BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ NGỌC THƯ
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
CHÂU THÀNH (TỈNH BẾN TRE) TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ NGỌC THƯ
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
CHÂU THÀNH (TỈNH BẾN TRE) TRONG THỜI KỲ
ĐỔI MỚI GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngọc Thư
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...........................................................................3
LỜI CÁM ƠN .................................................................................4
MỤC LỤC .......................................................................................5
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN.............................7
THỐNG KÊ BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN ......................8
MỞ ĐẦU .........................................................................................1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ............................................................................ 1
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ ........................................................ 2
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI .................... 5
4. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................... 6
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ............................................................... 7
6. BỐ CỤC ..................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI,
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHÂU THÀNH
(TỈNH BẾN TRE) TRƯỚC NĂM 1986.......................................8
1.1. Khái quát về vùng đất, con người huyện Châu Thành (tỉnh Bến
Tre) ................................................................................................................. 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................... 8
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ........................................................................ 12
1.1.3. Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân huyện Châu Thành (tỉnh
Bến Tre) qua các thời kỳ lịch sử ........................................................................ 14
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ sau
ngày giải phóng đến trước đổi mới (1975-1985) ...................................... 19
PHỤ LỤC ........................................................................................1
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HĐBT: Hội đồng bộ trưởng.
BVBMTE: Bảo vệ bà mẹ và trẻ em.
DS-KHHGĐ: Dân số kế hoạch hóa gia đình.
THCS: Trung học cơ sở.
TDTT: Thể dục thể thao.
GĐTT: Gia đình thễ thao.
NDTQ: Nhân dân tự quản.
TDĐKXDĐSVH: Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.
THỐNG KÊ BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1: Thống kê các loại cây trồng của huyện Châu Thành từ năm 1995
đến năm 2010.
Bảng 2.2: Giá trị ngành trồng trọt từ năm 1995 đến năm 2010.
Bảng 2.3: Thống kê cơ cấu, sản lượng chăn nuôi của huyện Châu Thành từ
năm 1995 đến năm 2010.
Bảng 2.4: Nuôi trồng, đánh bắt ngành thủy sản của huyện Châu Thành từ
năm 1995 đến năm 2010.
Bảng 2.5: Ngành lâm nghiệp của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến 2010.
Bảng 2.6: Các sản phẩm chính của ngành công nghiệp – tiểu thủ công
nghiệp huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010.
Bảng 2.7: Danh mục các chợ của huyện Châu Thành.
Bảng 2.8: Doanh số mua bán của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010.
Bảng 2.9: Các mặt hàng xuất khẩu của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến
năm 2010.
Bảng 2.10: Ngành ngân hàng của huyện Châu Thành từ năm 1995 đến năm 2010.
và dân Bến Tre nói chung, huyện Châu Thành nói riêng đã vượt qua bao
khó khăn thử thách, đạt được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp
xây dựng quê hương và làm nghĩa vụ trên chiến trường biên giới Tây Nam,
trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, tạo tiền đề rất quan trọng để bước vào thời kỳ phát triển mới.
Trong giai đoạn cùng cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985) tuy
với thời gian rất ngắn lại gặp nhiều khó khăn: hậu quả nặng nề của 30 mươi
năm chiến tranh, thiên tai liên tục; nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn đơn giản,… nhưng Đảng bộ và nhân dân
Bến Tre nói chung, huyện Châu Thành nói riêng cùng cả nước đã giành
được những thắng lợi bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở huyện Châu Thành giai đoạn này cũng tồn tại những hạn
chế nhất định.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12.1986) với đường lối đổi mới
đúng đắn đã tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói
chung và huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) nói riêng. Vận dụng sáng tạo
đường lối đổi mới của Đảng vào tình hình thực tế địa phương, từ năm 1986
đến năm 2010, kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) đã có
những chuyển biến rõ rệt, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Dù
vậy, quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre)
trong giai đoạn đổi mới cũng bộc lộ những hạn chế.
Chính vì vậy, việc dựng lại bức tranh toàn cảnh về quá trình phát triển
kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ sau ngày đất nước giải
phóng đến năm 2010, đặc biệt để thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ về
kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2010) của huyện là một vấn
đề mới, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Trước tiên, nghiên cứu đề tài: “Chuyển biến kinh tế - xã hội huyện
Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đổi mới giai đoạn 1986 – 2010”
Các tác phẩm: “Đổi mới kinh tế và phát triển” của Đoàn Thị Thu Hà,
xuất bản năm 1995; “Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam – một số vấn
đề lý luận cấp bách” của Trần Xuân Trường, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia năm 1996, … nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước
trong thời kỳ đổi mới nhưng mang tính khái quát.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới như: “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp,
thành tựu và triển vọng” của Nguyễn Văn Bích, nhà xuất bản Hà Nội, năm
1994; “Đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn”, nhà xuất bản Nông
nghiệp năm 1998; “Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã nông nghiệp
nông thôn” của Lương Xuân Quý, xuất bản năm 1999,… các công trình này
đã cung cấp cách đánh giá công cuộc đổi mới trên lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn.
