Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
………………… CHU HUY HƢNG
CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
HUYỆN BẠCH THÔNG TỈNH BẮC KẠN (1986 - 2010)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG NGỌC LA
Thái Nguyên: 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Chƣơng 2: CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ HUYỆN BẠCH THÔNG
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 - 2010)
2.1 Huyện Bạch Thông trong thời kì đổi mới đất nước. 37
2.1.1 Bối cảnh lịch sử 37
2.1.2 Đường lối đổi mới của Đảng 38
2.2 Chuyển biến về kinh tế huyện Bạch Thông. 40
2.2.1 Nông nghiệp, lâm nghiệp 40
2.2.2 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 58
2.2.3 Thương mại, dịch vụ 62
2.2.4 Tài chính, ngân hàng 66
2.2.5 Xây dựng cơ sở hạ tầng 73
Chƣơng 3: CHUYỂN BIẾN VỀ XÃ HỘI HUYỆN BẠCH THÔNG TRONG
THỜI KÌ ĐỔI MỚI (1986 - 2010).
3.1 Giáo dục - đào tạo, văn hóa - thông tin - thể thao 82
3.2 Y tế - môi trường 96
3.3 Lao động - việc làm 103
3.4 Thu nhập - đời sống 106
3.5 Thực hiện các chính sách xã hội 109
3.6 Công tác an ninh - quốc phòng. 113
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
PHỤC LỤC 133
Bạch Thông là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Kạn, là nơi sinh sống của
nhiều dân tộc anh em, có nhiều lợi thế để phát triển một nền kinh tế đa dạng.
Cách thị xã Bắc Kạn khoảng 18 km về phía bắc với hệ thống đường giao thông
tương đối phát triển. Trừ một số xã nằm sâu giữa vùng núi non hiểm trở ở hai
phía đông và tây, các tổng và các xã còn lại đều nằm dọc các thung lũng, giao
thông liên lạc khá thuận tiện. Bạch Thông có tiểm năng là một thị trường lớn về
cung cấp và tiêu thụ.
Trải qua 25 năm (1986 - 2010) thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
Bạch Thông đã có nhiều chuyển biến quan trọng về kinh tế - xã hội. Điều đó đã
khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
hợp với hoàn cảnh địa phương của nhân dân Bạch Thông. Tuy nhiên bên cạnh
những thành tựu vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế và khó khăn.
Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của
huyện Bạch Thông trong giai đoạn (1975 - 2010) không chỉ có ý nghĩa về mặt
khoa học mà cả về mặt thực tiễn.
Thông qua các nguồn tài liệu, luận văn dựng lên bức tranh về chuyển biến
kinh tế - xã hội huyện Bạch Thông từ (1975 - 2010), trên cơ sở đó rút ra những
bài học thành công cùng những hạn chế chủ quan và khách quan. Đồng thời,
mong muốn góp ý kiến nhỏ bé vào việc gợi mở một số giải pháp và phương
hướng phát triển của huyện trong tương lai.
Nghiên cứu về đề tài này còn để làm rõ hơn truyền thống lịch sử, văn hóa
của nhân dân Bạch Thông trong quá khứ và hiện tại. Từ đó, giáo dục thế hệ trẻ
của huyện thêm trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó. Một số
nội dung của luận văn có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy
lịch sử địa phương.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn vấn đề “ Chuyển biến về kinh tế
Đảng bộ giai đoạn (1975 - 2005), nêu lên những thành tựu phát triển kinh tế - xã
hội dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ trong thời kì đổi mới (1986 - 2005). Bạch
Thông là một trong những huyện có vị trí, vai trò to lớn của tỉnh Bắc Kạn được
cuốn sách đề cập khá tỷ mỷ về sự phát triển kinh tế - xã hội Bạch Thông từ năm
1975 - 2005.
Lịch sử Đảng bộ huyện Bạch Thông (1930 - 1975), Huyện ủy Bạch Thông
xuất bản năm 1996. Cuốn sách viết về lịch sử Đảng bộ trong cuộc vận động cách
mạng tháng tám 1945, kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Sự phát
triển kinh tế - xã hội trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ.
