nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến dịch vụ y tế cho phụ nữ người dao về khía cạnh văn học - xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn - Pdf 24

S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn Bễ GIA O DU C VA A O TA O
A I HO C THA I NGUYấN PHM HNG HA I

NGHIÊN CứU một số yếu tố liên quan đến dịch vụ
y tế cho phụ nữ ng-ời dao về khía cạnh văn hoá -
xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn

LUậN án tiến sĩ y học

Ng i h ng dõ n khoa ho c:

1. GS.TS. Phm Huy Dng
2. GS.TS. Hong Khi Lp THI NGUYấN - 2011
S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn Bễ GIA O DU C VA A O TA O

NGHIÊN CứU một số yếu tố liên quan đến dịch vụ
y tế cho phụ nữ ng-ời dao về khía cạnh văn hoá -
xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
NGHIÊN CứU một số yếu tố liên quan đến dịch vụ
y tế cho phụ nữ ng-ời dao về khía cạnh văn hoá -
xã hội tại huyện bạch thông, tỉnh bắc kạn
CHUYấN NGA NH: Vấ SINH XA Hễ I HO C VA Tễ CH C Y Tấ
M S: 62 72 73 15

LU N A N TIấ N S Y HO C Ng i h ng dõ n khoa ho c:

1.
2. THI NGUYấN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBYT Cán bộ y tế

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe của phụ nữ và trẻ em là những vấn đề quan tâm hàng đầu của
các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Phụ nữ là cốt lõi của sự phát
triển kinh tế xã hội. Sức khỏe và cuộc sống của phụ nữ có ý nghĩa quan trọng
đối với gia đình, bản thân và cộng đồng. Hơn thế nữa, đời sống và sức khỏe
phụ nữ là yếu tố cơ bản và có ảnh hưởng trực tiếp tới thế hệ tương lai [4].
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống cho đồng bào các dân
tộc sống ở vùng sâu, vùng xa cũng như đẩy mạnh sự phát triển của miền núi.
Trong đó, sức khoẻ của phụ nữ người dân tộc càng là vấn đề đáng quan tâm
trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân khu vực miền núi, dân tộc ít
người. Chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ đến nay đã đạt được nhiều thành tựu
rất quan trọng, nhiều chỉ số cơ bản liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản
đã đạt và vượt mục tiêu đề ra [9], [11], [13], [24]. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của khu vực miền núi vẫn còn thấp
hơn rất nhiều so với các khu vực khác của cả nước [12], [24], [65], [66]. Mức
sống thấp, trình độ dân trí chưa được nâng cao, hệ thống giao thông đi lại khó
khăn, điều kiện chăm sóc y tế còn thiếu thốn là những vấn đề đang đòi hỏi
cần phải có sự đầu tư hơn nữa của Chính phủ cho các dân tộc sống ở những
vùng khó khăn này, trong đó có tỉnh Bắc Kạn.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, vùng cao. Theo niên giám thống kê 2009
[8], Bắc Kạn có 295.296 người. Trên địa bàn tỉnh có 23 dân tộc, đông nhất là
dân tộc Tày chiếm 54,3%; dân tộc Kinh chiếm 13,3%; dân tộc Dao chiếm
16,5%; dân tộc Nùng (5,4%) và các dân tộc khác.
Huyện Bạch Thông là một trong những huyện mang đầy đủ những nét
đặc trưng của tỉnh Bắc Kạn. Huyện Bạch Thông gồm 1 thị trấn và 16 xã. Tại
đây, người Dao sống tập trung ở một số xã vùng cao như: xã Đôn Phong,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Định nghĩa văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Do
vị trí của văn hoá trong đời sống nên văn hoá đã được nhiều người quan tâm
nghiên cứu và đưa ra hàng trăm định nghĩa về văn hoá [3], [40], [44], [47].
Văn hóa trong tiếng Hán được hiểu là những hình xăm trên cơ thể, qua
đó người khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với người khác, biểu
thị sự quy nhập vào thần linh và các lực lượng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm
lĩnh quyền lực siêu nhiên.
Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng
Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức, ) có
nguồn gốc từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai
nghĩa: (1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu cúng.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ
thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh Các “trung tâm văn hóa” có ở
khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là
cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri
thức Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa, văn
hóa thấp hoặc vô văn hóa.
Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo
một nghĩa rộng nhất. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong
đời sống con người. Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà
bao gồm cả vật chất.