Có nhiều công trình nghiên cứu về Nam Bộ, đề cập về vùng đất Bến
Tre và kinh tế - xã hội Bến Tre như:
- “Lịch sử khẩn hoang miền Nam” của Sơn Nam, xuất bản năm 1973,
đã cung cấp những tư liệu về cuộc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Nam Bộ
vào các thế kỷ XVIII – XIX.
- Trong “Gia Định xưa” nhà văn Sơn Nam đã đề cập đến vấn đề đất đai,
thiên nhiên, phong thổ, phong tục, tập quán của vùng đất nam Bộ và công
cuộc khẩn hoang vùng biên giới Tây Nam. Nguyễn Duy Oanh với “Tỉnh
Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1575 đến 1945)”, xuất bản năm
1971.
Từ sau năm 1975 đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu về đồng
bằng sông Cửu Long và Bến Tre:
- Huỳnh Lứa với tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ”, xuất
bản năm 1987, góp phần tìm hiểu về quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ,
trong đó có Bến Tre. Tác giả đã khái quát quá trình di chuyển dân cư, khai
ngày sau giải phóng Bến Tre đã cùng với cả nước xây dựng chủ nghĩa xã
hội và đã giành được những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế - xã hội.
- Quyển “Cuộc đồng khởi năm xưa và cuộc đồng khởi mới xây dựng quê
hương giàu đẹp”, xuất bản năm 2010 viết về những thành tựu kinh tế - xã
hội của tỉnh Bến Tre.
Như vậy, tất cả các công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập những vấn
đề mang tính khái quát về công cuộc đổi mới đất nước. Cho đến nay chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, trình bày có hệ thống về vấn
đề kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm 1986 đến năm
2010.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Đối tượng
Đề tài tập trung tìm hiểu và làm rõ tình hình kinh tế - xã hội huyện Châu
Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến năm 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, đề tài tìm hiểu về huyện Châu Thành thuộc tỉnh Bến Tre.
Về thời gian, đề tài chủ yếu tìm hiểu kinh tế - xã hội huyện Châu Thành
(tỉnh Bến Tre) thời kỳ đổi mới, giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2010.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng phát triển kinh tế - xã hội
huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm 1986 đến năm 2010. Dựng lại bức
tranh kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) thời kỳ đổi mới
(giai đoạn 1986 – 2010).
Trên cơ sở những thành tựu đạt được về kinh tế - xã hội huyện Châu
Thành (tỉnh Bến Tre), đề tài đã rút ra những đặc điểm riêng về kinh tế - xã
hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trong thời kỳ đổi mới, những bài học
kinh nghiệm của quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội huyện
Châu Thành (tỉnh Bến Tre).
ra những kết quả tổng hợp giúp hoàn thành đề tài.
Phương pháp so sánh và phân tích cũng được sử dụng để làm sáng tỏ sự
chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) so với thời
kỳ trước và sau đổi mới.
Phương pháp khảo sát điền dã để có thêm cơ sở nhận định về kinh tế - xã
hội huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre (giai đoạn 1986 – 2010).
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Dựng lại bức tranh về sự chuyển biến kinh tế - xã hội huyện Châu Thành
(tỉnh Bến Tre) từ năm 1986 đến năm 2010.
Nêu những thành tựu, đặc điểm, bài học kinh nghiệm trong xây dựng,
phát triển kinh tế - xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) thời kỳ đổi mới.
Đồng thời đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho huyện Châu Thành
trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, luận văn còn làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy lịch
sử địa phương, giáo dục thế hệ trẻ, đặc biệt đối với huyện Châu Thành (tỉnh
Bến Tre).
6. BỐ CỤC
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung
của luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về vùng đất, con người, tình hình kinh tế - xã hội
huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) trước năm 1986.
Chương 2: Chuyển biến kinh tế huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) từ năm
1986 đến năm 2010.
Chương 3: Chuyển biến xã hội huyện Châu Thành (tỉnh Bến Tre) những
năm 1986 – 2010.
CHƯƠNG 1: KHÁT QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI,
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CHÂU THÀNH
(TỈNH BẾN TRE) TRƯỚC NĂM 1986
Thành, Bảo Khánh, Bảo Hựu, Bảo Ngãi, Bảo Đức), chiếm phần phía tây cù
lao Bảo, tính từ ranh giới các xã Phong Mỹ, Lương Quới, Lương Hòa ngược
trở lên.
