyến huyện và tỉnh.Năm

Công tác dõn số kế hoạch hóa thị trấn giai đoạn này chưa phát
triển.Tỷ lệ sinh tự nhiên 2%,sinh con thứ ba trở lên chiếm 12,5%.
Về đời sống nhân dân mặc dù cao hơn cỏc xó trong huyện nhưng chỉ
mới dừng lại ở nhu cầu đủ ăn, đủ mặc. Nhà văn hoá Huyện Lang Chánh
được xõy dựng nhưng chưa thực hiện rừ vai trò của mình trong đời sống văn
hoá của người dõn thị trấn.51% gia đình trong thị trấn đã có tivi và 69% có
điện thắp sáng.
Về cơ sở hạ tầng: Cho đến năm 1995 thị trấn Lang Chánh cơ sở hạ
tầng cũn kém, chưa có cơ sở hạ tầng đô thị. Chỉ có 2/3 hệ thống đường thị
trấn được rải nhựa.
* Tiểu kết chương 1
Điều kiện tự nhiên của thị trấn Lang Chánh như: vị trí địa lý, khí hậu,
thuỷ văn, địa hình, đất đai thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, trong
đó phát triển nông – lâm nghiệp kết hợp là thế mạnh của địa phương. Thương
nghiệp dịch vụ và thủ công nghiệp là những ngành có điều kiện phát triển
thuận lợi nhất. Thị trấn Lang Chánh là địa bàn thuận lợi nhất trong huyện đối
với việc giao lưu kinh tế với các vùng lân cận. Những điều kiện, thế mạnh
trên không chỉ tạo tiền đề vững chắc cho nền kinh tế phát triển mà nếu được
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
20
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

phát huy, khai thác tốt và đúng hướng, nếu kết hợp với những điều kiện khách
quan sẽ tạo thuận lợi lớn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hay
cũng chính là quá trình đô thị hoá của địa phương.
Nông nghiệp thị trấn từ khi thành lập đến năm 1996 nhìn chung cũng
có bước phát triển.Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo đường lối đổi mới
của đất nước nhưng còn chậm, sản xuất đang còn độc canh, khoa học kỹ

Cuộc cách mạng khoa học kỷ thuật công nghệ đã thúc đẩy nền kinh tế
thế giới phát triển nhanh chúng.Quốc tế hoá, đa phương hoá đang trở thành
xu thế mạnh mẽ tác động đến các mặt của xã hội loài người. Sự hợp tác
quốc tế ngày càng tăng.Việc Việt Nam gia nhập “Hiệp Hội Các Nước Đông
Nam Á” (ASEAN), bình thường hoá quan hệ với Mỹ là điều kiện tốt để
chúng ta phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng đặt nước ta trước những
thách thức, khó khăn mới.
Nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, tháng 6 năm 1996
Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ VIII đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục
tiêu, giải pháp đưa sự nghiệp đổi mới của nước ta đi vào chiều sâu – Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với những tiến bộ khoa học và công nghệ
tiờn tiến.Vỡ vậy khoa học công nghệ trở thành nền tảng của công nghiệp
hoá, hiện đại hoỏ.Mục tiờu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa là xây dựng
nước ta trở thành một nước công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, quốc phòng an ninh vững
chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng
thành công chủ nghĩa xó hụị.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
22
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Tháng 4 năm 2001, Đảng tiến hành Đại hội lần thứ IX đã chỉ ra mô
hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
là: phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xó hụị chủ nghĩa. Đại hội đã thông qua đường lối phát
triển kinh tế là: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh
tế dân tộc dân chủ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp. Ưu tiên phát
triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo

sức cạnh tranh, tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.Tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với phát triển và giải quyết tốt các vấn đề xã hội chủ
nghió, nâng cao đời sống của nhân dân, từng bước thực hiện công bằng xó
hụị.Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng- an ninh, giữ vững ổn định
chớnh trị.Xõy dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Đảng
và nhà nước ta đã kịp thời phân tích những biến đổi của tình hình trong nước
và quốc tế để đề ra những đường lối đúng đắn cho quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Đưa nền kinh tế nước ta phát triển đi lên, làm động lực
thúc đẩy xã hội ta tiến lên văn minh hiện đại
2.1.2 Chủ trương và biện pháp của thị trấn Lang Chánh trong việc vận
dựng đường lối của Đảng.
Quán triệt đường lối đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và nghị
quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Đảng bộ Lang chánh tiến hành tổ
chức đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII (3/1996) đề ra phương hướng, mục tiêu
cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện.Công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoỏ trờn địa bàn Lang Chánh thực chất là công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp nụng thụn.Trong nông nghiệp bao gồm nông nghiệp và lâm
nghiệp, trong nông thôn bao gồm cả kinh tế, văn hoá, xã hội.
Ánh sáng của đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, của Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XV đã hướng dẫn các Đảng bộ trong tỉnh tiếp tục đưa sự
nghiệp đổi mới vào chiều sâu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Từ ngày 27 đến ngày 29-11-2001 Đảng bộ huyện Lang Chánh tiến
hành Đại hội lần thứ XIX. Đại hội đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từng
ngành. Trong phát triển kinh tế Lang Chánh phải phát huy tiềm năng đất đai,
tài nguyên, lao động sẵn có, nâng cao tính tự lực, tự cường, tranh thủ sự đầu
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
24
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Hà Nội
25

Trích đoạn Sự chuyển biến kinh tế của thị trấn Lang Chán h huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hoá. Nông – lâm nghiệp. Thủ công nghiệp và công nghiệp. Thương nghiệp và dịch vụ. HIỆN ĐẠI HÓA (1996-2008) 3.1 Sự chuyển biến của dõn cư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status