có thể lệ, có tiêu chuẩn bắt buộc, truyền miệng hay thành văn, được dư luận xã hội
rộng rãi thừa nhận, ủng hộ, bảo vệ và yêu cầu mọi người tuân thủ [31].
1.1.3. Khái niệm dân tộc, quốc gia dân tộc, dân tộc thiểu số
Trong tiếng Việt cũng như trong ngôn ngữ của nhiều dân tộc trên thế
giới, thuật ngữ dân tộc và thuật ngữ Quốc gia dân tộc chỉ rõ hai khái niệm,
hai phạm trù riêng biệt. Quốc gia dân tộc mang tính lãnh thổ, chính trị, Nhà
nước; còn dân tộc lại mang tính lịch sử cộng đồng ngôn ngữ, văn hóa tự nhiên.
Một quốc gia có thể có một hay nhiều dân tộc sinh sống. Trái lại, một dân tộc
cũng có thể phân bố trên lãnh thổ nhiều quốc gia [79].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5

Việt Nam là một nước có nhiều dân tộc. Theo từ điển tiếng Việt, dân tộc
được định nghĩa: “Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một
lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn
hoá và tính cách” [74].
Thuật ngữ dân tộc thiểu số, dân tộc ít người, dân tộc dân số ít là dựa trên
sự so sánh tỷ lệ dân số của từng dân tộc trong mỗi nước để gọi. Ở Việt Nam,
tộc người Việt (dân tộc Kinh) chiếm 82,6% dân số cả nước. Trừ dân tộc Kinh,
các dân tộc còn lại được coi là dân tộc thiểu số.
1.1.4. Một số thuật ngữ khác
Dịch vụ [81]: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa
nhưng phi vật chất, gồm các tính chất sau:
- Tính đồng thời: Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời;
- Tính không thể tách rời: Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ không thể tách
rời. Thiếu mặt này thì sẽ không có mặt kia;
- Tính chất không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất;
- Vô hình: Không có hình hài rõ rệt. Không thể thấy trước khi tiêu dùng;

là một tập quán của một số dân tộc thiểu số khác ở khu vực miền núi.
1.2.3. Ăn, uống
Lương thực chính của người Dao là gạo tẻ và gạo nếp. Thức ăn chủ yếu
là các loại rau rừng và rau tự trồng. Sau khi đẻ, sản phụ được nấu ăn riêng,
thức ăn chủ yếu là thịt gà, thịt lợn được nấu với các loại thuốc nam có tác
dụng nhanh khỏe người, giúp sản phụ có nhiều sữa để nuôi con.
Uống: Thức uống của người Dao trong sinh hoạt hàng ngày là nước chè.
Một số loại lá cây có vị thơm mát, dễ uống dùng để chữa bệnh gan, thận, tim
hoặc bổ máu cũng được người Dao chế biến và sử dụng. Loại đồ uống phổ
biến nữa là rượu được ủ bằng men lá. Hầu hết các gia đình người Dao đều
biết nấu rượu và cất giữ rượu. Báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia năm
2001 - 2002 của Bộ Y tế [17] cho thấy: Tỷ lệ uống rượu vùng Tây Bắc, Đông
Bắc và Tây Nguyên cao hơn vùng đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên chưa có
nghiên cứu về tỷ lệ lạm dụng rượu và nghiện rượu được tính chung cho cả nước.
1.2.4. Tục lệ sinh đẻ và nuôi con
Trước đây, khi sinh con người phụ nữ thường đẻ tại nhà và phải tự đỡ đẻ,
rốn trẻ được cắt bằng nứa, khi đẻ khó thì chỉ biết mời thầy cúng về cúng bái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7