Lịch sử Đảng bộ huyện Bạch Thông (1975 - 2005), Huyện ủy Bạch Thông
xuất bản năm 2007. Cuốn sách phản ánh vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội huyện Bạch Thông giai đoạn (1975 - 2005), về công
tác xây dựng Đảng của Đảng bộ. Đây là cuốn sách có nhiều tư liệu liên quan đến
đề tài, đề cập khá toàn diện về sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Bạch
Thông giai đoạn này.
Báo cáo Chính trị của của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Bạch Thông
khóa IV, V, VI, VIII, IX, X, XI đã đề cập đến các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã
hội, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
quốc, các đoàn thể nhân dân. Các báo cáo đó đã nêu lên những thành tựu, hạn
chế, chỉ ra được nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện nghị
quyết Đại hội đại biểu khóa trước, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và
những giải pháp cho nhiệm kì tiếp theo nhằm đưa huyện phát triển toàn diện,
vững chắc.
Báo cáo tổng kết hàng năm (từ năm 1975 - 2010) của Ủy ban nhân dân
huyện Bạch Thông nêu lên kết quả đạt được về công nghiệp, nông nghiệp, thủ
công nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn
Thứ hai, Nghiên cứu hệ thống, toàn diện những chuyển biến về kinh tế -
xã hội của huyện từ 1975 - 2010. Qua đó, rút ra mặt mạnh và những hạn chế của
huyện Bạch Thông trong phát triển kinh tế - xã hội từ 1975 - 2010.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn tƣ liệu.
Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài gồm: Các văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết, báo cáo của Đảng
bộ tỉnh Bắc Kạn, Huyện ủy Bạch Thông, Ủy ban nhân dân huyện Bạch Thông,
các số liệu thống kê của các cơ quan kinh tế, văn hóa, giáo dục của tỉnh và
huyện Bạch Thông.
Luận văn còn kế thừa các nguồn tư liệu, các kết quả nghiên cứu khoa học
đăng trên các sách chuyên khảo, bài viết, bài nghiên cứu về đổi mới kinh tế - xã
hội đăng trên báo và tạp chí, đặc biệt là các cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn
và lịch sử Đảng bộ huyện Bạch Thông.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu điều tra thực địa.
4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgic. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như:
Thống kê, so sánh, điều tra, điền rã, phân tích.
5. Đóng góp của luận văn.
- Luận văn trình bày hệ thống, sinh động quá trình phát triển, chuyển biến
kinh tế - xã hội của huyện Bạch Thông trong giai đoạn từ 1975 - 2010, trọng tâm
là thời kỳ đổi mới (1986-2010).
- Luận văn có thể làm tài liệu giảng dạy lịch sử địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
CHƢƠNG 1
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN BẠCH THÔNG
TRƢỚC 1986
1.1 Khái quát về huyện Bạch Thông
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Bạch Thông là huyện miền núi nằm ở vùng phía bắc tỉnh Bắc Kạn, trong
tọa độ địa lý từ 22
0
06
'
- 22
0
19
'
vÜ ®é b¾c đến 105
0
39
/
- 106
0
kinh ®«ng: Phía
thuộc châu Bạch Thông và châu Chợ Rã được tách ra lập thành châu Chợ Đồn.
Từ đây cho đến cuối thời Kỳ Pháp thống trị, Bạch Thông là một trong năm châu
thuộc tỉnh Bắc Kạn, gồm có 5 tổng và 26 xã.
Do bị chia cắt, nên diện tích châu Bạch Thông bị thu hẹp lại rất nhiều. Tuy
nhiên Bạch Thông vẫn là một châu lớn nhất ở Bắc Kạn. Với chiều dài gần 100
km dọc theo thung lũng sông cầu, Bạch Thông bao gồm hầu như toàn bộ phần
đất thuộc trung tâm tỉnh Bắc Kạn cả về điều kiện tự nhiên và xã hội.
Từ năm 1965 đến 1975, Bạch Thông là một huyện miền núi phía Bắc tỉnh
Bắc Thái, phía Đông giáp Na Rì, Phía Tây giáp Chợ Đồn, phía Nam giáp huyện
Phú Lương, phía Bắc giáp 2 huyện Ngân Sơn và Ba Bể.
