TRƯỜNG ĐẠI HOC TỔNG HỌP HÀ NỘI
Đ IN H C Ô N G TU Â N
Qơé TRÌNH CẢI CfiCH KINH TÊ - XÃ HỘI
cỏfĩ CỘNG HÒfĩ NHÂN Dận TRUNG HOfi
( Từ 1978 ĐẾN N0Y )
*
CHUYÊN N(ỈÀNH : LỊCH sử CẬN VÀ HIỆN ĐẠI
M Ã SỔ : 5 0 3 04
L U Ậ N ÁN P H Ó T IẾ N S ĩ K H O A H Ọ C L Ị C H s ử
NGUỜI HƯỚNG DẪN : PGS. NGUYÊN VĂN HỒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TổNG HỢP HÀ NỘI
HÀ NỘI - 1995
M Ụ C L Ụ C
A . P H Ấ N M Ở Đ Ấ U :
I. Mục đ í c h , ý nghĩa nghiên eứti và lv do ehtm ứê tài
1
II.LỊeh sử vấn đê , đóng góp eữa (íêtàTTà
giói hạn vấn đẽ nghiên m u 4
III.Phương pháp nghiên cứ u
9
tv‘
IV. Nguồn tuíiệu 9
V. Giới thiệu bò cục luận án
10
B. P H Ầ N N ổ i D U N G :
*
CHƯƠNG THỬ NHẤT:
HOÀN CẢNH , LỊCH sử RA ĐỜI VÀ c ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG c u ộ c CẢI
CÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TRUNG QUỐC
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của cải cách
kinh tế trong thời kỳ điều chỉnh ( 1961 - 1965) 33
'vUý 11
3.I=ấy-cácJ4iậỉị4iêfrrrarữ5drcủa Đặng Tiểu Bình -—
(Cuk cỊryiq i
.
'ìMi.định hướng ty4uâtt-v^ubành-dỏng GhcK:ải cách
37
CHƯƠNG THỨ HAI:
TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CÚA CHN1) TRUNG HOA
Từ 12 /1978 ĐẾN NAY
I. (rt»i-4eạỉKĨ : Cải <-ác4i ^iong thôn ỉà-ehính
(từ 12 /1978 đến 10 /19 8 4)
42
"XfCaTcach nông thôn làdsàẾaỉỉ 43
2.Thử_agbịêm £ải cách ế thành th ị. — . .TÍÍ j . 1.YU iầAi:.ị.\ỳĩù.lMộ. 56
3.TreTrhrm-k triở cửa kinh tế đối ngoại 60
IL (ỉiairđtEỊii-H-: Cải cách toàn diện nên kinh tế; Èãịỹ cỉyy (MĂìv
cải cách thành t h ì i j (i0/1984 - 9/1988)
63
1.Những cải cách chủ yếu ở thành phố
64
2.Những bước cải cách tiếp theo ở nône thôn 75
3.T+&p_iiu:^ay mạnh mở cửa kinh tế váã-bên ngoài
84
III. (t4ì»ì đoạn Hi t?*" Chân chỉnh , cải tạo " nên kinh tế
" quá nóng "( 9/1988 - 12 /1 9 91 )
85
(Mi ffiértÍTứTtếxtiỉt-A^-Ntiffl 184
C.PHẢN KẾT LUÂN 196
PHÂN PHU LUC THỐNG KẼ
PHẢN CHỦ THÍCH VẢ TÀI LIÊU THAM KHẢO
1
A. PHẢN MỔ ĐÂU:
L MUC ĐÍCH, Ý NGHiA n g h iê n c ứ u vả lý do c h o n đê tải : . /
Trung Quốc là một quốc gia lớn trên cả hai bình diện : diện
tích 9.600.000 kmZ đứng thứ ba trên thế giới, và dân số 1,2 tỷ
người .đứng thứ nhất trên thế giới.