Những năm gần đây, việc sinh đẻ của người Dao đã có nhiều thay đổi, phụ nữ
khi có thai đã đi khám thai và đến trạm y tế để đẻ. Tai biến sản khoa, tỷ lệ chết
ở trẻ sơ sinh đã được hạn chế tối đa, dân số người Dao tăng lên rõ rệt.
Sau khi sinh sản phụ được chăm sóc chu đáo, họ thường được ăn cháo
gạo nếp nấu với thịt gà, nghệ hoặc cháo nấu với xương lợn và đu đủ hoặc
cháo gạo nếp nấu với trứng và đu đủ. Sản phụ ăn như vậy trong khoảng mười
ngày, sau đó ăn cơm nóng với trứng luộc, canh đu đủ, rau ngải cứu, đậu tương
hầm, canh gừng. Người Dao không cho sản phụ ăn thức ăn nguội, thịt chua,

này đứa trẻ sẽ bị tràng hoa quấn cổ và khó đẻ), không được đánh rắn (vì sợ sẽ
đau đẻ quằn quại như rắn bò), kiêng ăn thịt gà rừng (vì sợ sau này đứa trẻ sẽ
chạy nhảy nhiều), không ăn nhộng ong (vì sợ sau này đứa trẻ chỉ thích ở nhà,
không dám ra ngoài), kiêng các thức uống từ cây có gai (vì quan niệm cây đó
sẽ làm cho đứa trẻ bị mụn nhọt, ngứa ngáy)
Kiêng kỵ sau khi sinh: Sau khi sinh, sản phụ kiêng ăn các món ăn nguội,
các loại thịt chua, hoa quả chua, các loại rau có nhiều nước như rau cải, bắp
cải vì quan niệm rằng ăn những thức ăn đó không tốt sẽ gây ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe người mẹ và con, có thể là nguyên nhân gây mất sữa hoặc làm
cho đứa trẻ chê bú sữa mẹ. Kiêng bế con đến chỗ khác trong nhà nhất là nơi
đặt bàn thờ tổ tiên và khu tiếp khách của nam giới. Kiêng đến gia đình người
khác vì sợ mang theo những thứ “không sạch sẽ” sẽ làm ảnh hưởng đến gia đình
họ. Kiêng người lạ đến nhà, cho nên dấu hiệu để nhận biết khi trong nhà có
người đẻ là người Dao thường treo cành lá hoặc hoa chuối rừng trước cửa.
Những kiêng kỵ có lợi cho sức khỏe bà mẹ và trẻ em [39].
Khi có thai được 3 - 4 tháng, phụ nữ người Dao chủ động kiêng sinh
hoạt vợ chồng để thai nhi được lành lặn, tránh tổn thương cho thai và sảy thai.
Trong thời kỳ mang thai, mỗi khi ra khỏi nhà, thai phụ phải đội nón vì họ
cho rằng Ngọc Hoàng nhìn thấy “người bẩn’’ sẽ trị tội và làm sảy thai. Khi đi
trên đường không được bước qua thừng trâu, chạc ngựa.
Khi có thai người phụ nữ phải kiêng ăn tất cả các loại thịt ôi, thiu và
kiêng ăn nhộng ong, nhộng tằm.
Sau đẻ sản phụ ăn cơm nóng với trứng luộc, canh gừng, uống nước lá
thuốc rồi ăn cơm nếp với thịt gà, thịt lợn.
Khi nhà có người sinh đẻ họ dùng lá cây cài trước cửa để cảnh báo người
lạ không được vào.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9

(mía đang sa) rửa sạch cho vào nước nóng uống vài lần là khỏi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10