Bạch Thông có diện tích tự nhiên là 94.784 ha, được chia thành 2 vùng
khác nhau. Vùng cao gồm các xã: Tân Sơn, Cao Sơn, Dương Phong, Đôn
Phong, Quang Thuận, Mai Lập, Sỹ Bình, Vũ Muộn, Mỹ Thanh, Nguyên Phúc,
Lục Bình. Vùng thấp gồm các xã: Vi Hương, Phương Linh, Phủ Thông, Tân
Tiến, Tú Trí, Hà Vị, Cẩm Giàng, Quân Bình, Hòa Mục, Cao Kỳ, Thanh Vận,
Thanh Mai, Nông Hạ, Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Như Cố, Quảng
Chu, Bình Văn, Yên Hãn, Yên Cư [41,tr. 8].
Hiện nay, huyện Bạch Thông có diện tích 54.649 km², gồm có 16 xã và 1
thị trấn (Phương Linh, Vy Hương, Sỹ Bình, Vũ Muộn, Đôn Phong, Tú Trĩ, Tân
Tiến, Lục Bình, Nguyên Phúc, Quân Bình, Cao Sơn, Hà Vị, Cẩm Giàng, Mỹ
Thanh, Quang Thuận, Dương Phong) và thị trấn Phủ Thông. Năm 2010 theo số
liệu thống kê huyện Bạch Thông có 30.370 người, mật độ 55,57 người/km²
[79,tr.5].
Về địa hình: Nằm trong hệ thống kiến tạo hình thành địa hình của tỉnh Bắc
Kạn, huyện Bạch Thông thuộc phần cuối của cánh cung Ngân Sơn. Cho nên đồi
núi Bạch Thông có độ cao vừa phải, ngoài một số núi đá vôi phần nhiều là đồi
núi thấp được cấu tạo bằng các loại sa phiến thạch, sườn thoải, dạng đồi bát úp,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhiều loại gỗ nghiến, táu, sến, lim, trai… ở đây thường có nhiều loại cây to với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
đường kính từ 1m đến 1,5m và còn có vô số các loại tre, vầu, nứa, trúc……Càng
xuống thấp thì rừng cây càng rậm rạp bởi nhiều tầng thực vật và dây leo chằng
chịt, độ ẩm cao, lớp thảm mục dày, tỷ lệ mùn trong đất khá cao, thuận lợi cho sự
phát triển của cây trồng [41,tr.11].
Trong các khu rừng, cách đây vài chục năm ngoài hổ, báo, hươu, nai, còn
có các loại gà gô, gà lôi và các đặc sản quý như, mật ong, sa nhân, nấm
hương….Hàng năm nhân dân địa phương lên rừng khai thác và đem ra chợ bán.
Sử cũ chép rằng: “Chợ Hà Hiệu, chợ Quảng Khê, chợ Bắc Phấn, chợ Dương
Quang (có phố), chợ Yên Đĩnh (phố xá trù mật, người Thanh, người Thổ, người
Kinh, người Nùng ở lẫn lộn) đều ở châu Bạch Thông” [41,tr.12-13] Tiếc rằng do
khai phá núi đồi bừa bãi, cho nên không chỉ các loại gỗ, mà cả các loài thú rừng
và chim quý ở đây vơi cạn dần và cho đến nay một số loài gần như không còn.
Trong những năm gần đây với phong trào trồng cây gây rừng, các đồi bãi trọc ở
Bạch Thông đang được trả lại màu xanh. Nhận rõ thế mạnh của huyện nhà, từ
những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng bộ Bạch Thông chủ trương tập trung sức
mạnh của tất cả các ngành, các cơ sở, khai thác những tiềm năng sẵn có về rừng,
đất nông nghiệp, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực. Mở mang kinh tế
vườn rừng để làm giàu cho huyện, tiến tới xây dựng huyện thành đơn vị có cơ
cấu kinh tế lâm - nông - công nghiệp. Đến năm 1985, Bạch Thông đã trồng được
3340 ha cây mỡ, bồ đề, 1000 ha cây trẩu nay chuyển sang trồng mơ, cam quýt,
hồi quế. Việc giao đất rừng đã tiến hành được 18 trong tổng số 25 xã. Trong
lòng đất là nguồn khoáng sản quý hiếm, đáng chú ý là mỏ quặng sắt xã Sỹ Bình
[41,tr.12].