Xét trên khía cạnh văn hóa : Trung Quốc được thế giới công
nhận là một trong ba cái nôi điển hình cho ba trung tâm văn hóa cổ
của loài người ( Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp ). Ngay từ thế kỷ
thứ 18, người châu Âu đã có công phát hiện ra văn minh Trung
Hoa. Diderot đã từng nhận xét : " mọi người đều công nhận rằng
dân tộc ấy văn minh hơn hết thảy các dân tộc khác ở châuẠ: lịch
sử của họ cổ hơn, tinh thần , nghệ thuật cũng tiến bộ hơn họ
không kém các nước văn minh nhất của châu Âu" (1)
Điều đó cắt nghĩa vì sao mà bộ môn " Trung Quốc học"
chuyên nghiên cứu về nước Trung Hoa - mà trước hết là văn minh
Trung Hoa lại sớm hình thành và phát triển ở các nước phương Tây
như Pháp, Anh, Đức, Hà lan,
Xét trên các khía cạnh kinh tế, xã hội thì Trung Quốc hiện
nay đang được xem như một phòng thí nghiệm khổng lồ của thế
giới về vấn đề cải cách và phát triển. Năm 1997 hcýtiếp nhận Hồng
Kông, năm 1999 thu lại Ma Cao, và cùng với Đài Loan - mà
CHND Trung Hoa coi là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng không
là một siêu cường với tổng sản phẩmquốc dân ( GDP) vượt Mỹ,
Cộng đồng châu Âu ( EC) , Nhật Bản . Họ sẽ là nước buôn bán
/
kết quả nghiên cứu dù ít nhiều cũng đóng góp cho kho tàng tri thức
của thế giới nói chung và từng quốc gia nói riêng trong việc lựa
chọn và tìm tòi con đường phát triển cho đất nước mình.
2. Việt Nam và Trunc Quốc là hai quốc gia độc lập, có hoàn cảnh
địa lý và lịch sử rất gần gũi và gắn bó. Có lẽ cái duyên địa lý, cái
duyên văn tự đã làm cho hai quốc gia này có những bước thăng
trầm lịch sử giống nhau. Việt Nam và Trung Quốc đều phải trải
qua mấy ngàn năm phong kiến lạc hậu ,bảo thủ. Từ địa vị một dân
tộc thuộc địa , Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đã
đánh đổ ách ngoại xâm, phong kiến giành quyền độc lập tự do cho
dân tộc vào tháng 8 / 1945. Còn Trung Quốc cũng là một nước nửa
phong kiến nửa thuộc địa - tuy có nhiều cuộc cách mạng nổ ra,
nhưng nói chung các cuộc cách mạng đó đều thiếu triệt để, chỉ có
dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, tháng 10/ 1949, nước CHND
Trung Hoa được thành lập thì dân tộc ấy mới bước vào trang sử
mới. Hai nước Việt -Trung sau khi giành được độc lập đã tự
nguyện lựa chọn con đường xây dựng CNXH ở nước mình. Nhưng
do vận dụng cứng nhắc, thậm chí sao chép mô hình xây dựng
CNXH của Liên Xô vào nước mình, mà cả hai nước đều mắc phải
những căn bệnh rất giống nhau, đó là ấu trĩ, tả khuynh, duy ý chí
trong tư tưởng và hành động. Trong đường lối xây dựng kinh tế đã
quá tập trung vàotay chính quyền trung ương bằng các kế hoạch
pháp lệnh, chỉ huy kinh tế bằng mệnh lệnh từ trên áp đặt xuống
không tuân theo các quy luật kinh tế thị trường, cào bàng
trong phân phối VI vậy mà trong 30 năm xây dựng chủ nghĩa xã
4
hội , bên cạnh những thành tựu đã thu được, cả hai nước đều phải
trả giá đắt cho những sai lầm ấy. Trước tình hình đó , không còn sự
lựa chọn nào khác, cả hai nước đều tiến hành sự nghiệp đổi mới và
cải cách.Tuy thời gian tiến hành, các phương pháp và biện pháp
KHXH Trung Quốc", " Cục thống Kê nhà nước " , " Trung tâm
thông tin nhà nước", các trường đại học và các viện khoa học xã
hội các tỉnh, thành toàn quốc. Tống Đình Minh đã"Tổng thuật 10
năm cái cách thể chế kinh tế của Trung Quốc" ( xuất bản năm
1988) . Tác giả Cao Thượng Toàn đã phân tích lịch trình " Cái cách
thể chế kinh tế của Trung Quốc" bằng cuốn sách cùng tên xuất bản
năm 1991. Lưu Quốc Quang trong cuốn " Nhìn lại 10 năm Lý luận
cải cách kinh tế" ( xuất bản 1991) đã có cách nhìn hồi c^ về chặng
đường lịch sử của công cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc .
Trong cuốn sách " Lịch trình cái cách và mở cửa của Trung Quốc
từ năm 1949 tới năm 1989 " ( xuất bản tháng 4/1991) , Vương
Hồng Mô chủ biên, vấn đề cả^i cách kinh tế xã hội đã được xem
xét dưới góc độ của nhà nghiên cứu lịch sử. Tháng 10/ 1993, nhà
xuất bản Vănj/liến KHXH đã cho ra mắt bạn đọc cuốn sách " Cải
cách kinh tế của Trung Quốc" . Với 276 trang, các tác giả Trung
Quốc và Mỹ đã tổng thuật lại công cuộc cái cách kinh tế 15 năm
qua ( 1978 - 1993), nêu lên những vấn đề cả^ịcách kinh tế nông
thôn thành thị với những thành tựu, tồn tại rất cụ thể Đến tháng 4
/1994, nhà xuất bản Kinh tế Tài chính Trung Quốc lại cho ra mát
6
bạn đọc cuốn sách " Báo cáo cải cách và phát triển của Trung
Quốc (1992 - 1993) - những đột phá và thách thức mới". Cuốn
sách này do tổ chuyên gia của cơ quan khoa học ở trung ương biên
soạn. Ngoài việc phân tích tiến trình lịch sử của công cuộc cải cách
kinh tế xã hội Trung Quốc từ 1978 đến 1991, các tác giả còn phân
tích nhiệm vụ mới của công cuộc cải cách từ 1992 trở lại đây .Đó là
thời kỳ cải cách toàn diện , đi sâu vào cải cách. Gần đây các tạp
chí "Nghiên cứu kinh tế"," Nehiên cứu lịch sử " của Trung Quốc
đã đăng tải hàng loạt các bài về chủ đề cải cách kinh tế - xã hội
trong giai đoạn hiện nay.
cứu kinh tế"," Những vấn đề kinh tế thế giới"," Nghiên cứu Trung
Quốc" , " Kinh tế châu - Thái Bình Dương " Nghiên cứu lịch
sử", " Thông tin Khoa học xã hội", " Nghiên cứu Đông Namầ", "
Tạp chí Xã hội học " của trung tâm khoa học xã hội và nhân văn
quốc gia, các tạp chí "Tạp chí Cộng sản" , " Nghiên cứu quốc tế","
Thông tin lý luận" ở các cơ quan của Đảng và nhà nước Việt nam
đã giới thiệu, phân tích, đánh giá về quá trình cải cách kinh tế xã
hội của Trung Quốc trong những năm vừa qua. Các cuốn sách
Trung Quốc từ Mao đến Đặng" do phó giáo sư Văn Trọng chủ
biên, xuất bản năm 1984; cuốn " Nghiên cứu Trung Quốc hiện đaị"
do phó giáo sư Hoàng Việt chủ biên, xuất bản năm 1985; đặc biệt
hai cuốn sách " Trung Quốc trên đường cải cách " do phó giáo sư
8
Nguyễn Đức Sự chủ biên, xuất bản năm 1991 và cuốn "Trung
Quốc cải cách mở cứa" do phó giáo sư Vũ Hữu Ngoạn chủ biên,
xuất bản năm 1992 là những tác phẩm nghiên cứu toàn diện quá
trình trước và sau cải cách. Gần đây, nhà xuất bản KHXH liên tiếp
xuất bản hai cuốn sách có nội dung về chủ đề cải cách kinh tế - xã
hội của Trims Quốc, cuốn " Trune Quốc - thành tựu và triển vọng
r c,.yn " xuất bản năm 19941 và cuốn " Cải cách kinh tế của CHND Trung
Hoa: lựa chọn mới cho sự phát triển " của PTS Nguyễn Minh Hằng
xuất bản năm 1995 . Đây là hai cuốn sách quý , rất đáng được tham
Tác giả bản luận án này đã phân tích, lựa chọn và kế thừa có
chọn lọc các kết quả nghiên cứu của tất cả các công trình trong và