+ Chữa bệnh bị sốt cao: Dùng lá chanh vò ra hoà nước cho người bệnh
uống một vài lần là hạ sốt.
+ Chữa bệnh chướng hơi đầy bụng: Lấy củ canh chì đòi cho vào rượu
ngâm uống vài lần là khỏi. Loại rượu này uống chữa khỏi bệnh đái dắt.
+ Chữa bệnh đau xương khớp: Lấy cây thanh thảo (bùng leo), lá cây dâu
tằm (phong lốm mòm) đem giã nhỏ trộn với nước vo gạo, rang lửa cho ấm lên
rồi đắp vào chỗ đau.
+ Người bị ngã gãy xương: Dùng lá và thân cây “Tồm bùng lao tòn” và
cây tầm gửi mọc trên cây tre. Hai thứ này giã nhỏ trộn với nước vo gạo và rang
qua lửa cho ấm lên rồi đắp vào chỗ xương gãy. Trước khi đắp phải nắn lại chỗ
xương bị gãy cho thẳng và dùng nẹp bằng cây mía đỏ (tăm tía xi). Mỗi ngày
thay thuốc 1 lần, khoảng 10 hôm là đỡ đau, khoảng 1 tháng sẽ liền xương.
+ Chữa bệnh đau thận: Lấy cây tầm gửi mọc trên cây gạo hoặc cây dâu,
cây môn gai (hậu giàng gim), cây “choang xi”, tất cả đem thái nhỏ, sắc nước
uống. Sau đó lấy thêm 2 loại lá cây “mắc nai nòm” và “mắc phường nòm”,
giã nhỏ ngâm vào nước vo gạo, rang nóng bọc vào mảnh vải sát vào chỗ phù.
Ngày sát 2 lần, sát từ trên xuống dưới.
+ Chữa rắn cắn: Lấy lá cây khoai môn nhai nát đắp vào chỗ rắn cắn sẽ
khỏi. Ngoài ra, họ dùng lá “tụp bầy” vò nhàu, bọc vào mảnh vải hơ nóng trên
lửa xoa vào chỗ rắn cắn và đắp vào chỗ rắn cắn vài lần là khỏi.
+ Chữa rết cắn: Lấy củ cây “tộp rùi” giã nhỏ rồi cho vào lá dong (lòm)
bọc lại hơ trên than hồng cho nóng lên rồi đắp vào chỗ rết cắn, cứ nguội lại
thay, cho đến khi không đau nữa thì thôi.
+ Để phòng bệnh và giữ gìn sức khoẻ hàng ngày, người Dao có kinh

điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục, các bệnh lây truyền qua đường
tình dục; điều trị vô sinh; xử trí các vấn đề sức khoẻ phụ nữ như vấn đề phụ
khoa, giáo dục tình dục học cho cả nam và nữ.
Ở Việt Nam, chăm sóc sức khoẻ sinh sản được chi tiết hoá thành 8 nội
dung [19] với các dịch vụ tương ứng: Thông tin, giáo dục, truyền thông và tư
vấn; làm mẹ an toàn; kế hoạch hoá gia đình; nạo hút thai; sức khoẻ sinh sản vị
thành niên; các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản bao gồm các bệnh lây truyền
qua đường tình dục (trong đó có HIV/AIDS); các bệnh ung thư sinh sản, ung
thư vú; vô sinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12

Sức khoẻ sinh sản nữ vị thành niên
Việt Nam là nước có tỷ trọng dân số vị thành niên vào hàng cao nhất
trong khu vực châu Á, tác động của nền kinh tế thị trường đã làm ảnh hưởng
đạo đức của một bộ phận thanh thiếu niên, không ít vị thành niên sống buông
thả, mà một trong hành động đáng báo động là hoạt động tình dục trước hôn
nhân và các hậu quả nghiêm trọng của nó [33], [51], [57], [82], [94].
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá nguy cơ tử vong do thai sản ở phụ nữ tuổi 15
đến 19 cao gấp 2 lần so với người từ 20 đến 24. Còn những em gái tuổi 10 - 14
nếu có thai thì nguy cơ tử vong cao gấp 5 lần so với tuổi ngoài 20 [95], [96].
Phụ nữ và nhiễm khuẩn đường sinh sản
Bệnh phụ khoa là bệnh của nữ giới, trong đó tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm
khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục khá cao, đặc
biệt là ở những nước chậm hoặc đang phát triển [42].
Kết quả điều tra ở Thái Bình, Hải Phòng, Lâm Đồng, Hậu Giang (cũ), Hà
Sơn Bình (cũ), Hà Tuyên (cũ) cho thấy: Trong cơ cấu bệnh tật của nữ theo độ
tuổi, bệnh phụ khoa chiếm tỷ lệ cao nhất và tăng dần theo độ tuổi sinh sản, cao