Về đất đai: Đất Bạch Thông có nhiều loại: Đất Feralit màu vàng nhạt trên
núi, chủ yếu trên các dẫy núi cao, có độ ẩm ướt lớn, ôn độ thấp hơn so với các
(ha)
54.649
3.591,66
42.693,84
7.142,52
174,62
Tỉ lệ %
100
6
78
13
3
Nguồn: [79]
Bạch Thông có sông, suối và được phân bố đều khắp. Dòng sông Cầu bắt
nguồn từ Bằng Viễn (Chợ Đồn), chảy vào đất Bạch Thông qua địa phận các xã
Dương Phong, Quang Thuận, Dương Quang, Huyền Tụng, Mỹ Thanh, Xuất
Hóa, Hòa Mục, Cao Kỳ, rồi đổ về phía nam. Hàng năm dòng sông này bồi đắp
cho các xã dọc lưu vực một lớp phù xa khá mầu mỡ. Ngoài tác dụng đó, sông
Cầu còn đáp ứng một phần quan trọng sự thông thương nguồn hàng giữa huyện
nhà với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Hệ thống sông ngòi, khe suối
cũng là một tiềm lăng để xây các trạm thủy điện như suối Na Cù, suối Nậm Cắt,
suối Đôn Phong. Từ năm 1982, Bạch Thông khởi công xây dựng trạm thủy điện
Nậm Cắt với công suất 514 KW. Ngoài ra còn có nhiều con suối nhỏ len lỏi
trong các làng bản, bảo đảm nước sinh hoạt và phục vụ cho sản xuất của đồng
bào [41,tr.9-10].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
(xây dựng, đường
giao thông, thủy lợi)
395,63
395,63
422,73
428,06
428,06
4. §Êt khu d©n c-
294,38
294,38
294,38
294,38
294,38
5. §Êt ch-a sö dông
7.214,64
7.214,64
7.143,73
7.142,52
7.142,52
(Nguồn: thống kê phòng tài nguyên và môi trường huyện Bạch Thông 2010)
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đặc điểm kinh tế:
Do diện tích canh tác ít ỏi và chật hẹp, không đủ thỏa mãn nhu cầu đời
sống, nhân dân địa phương khai phá cả sườn đồi, sườn núi để làm nương rẫy.
Trải qua bao đời, trồng trọt vẫn là nguồn sống chính của cư dân bản địa. Việc
cấy lúa được đặt lên hàng đầu. Ngô là cây lương thực được sản xuất nhiều vào
loại thứ hai sau lúa. Bạch Thông đã từng nổi tiếng về nghề làm đồ trúc. Các kiểu
bàn, ghế trúc, cần câu trúc vv với những dáng vẻ đẹp và chắc chắn, do bàn tay
những người thợ lành nghề chế tạo, không những được nhân dân địa phương tín
nhiệm, mà các địa phương khác cũng rất ưa thích. Khi bước vào thời kì quá độ
18.057
81,7
2
Dao
4.896
22,1
3
Kinh
3.624
16,3
4
Nùng
3.448
15,6
5
Hoa (Hán)
98
3,2
6
Sán Dìu
28
0,09
7
HMông
1
0,003
14
Bru vân
kiều
1
0,003
Tổng cộng
30.216
100
(Nguồn: Ủy ban dân số huyện Bạch Thông năm 2010)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
Trừ người kinh và người Hoa ở nhà đất, thường sinh sống dọc đường giao
thông và các thị trấn, hầu hết các dân tộc đều làm nhà sàn. Sống gần gũi với
thiên nhiên, người dân Bạch Thông rất yêu thiên nhiên và rất thạo nghề săn bắt,
đan lát. Đàn ông sử dụng thành thạo chài lưới, cung nỏ và súng kíp. Họ tỏ ra rất
can đảm và mưu trí trong việc tổ chức vây bắt thú rừng. Phụ nữ rất khéo tay
trong việc thêu thùa, đan lát. Đã có một thời, vải thổ cẩm của Bạch Thông - với
những nét hoa văn trang trí, màu sắc rực rỡ, hài hòa - từng nổi tiếng trên thị
trường trong và ngoài tỉnh. Phụ nữ Bạch Thông rất cần cù, chịu khó trong mọi
công việc, từ việc nội trợ gia đình cho đến việc đồng ruộng, nương rãy.
Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán khác nhau. Một số phong
tục tập quán tốt được hình thành và phát huy qua các thời kì, trở thành truyền
thống quý báu. Đó là tính cộng đồng, tình đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của
nhân dân ta, giải phóng miền Nam. Thắng lợi vĩ đại này đã đưa đất nước ta bước
vào kỉ nguyên mới: Độc lập - Thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Trước mắt cả
nước ta khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội,
ổn định đời sống nhân dân, hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước.
Phấn khởi và tự hào trước những thắng lợi của dân tộc, thực hiện các chỉ
thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc
huyện Bạch Thông đã hăng hái bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển
kinh tế, góp phần cùng nhân dân tỉnh Bắc Kạn thu được nhiều thành tựu trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặc dầu vậy,
với nền kinh tế mang nặng tính chất tự cung, tự cấp và cơ chế quản lý cũ, lại
chịu hậu quả nặng nề hai cuộc chiến tranh của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sự
phá hoại của các thế lực thù địch, nên bước vào thời kì lịch sử mới Bạch Thông
vẫn là huyện nghèo, kinh tế - xã hội chậm phát triển. Là huyện miền núi, trong
những năm 1975 - 2010, Bạch Thông có 16 xã và 1 thị trấn, đời sống vật chất và
văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc còn gặp rất nhiều khó khăn [42,tr.8].
1.2.1 Tình hình kinh tế
Trong hoàn cảnh lịch sử mới, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Bắc Thái, Đảng
bộ huyện Bạch Thông tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ III, họp
vào tháng 4 năm 1975.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II khẳng định
những thành tích đạt được trên các mặt kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của
huyện dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa II, góp phần
quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đại hội đề ra
phương hướng, nhiệm vụ mới trong hai năm 1975 - 1977 là: Đẩy mạnh sản xuất,
công trình thủy lợi vào loại lớn của tỉnh Bắc Thái, toàn huyện có 17 đội thủy lợi
thường xuyên tu sửa kênh mương, chăm sóc đồng ruộng. Một số xã phong trào
thủy lợi tốt như Dương Quang, Quân Bình. Trong 2 năm 1975 - 1976, huyện đã
hoàn thành các đập đá: Phai Ngược (xã Xuất Hóa) và Nặm Lẩu (xã Sĩ Bình).
Nhờ có nước, diện tích vụ đông - xuân năm 1975 cấy được 1.077,13 ha bằng
101,4% kế hoạch tỉnh giao, cả hai vụ đông xuân và mùa cấy đạt gần 3.471 ha,
đồng thời góp phân đẩy mạnh thâm canh [42,tr.11].
Năng suất bình quân 2 vụ lúa đạt trên 22 tạ/ha, trong đó, năng suất lúa vụ
mùa đạt trên 26 tạ/ha, bằng 108,3% kế hoạch. Tổng sản lượng lương thực (riêng
thóc) năm 1975 đạt gần 8.460 tấn, bằng 103,4% kế hoạch tỉnh giao, tăng 4,12%
so với năm 1974.
So với năm 1974, sản xuất lương thực năm 1975, cả 3 chỉ tiêu: diện tích,
năng suất và sản lượng đều tăng. Nhìn chung các địa phương đều cấy hết diện
tích, riêng vụ mùa có các xã Sĩ Bình, Vũ Muộn vì thiếu nước nên 13 ha ruộng
chuyển sang trồng đậu tương. Toàn huyện có 10 hợp tác xã và 29 đội đạt năng
suất trên 5 tấn/ha. Sản xuất hoa màu có nhiều tiến bộ, một số địa phương, hợp
tác xã trồng ngô lai và đậu tương xuống ruộng và ở các soi bãi đạt kết quả tốt,
diện tích trồng sắn tăng gấp 4 lần so với năm 1974. Tổng sản lượng lương thực
quy ra thóc năm 1975 đạt 10.482 tấn, cao hơn năm 1974 là 937 tấn. Năm 1976
phong trào thi đua lao động sản xuất lập thành tích chào mừng thắng lợi của
cuộc bầu cử Quốc hội thống nhất, chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV của Đảng diễn ra sâu rộng trong toàn huyện.