ngoài nước kể trên. Tác giả mong muốn được trình bày có hệ thống
những nét khái quát về tiến trình lịch sử của công cuộc cải cách
kinh tế - xã hội của Trung Quốc hơn 16 năm qua. Trên cơ sở đó
sắp xếp có trình tự các ý kiến đánh giá về thành tựu và những vấn
đề tồn tại của công cuộc cải cách đó. Cuối cùng thử đưa ra những
bài học lịch sử, kinh nghiệm quý báu của Trung Quốc trong sự
XIV. Các bài viết, phát biểu, nói chuyện của các lãnh tụ Trung
Quốc có liên quan đến đề tài. Các văn bản chính thức, c^c )fniên
giám thống kê, các chuyên luận đăng tải trên các sách, các tạp chí,
luận văn về đề tài này. Ngoài ra còn tham khảo thêm các tư liệu
bằng tiếng Nua, tiếng Anh. Rất may mắn cho tác giả đã được thực
tế tiếp xúc với cành và người Trung Quốc qua chuyến đi conítác tại
tỉnh Quáns Tây Trung Quốc vào tháng 10/1991 ; đã được học tập,
trao đổi kinh nghiệm nghiên cứu với các học giả Liên Xô qua
chuyến công tác ở Liên Xô tháng i 1/1990 và thực tập khoa học tại
Viện Viễn Đông Cộng Hòa Liên Bang Nga từ tháne 4/1993 đến
tháng 8/ 1994. Nhữnc; đợt thực tế , học tập , trao đối tại nước ngoài
đã rất có ích cho việc nghiên cứu và hoàn thành bản luận án với đề
tài cải cách này của tác giả.
2. Nguồn tư liệu bằng tiếng Việt được đăng trên các sách báo, tạp
chí, các báo cáo khoa học, các tài liệu trong các thư viện chuyên
ngành, các bài dịch, tổng thuật , thông tin đã được dịch ra tiếng
Việt cả các tác giả khác nhau trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh,
Nga, Nhật, Đài Loan, Hồng Kông
V. GIỚI THIÊU BỐ CLJC LUÂN ÁN:
S Luận án với tiêu đê " Quá trình cải cách kinh tế - xã hội
của Cộng Hòa Nhân dàn Trung Hoa từ 1978 đến nay" được
V chia thành ba phần :
j A- Phân mư đâu : Như đã trình bày ở trên
B- Phần nội dung: gồm ba chương
I. Chưưng thứ nhất : Hoàn cảnh lịch sử ra đời và cơ sở lý
luận của công cuộc cải cách kinh tế - xã hội của Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của cải cách
2. Công cuộc cải cách kinh tế xã hội của CHND Trung Hoa
phù hợp với hoàn cảnh quốc tế
kinh tế nông thôn Trung Quốc rơi vào tình trạng lạc hậu ; tự nhiên,
bán tự nhiên Dựa trên một cơ sở kinh tế như vậy, dưới sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân,nhân dân Trung Quốc đã tiến hành
cuộc cách mạng dân chủ mới, tháng 10/ 1949 cách mạng thành
công, cả nước Trung Quốc hăng hái tiến lên xây dựng CNXH .Kể
từ tháng 10/ 1949 đến tháng 12/ 1978 ( năm cả nước Trung Quốc
bát đầu công cuộc cải cách kinh tế - xã hội )j Trong suốt 30 năm
rv&ỵì »Vn*<
năm,
xây dựng CNXH theo kiểu cũ đó, nước CHND Trung Hoa đã trải
qua những bước thăng trâm,biến đổi và bế tắc ; nền kinh tế hàng
hóa không phát triển , cơ sở vật chất của CNXH rất yếu kém,
không thể nào giải quyết được mâu thuẫn cơ bản giữa sức sản xuất