trường diễn đối với thai phụ ở nước ta chiếm tới 30% [26]. Chất lượng và số
lượng khẩu phần của phụ nữ có thai nhìn chung chưa được cải thiện.
Tai biến sản khoa: Là tai biến trước, trong khi sinh và ngay sau đẻ, rất
khó lường trước, xảy ra ngoài kiểm soát và gây tử vong cao [11], [51].
Theo thống kê của Vụ Sức khoẻ sinh sản Bộ Y tế năm 2004 [23], tỷ lệ
tai biến sản khoa còn khá cao. Cơ cấu tai biến là băng huyết, nhiễm trùng, sản
giật, vỡ tử cung và nạo phá thai.
Tử vong mẹ - nguy cơ hàng đầu của thai sản
Tỷ suất chết mẹ ở Việt Nam đã liên tục giảm. Theo số liệu của tổng cục
thống kê [22], tỷ suất này đã giảm dần từ 130/100.000 trẻ đẻ ra sống năm
1992 xuống còn 95/100.000 (năm 2000), sau đó tiếp tục giảm đi còn
85/100.000 (năm 2002) và 80/100.000 (năm 2005).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14

Điều tra tử vong mẹ năm 2000 - 2001 do Vụ Sức khoẻ sinh sản - Bộ Y tế
hợp tác với WHO thực hiện ở 7 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái của Việt Nam cho
thấy tỷ suất chết mẹ ở 7 tỉnh nghiên cứu là 130/100.000 trẻ đẻ ra sống [103].
Theo Trần Thị Trung Chiến (2006) [29], có sự khác nhau về chết mẹ giữa
các vùng (269/100.000 ở vùng núi và trung du, 81/100.000 ở đồng bằng), giữa
dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh (316 và 81/100.000), giữa nông thôn và thành
thị (145 và 79/100.000). Nguyên nhân góp phần gây tử vong mẹ là do chậm trễ
đến cơ sở y tế (46,3%), chậm gửi lên tuyến trên do đường giao thông đi lại khó
khăn 41,3%; 40% do điều trị không kịp thời; ngoài ra còn do nhân viên y tế thiếu
năng lực chuyên môn, thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị cần thiết
Trên thế giới, các nguyên nhân trực tiếp gây tử vong mẹ chiếm 80%,
nguyên nhân gián tiếp chiếm 20% [101], [102].
Ung thư ở nữ giới

Tỷ lệ tiếp cận: Là tỷ lệ dân số trong xã có thể đến được trạm y tế trong
khoảng thời gian dưới một giờ bằng phương tiện sẵn có của mình.
Tỷ lệ sử dụng: Là tỷ lệ số người có sử dụng DVYT dù chỉ một lần trong
kỳ theo dõi trên tổng số đối tượng.
Tỷ lệ sử dụng đầy đủ: Là tỷ lệ số người được nhận đầy đủ các DVYT cần
thiết có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của họ.
1.4.3. Hệ thống tổ chức y tế tỉnh Bắc Kạn
Theo niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2009 [83], toàn tỉnh có 8 bệnh
viện (gồm 1 bệnh viện đa khoa tỉnh và 7 bệnh viện huyện), 10 phòng khám đa
khoa khu vực, 122 trạm y tế xã phường. Số cán bộ ngành y tế là 1.197 người,
trong đó có 354 bác sỹ, 326 y sỹ, 517 y tá. Tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ là
59,01%; có nữ hộ sinh là 81,97%; hầu hết các xã đều có nhân viên y tế thôn bản.
Theo niên giám thống kê y tế năm 2005 [21], tỷ lệ trạm y tế xã có bác sỹ
và nữ hộ sinh của tỉnh Bắc Kạn thấp hơn cả nước nhưng cao hơn so với vùng
Tây Bắc và Tây Nguyên.
1.4.4. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế
1.4.4.1. Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ
Nhu cầu chăm sóc sức khoẻ là sự cần thiết được CSSK theo các vấn đề sức
khoẻ của người dân. Chúng ta cần phân định giữa nhu cầu (need - sự cần thiết) và
cầu (demand - là thể hiện qua ý muốn chủ quan của người bệnh, phụ thuộc vào sức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16

mua và khả năng chi trả). Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong CSSK luôn
gắn liền với nhu cầu chứ không gắn với sức mua [61]. Theo kết quả của VNHS
2001 - 2002 [17], bình quân sẽ có 1,5 đợt ốm_người/năm làm ảnh hưởng tới các
hoạt động như đi học, đi làm.
1.4.4.2. Tiếp cận dịch vụ y tế