Sau Cách mạng Tháng 8-1945, Bến Tre đổi thành tỉnh Đồ Chiểu, đồng
thời một huyện mới cũng được thành lập lấy tên là huyện Tán Kế, gồm một
số xã của huyện Châu Thành và một số xã của huyện Ba Tri hợp lại. Huyện
Tán Kế chỉ tồn tại đến năm 1948 thì giải thể, các xã bị cắt ra trước đó thì
nhập về huyện cũ. Cũng trong thời gian này, để việc chỉ đạo được thuận
tiện, Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh quyết định chia huyện Châu
Thành làm hai: một nửa ngang từ xã Sơn Đông, Tam Phước ngược trở lên
thành huyện Sóc Sải (gồm 11 xã), phần còn lại vẫn gọi là huyện Châu
Thành (gồm 25 xã).
Năm 1948, một quyết định khác của Ủy ban Kháng chiến hành chính
Nam Bộ sáp nhập 6 xã ở phần đầu cù lao Minh (thuộc tỉnh Vĩnh Long), cù
lao An Hóa (thuộc tỉnh Mỹ Tho) nhập vào tỉnh Bến Tre để thành một địa
bàn thống nhất, tiện cho việc chỉ đạo và tổ chức chiến đấu. Từ kênh An Hóa
trở lên đến xã Phú Đức gồm 11 xã, thuộc huyện Sóc Sải, từ kênh An Hóa
trở xuống đến xã Thới Thuận gồm 14 xã, thuộc huyện An Hóa. Tỉnh Bến
Tre lúc này gồm trọn diện tích 3 cù lao: Minh, Bảo và An Hóa, chia thành 7
huyện: Mỏ Cày, Thạnh Phú, Chợ Lách, Ba Tri, Châu Thành, Sóc Sải và An
Hóa.
Sau hiệp định Genevơ (20-7-1954), chính quyền Ngô Đình Diệm tách cù
lao An Hóa, sáp nhập vào Mỹ Tho như cũ. Cho đến tháng 6-1956, chủ
trương chung điều chỉnh lại địa giới các tỉnh phía Nam, cù lao An Hóa lại
nhập với cù lao Bảo và cù lao Minh thành một tỉnh mới với tên là Kiến Hòa.
Về phía Cách mạng, sau Đồng Khởi (1-1960), Tỉnh ủy Bến Tre ra quyết
định nhập lại hai huyện Sóc Sải và Châu Thành thành huyện Châu Thành
(mới). Đến tháng 7-1972 – thời kỳ bình định ác liệt của địch – lại có quyết
Ngoài ra, với vị trí thuộc đỉnh tam giác châu sông Tiền, đất đai có độ phì
cao, chủ động nước theo triều và gần như nước ngọt quanh năm, Châu
Thành còn là huyện trọng điểm phát triển kinh tế vườn của tỉnh, phát triển
mạnh du lịch sinh thái, gắn kết với các trung tâm dịch vụ - thương mại, các
khu - cụm công nghiệp quy mô lớn, là một trong những huyện trọng điểm
đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đảm bảo tốc độ
tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh Bến Tre.
Khí hậu, thời tiết: Huyện Châu Thành có các đặc điểm chung về khí
hậu thời tiết so với tỉnh Bến Tre:
Nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ.
Các chỉ tiêu khí hậu (quang năng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ, không
khí,…) phân hóa thành hai mùa tương phản: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng
11 trùng với gió mùa Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng
với gió mùa Đông Bắc. Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm; chế độ khí hậu
phân hóa thành hai mùa: mùa khô và mùa mưa với chế độ ẩm, bốc hơi và
quang năng trái ngược nhau, trong đó đáng lưu ý là lượng mưa thuộc vào
loại trung bình thấp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (1.400-1.600 mm).
Chế độ thủy văn: Địa bàn chịu ảnh hưởng chính của ba nhánh sông Tiền
(10,5% lưu lượng sông Cửu Long), sông Hàm Luông (14% lưu lượng) và
sông Ba Lai (
đường, thủ công mỹ nghệ,… công nghiệp bước đầu phát triển; một số nhà
máy, xí nghiệp lớn của tỉnh được đặt tại Châu Thành như nhà máy đường
An Hiệp, xí nghiệp chế biến tôm đông lạnh,… đã đóng góp các tiềm năng
thế mạnh của vùng đất trù phú này.
Hiện nay, dân số của huyện là 164.859 người, mật độ bình quân 700
người/km 2 . Đa số là người Việt, một số ít là người Hoa. Trải qua nhiều thế
kỷ chung lưng đấu cật chống chọi với thiên nhiên để sản xuất, xây dựng
cuộc sống, giữa người Việt và người Hoa có sự đoàn kết gắn bó, hòa nhập
trong cộng đồng dân cư.