xã hội lạc hậu với nhu cầu ngày càng cao trong đời sống vật chất
và văn hóa của nhân dân; nền kinh tế kế hoạch hóa cứng nhác là
chủ đạo , kế hoạch kinh tế mệnh lệnh từ Trung ương áp đặt xuống
địa phương, nhà nước quản lý mọi vấn đề từ tài nguyên ( nhân lực,
vật lực) đến khâu sản xuất và phân phối chính nhu' chỉ cho phép
hai hình thức sở hữu : nhà nước, tập thể tồn tại, còn các hình thức
khác đều bị xóa bỏ Sự phát triển của xã hội Trung Quốc sau 30
năm xây dựng CNXH kiểu trại lính;tập trung^quan liêu, bao cấp đã
đưa Trung Quốc vào con đường bế tắc : sản xuất bị đình đốn,
không phát triển; đời sống nhân dân neày càng nghèo nàn tất cả
những điều đó buộc Trung Quốc phải tích cực tiến hành công cuộc
cải cách kinh tế - xã hội nhằm mục đích đưa xã hội Trung Quốc
phát triển đi lên. Cái cách thực sự là động lực của quá trình phát
triển. Có thể khái quát 30 năm Trung Quốc xây dựng CNXH kiểu
cũ bằng năm giai đoạn như sau:
1. €rtaHk»anỊl949 -
cách ruỏng đất) ^
cù(vất vả quanh năm nhưng vãn không đủ ăn. Đó chính là nguồn
gốc cơ bản khiến Trung Hoa bị áp bức bóc lột và rơi vào tình trạng
đói nghèo lạc hậu . Tinh trạng đó nếu không được cải cách triệt để
thì nông dân sẽ không được hưởng quả thực cơ bản mà cách mạng
đã đem lại. Vì vậy mà dưới sự lãnh đạo của Đảna; cộng sản Trung
Quốc0 ^)0 triệu) nông dân Trung Quốc đã tiến hành cải cách ruộng
^ Ait để xóa bỏ quyền sở hữu cuả bọn phong kiến địa chủ bóc lột,
15
đem lại ruộne đất cho dân cày. Từ tháng 6 / 1950, sau khi nhà nước
công bố " cái cách ruộng đất", ở khắp những vùng giải phóng đã
triển khai phontĩ trào này rất rầm rộ. " Đến tháng 9/1952 chỉ trừ
khu vực các dân tộc thiểu số sinh sống, toàn bộ Tru nu Quốc về cơ
bản đã hoàn thành công cuộc cải cách ruộníĩ đất. Cải cách ruộng
đất là một cuộc cách mạng to lớn, triệt để nhất về chế độ ruộng đất
lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc . Toàn quốc ước có
nông dân đã được chia 700 triệu mẫu đất với hàng loạt
J sản xuất" (7) . Từ đó mà sức sản xuất nông nghiệp đã
được giải phóng, khối liên minh công nông và chuyên chính dân
chủ nhân dân đã được củng cố mạnh mẽ, tạo những cơ sở vững
chắc cho công cuộc cải tạo XHCN sau này. Trong thời kỳ cải cách
ruộng đất, Trung Quốc đồngthời còn gánh vác nghĩa vụ quốc tế "
iện Triều^chống Mỹ" , vì thế tài chính quốc gia gặp nhiều khó
khăn. Nhưng nhờ có các chính sách về đầu tư, giá cả trợ giúp cho
nông nghiệp, đã khơi dậy những phong trào khôi phục sản xuất
nồng nghiệp trong cả nước. Vì vậy trong giai đoạn cải cách ruộng
đất, sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ.
Tổng giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1952 tăng 48,5% so với
năm 1949 ; tống sản lượng lương thực tăng 44,8%; sản lượng bông
tăng 1,93 lần; dầu ăn tăng 60% ( 8).