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 10 năm 1976 đã
khẳng định những cố gắng của các hợp tác xã trong sản xuất: “Nông nghiệp đi
vào thâm canh hai vụ lúa, mùa và chiêm xuân… tận dụng ruộng một vụ, đất soi
bãi để trồng ngô, dong riềng, đậu tương tại các xã Sĩ Bình, Vũ Muộn, Cao sơn”.
Nhưng, do hạn hán, năng suất, sản lượng lúa và hoa màu không cao, tổng sản
lượng lương thực quy ra thóc năm 1976 mới đạt 9.272 tấn, tuy có vượt kế hoạch,
nhưng vẫn giảm so với năm 1975 [42,tr.12-13].
nghiệp là 30kg [42,tr.30].
Sự nỗ lực làm thủy lợi liên tục trong mấy năm liền, đã tạo điều kiện vụ mùa
năm 1979 Bạch Thông gieo cấy đạt trên 2.420 ha, bằng 97,5% kế hoạch, tuy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
nhiên do bị hạn trên diện rộng, vẫn còn hơn 150 ha thuộc các xã Sĩ Bình, Cao
Sơn, Nguyên Phúc không có nước phải chuyển sang trồng màu.
Từ năm 1976 đến năm 1980, năng suất, sản lượng lương thực năm sau đạt
khá hơn năm trước. Về lúa mùa năm 1977, năng suất đạt 24,41 tạ/ha, sản lượng
thóc đạt gần 5.830 tấn. Năm 1979, năng suất lúa xuân toàn huyện đạt 20,14
tạ/ha, sản lượng vụ xuân đạt trên 2.576 tấn. Năng suất vụ mùa toàn huyện đạt 26
tạ/ha, tiêu biểu có hợp tác xã Vi Hương năng suất lúa mùa bình quân đạt trên 40
tạ/ha. Sản lượng lúa vụ mùa toàn huyện đạt 6.293 tấn, tổng sản lượng thóc cả
năm 1979 đạt hơn 8.869 tấn.
Thực hiện Nghị quyết số 49 - NQ/TU ngày 1/3/1977 của ban thường vụ
tỉnh ủy Về phát động chiến dịch trồng sắn, ngoài trồng các loại cây hoa màu
ngắn ngày như ngô, khoai lang đậu, các hợp tác xã và hộ gia đình tận dụng mọi
diện tích đất ruộng, soi bãi, ven đồi để trồng sắn, góp một phần lương thực đáng
kể cho người và làm thức ăn gia súc. Năm 1979, trong khi sản lượng thóc tăng
lên, Bạch Thông vẫn có diện tích sắn là 1.260 ha.
Từ năm 1977 đến 1979, năng suất và sản lượng lương thực lúa và màu
(chủ yếu là sắn) có tăng nhưng tốc độ tăng chậm, tổng sản lượng quy thóc trung
bình trong 3 năm (1977 - 1979) là 12600 tấn, chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch Đại hội
đại biểu Đảng bộ huyện khóa IV đề ra. Vấn đề lương thực trở nên bức xúc trong
đời sống đồng bào các dân tộc, nhất là ở vùng cao. Bình quân lương thực quy
thóc theo kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) của Đảng bộ với khu vực sản xuất nông,
lâm nghiệp mỗi người đạt 30 kg/tháng, phấn đấu đến năm 1980 vẫn chưa đạt
được chỉ tiêu đề ra [5,tr.4]. Liên tục trong 5 năm thực hiện kế hoạch phát triển
năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 100-CT/TW Về cải tiến
công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động”
trong các hợp tác xã nông nghiệp. Chỉ thị nêu rõ mục đích khoán sản phẩm là
đảm bảo phát triển sản xuất, củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa ở nông thôn, không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống xã viên, tăng
tích lũy cho hợp tác xã, làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước. Cải tiến công tác
khoán là khuyến khích mạnh mẽ lợi ích chính đáng của người lao động, làm cho
mọi người gắn bó với sản phẩm cuối cùng. Vấn đề đặt ra là phải hoàn chỉnh chế
độ “ba khoán” (khoán chi phí sản xuất, khoán công điểm và khoán sản phẩm)
sao cho hợp lý, đến tận nhóm và người lao động, tránh tình trạng “khoán trắng”.
Chỉ thị đã đáp ứng được nguyện vọng, quyền lợi và quyền chủ động sản xuất