Châu Thành là huyện có nhiều tôn giáo như đạo Phật, đạo Thiên Chúa,
Cao Đài Tiên Thiên, Tin Lành,… Đạo Phật có nguồn gốc từ lâu đời, có
đông tín đồ, chùa xưa nhất còn lại là Hội Tôn Cổ Tự thuộc xã Quới Sơn
được xây vào năm 1740. Đạo Thiên Chúa có nhà thờ ở các xã: An Hiệp,
Phú Đức, Phú Túc. Đạo Cao Đài Tiên Thiên được thành lập vào năm 1927,
Hội Thánh Trung ương đặt tại xã Tiên Thủy. Đạo Hòa Hảo có ban đại diện
ở xã Quới Thành. Nhìn chung, đại bộ phận tín đồ tôn giáo là nông dân.
Cũng như nhiều địa phương khác ở Nam Bộ, vùng đất Châu Thành có
quá trình khai phá cách đây hơn 300 năm. Dưới thời các chúa Nguyễn, Châu
Thành còn thuộc đạo Trường Tồn. Khi chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần cho số
di thần nhà Minh dưới quyền chỉ huy của tổng binh Dương Ngạn Địch vào
khai khẩn vùng Định Tường năm 1679 đã có những lưu dân người Việt vào
sinh sống khai phá.
Những lưu dân đến định cư khai phá bằng hai con đường: đường bộ từ
Mô-Xoài Nông-Nại (Đồng Nai) xuống và đường biển theo gió mùa Nam
Ngãi vào. Việc đi lại bằng đường bộ lúc này còn nhiều khó khăn, nguy
hiểm, nên nhiều lưu dân đã dùng ghe, thuyền theo đường biển vào. Từ nhiều
nơi khác, những lưu dân trong quá trình đi tìm đất mới để về đây hội tụ,
cùng chung sức khai cơ dựng nghiệp. Họ tập hợp thành những man, nậu,
trại khai khẩn các vùng đất cao lập thành thôn xóm. Những cư dân đầu tiên
Đức, Phú Túc (nơi đóng binh của một mũi vu hồi của quân Tây Sơn) đã ủng
hộ nghĩa quân Tây Sơn đánh tan 5 vạn quân Xiêm – Nguyễn trong trận
Rạch Gầm - Xoài Mút đưa sự nghiệp giữ nước thắng lợi.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, cùng cả
nước, nhân dân huyện Châu Thành sôi sục ý chí đánh giặc cứu nước. Tụ
nghĩa dưới cờ của các sĩ phu yêu nước như Phan Tôn, Phan Liêm (1867),
Thủ Khoa Huân (1875), Tán Kế (11.1875), nhân dân huyện Châu Thành đã
biểu thị mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất của mình.
Lực lượng nghĩa quân đã bám sát, tiêu diệt quân Pháp. Chính sử sách của
bọn thực dân cũng phải thừa nhận tinh thần dũng cảm của nghĩa quân “đã
cầm dáo, cầm gậy đến chụp lấy lưỡi lê. Người ta không thể phủ nhận sự can
đảm của những người cận chiến, đã không sợ chết để chống lại binh lính
thiện chiến có vũ khí đáng sợ” [38; 160].
Các cuộc khởi nghĩa vũ trang tuy thất bại, nhưng ngọn lửa yêu nước, bất
khuất vẫn âm ỉ cháy trong lòng dân, các cuộc đấu tranh chuyển sang hình
thức mới với các “Hội Kín”, phong trào Thiên Địa Hội, Hội Khuyến học, để
tang Phan Châu Trinh, đòi ân xá Phan Bội Châu.
Chính trên cơ sở truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu bảo vệ độc lập
tự do tạo điều kiện để nhân dân huyện Châu Thành đến với Đảng Cộng Sản
Việt Nam.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, điều kiện kinh tế
trù phú, nhân dân huyện Châu Thành đã góp phần quan trọng về người, về
của cho kháng chiến.
Chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Bến Tre, trước tiên qua Châu
Thành từ những năm 20 của thế kỷ XX, đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng.
Phong trào yêu nước của nhân dân diển ra mạnh mẽ, cùng với tổ chức Việt
Nam cách mạng thanh niên năm 1927 - tổ chức tiền thân của Đảng.
Về mặt quân sự, Châu Thành có vị trí chiến lược quan trọng, trong hai
nông dân, chính sách Đại đoàn kết, chính sách tôn giáo và đẩy mạnh công
tác ngụy địch vận.