Nhưng bên cạnh các thành tựu đã thu được, trong giai đoạn
16
17
hồrm ruộng đất; thực hành kinh doanh thống nhất tập thể; tập trung
lao động; phân phối thống nhất theo kiểu bình công ghi điểm, dựa
vào công điểm mà phân phối Thực ra phong trào hợp tác hóa
nông thôn là một việc làm có ý nghĩa quan trọng nhằm củng cố cơ
sở kinh tế XHCN, nhằm chuyển hướng sản xuất lớn, xã hội hóa
kinh tế nông thôn Nhưng do Đảng và Chính phủ Trung Quốc chỉ
chú trọng đến " thanh thế của phong trào" và " tốc độ của phong
trào" mà xem nhẹ con đườim phát triển cụ thể, không tìm tòi
phương thức hoạt động và tồn tại của HTX , do đó phong trào hợp
tác hóa đã diễn ra quá nhanh , vội vâng làm tổn thương đến lợi ích
kinh tế và tính tích cực sản xuất của người nông dân. Phong trào "
công xã nhân dân hóa" năm 1958 càng đẩy công cuộc cải cách chế
độ sở hữu ở nông thôn Trung Quốc đến cực đoan. Chỉ trong vòng
mấy tháng ngắn ngủi, phong trào "công xã nhân dân hóa" đã lấy
tốc độ " đại nhẩy vọt" để triển khai trên địa bàn toàn quốc, hơn 740
nghìn các "HTX nông nghiệp sơ cấp" toàn Trung Quốc đã biến
thành hơn 26 ngàn các " công xã nhân dân" (9).Thể chế " công xã
nhân dân" lấy " nhất đại.nhị công” ( một là lớn, hai là công hữu) và
" chính xã hợp nhất" ( chính quyền và công xã hợp nhất làm m ột)
làm đặc điểm c ơ bản cho việc xây dựng CNXH kiểu cũ trong suốt
30 năm.Công bằng mà nói, thể chế " công xã nhân dân" cũng có
những thành tựu nhất định trong việc cải tạo nông nghiệp truyền
*
thốns;, xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn như giao thông, đường
xá , thủy lợi, cơ giới hóa nông nghiệp nhưng với phương thức
quản lý tập trung, kinh doanh thống nhất, phân phối cào bằng kiểu
" nồi cơm đầy" đã gây trở ngại lớn lao cho sự phát triển nền kinh
Tỉ-Ì
to ( về số lượng )- dầy ( về quy mô) - dài ( về kế hoạch) với đường
lố i" dĩ cương vi cươne" ( lấy cônq nghiệp nặng - gang thép làm cơ
sở ). Họ chỉ chấp nhận hai hình thức sở hữu : nhà nước và tập thể,
còn tất cả các hình thức sở hữu khác đều bị coi là CNTB và bị đào
thải. Trung Quốc đã bắt đầu trượt ra khỏi quỹ đạo chung trong sự
vận hành và phát triển chung của sự vật. Chủ nghĩa chủ quan duy ý
c h í" tả khuynh" trong tư tưởng và hành động xây dựng CNXH đã
phát triển . Đó là sai lầm có tính chiến lược trong đường lối xây
dựng CNXH ở Trung Quốc, hậu quả của nó sẽ âm ỉ và dai dẳng tàn
phá cơ chế kinh tế xã hội Trung Quốc trong suốt 30 năm sau. Giai
đoạn 1953 -1957 Trung Quốc sai lầm trong công cuộc cải tạo
XHCN , nhưng that khách quan mà nói, kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất, họ cũng da thu được những thành tựu ban đầu, hơn thời kỳ
trước giải phóng." Đến cuối năm 1957, Trung Quốc đã hoàn thành
vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ I , so với năm 1952, giá trị tổng
sản lượng công nghiệp tăng 129% , nông nghiệp tăng 25%, tổng
thu nhập quốc dân tăng 53%, mức tiêu phí trung bình của cư dân
toàn quốc tăng 23% (10) .
Sau khi đất nước được giải phóng, có một tâm lý chung cho
tất cả các dân tộc trên thế giới là đều rất hăng hái, nhiệt tình xây
Vcv VWí
dựng lại đất nướcV Việc Trung Quốc thu được những thành tựu
trons; kế hoạch 5 năm lần thứ I đã khẳng định đó là những thành
tựu có tính thời đại, đồng thời còn thể hiện tính ưu việt của CNXH ,
20
đã tạo ra được nhữnu cơ sở vật chất ban đầu cho sự nghiệp xây
dựng CNXH sau này. Nhưng với lối suy nghĩ chủ quan, duy ý c h í,
những người cộng sán Trung Quốc đã bất chấp các quy luật kinh tế
khách quan, đấy nhanh quá trình xây dựng CNXH , thể hiện trong
công cuộc cải tạo XHCN, thúc đẩy nhanh quá trình công xã nhân