(22,5% và 16,8%).
Kết quả nghiên cứu theo dõi điểm ở một số tỉnh do Bộ Y tế tiến hành
năm 2001 - 2002 [17] cho thấy: Ở miền Bắc số người nghèo bị ốm không
điều trị gì chiếm 40%; 32% không có tiền chữa.
Lê Thị Hồng Thơm (2006) [66] nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng dịch
vụ y tế cho phụ nữ nông thôn cho kết quả: 48,6% phụ nữ chọn hình thức tự
chữa bệnh, sau đó đến y tế tư (22,9%), tiếp đến là trạm y tế xã (13,8%). Nhóm
phụ nữ nông thôn nghèo chọn hình thức tự chữa bệnh cao hơn so với nhóm
phụ nữ có thu nhập từ khá trở lên (55,7% so với 23,7%), ngược lại, nhóm phụ
nữ có thu nhập cao lựa chọn khám chữa bệnh tư (25,9%) cao hơn so với nhóm
có thu nhập thấp hơn (18,1%).
Nhà nước cũng như ngành y tế rất quan tâm và đã có nhiều giải pháp về
chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa
thể giải quyết được căn nguyên của vấn đề [2], [4], [5].
* Dịch vụ y tế: Nhóm này không đề cập đến giá dịch vụ đắt hay rẻ mà
chỉ đề cập đến tính sẵn có của các dịch vụ mà người dân cần, tính thường trực,
thời gian mở cửa thích hợp, thái độ của cán bộ y tế với bệnh nhân, chất lượng
dịch vụ mà người dân yêu cầu.
Nghiên cứu quá trình cung cấp dịch vụ chăm sóc trước sinh ở huyện Cần
Đước - Long An [62] cho thấy: Yếu tố sẵn có của phương tiện khám thai, viên
sắt, giấy thử albumin niệu chưa đầy đủ (97%), trong khi đó tất cả phụ nữ
đều có khả năng tiếp cận với dịch vụ. Như vậy, tồn đọng của dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ cho phụ nữ có thai trước sinh ở địa phương này chính là sử dụng
hiệu quả.
Báo cáo của sở Y tế tỉnh Thanh Hoá [63] về tính bao phủ của dịch vụ
chăm sóc trước sinh cho thấy yếu tố sẵn có chỉ đạt 86%, trong khi đó yếu tố
tiếp cận và sử dụng là 100%, tồn đọng của dịch vụ chăm sóc phụ nữ có thai
trước sinh vẫn là tỷ lệ sử dụng hiệu quả (66%).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


tham gia vào hệ thống y tế công cộng thì dẫn tới lãng phí nguồn lực và hiệu
quả các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng bị hạn chế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19

1.4.4.5. Tình hình sử dụng dịch vụ y tế ở nữ giới
Nghiên cứu của Bùi Thanh Tâm ở Thái Bình [64] cho thấy: Ở Thái Bình
hệ thống y tế của Nhà nước mới chỉ thu hút được 54% các trường hợp ốm, có
44,9% chữa bệnh ở trạm y tế xã; 9,77% đến bệnh viện hoặc phòng khám đa
khoa khu vực; 23,13% tự chữa, còn 13,5% không chữa gì.
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế cơ bản giữa các nhóm thu nhập khác nhau
không giống nhau, người nghèo có xu hướng sử dụng dịch vụ trạm y tế xã
nhiều hơn các đối tượng khác, trong khi đó người giàu có xu hướng sử dụng
dịch vụ tư nhiều hơn [67], [68], [70].
Ở các nước công nghiệp phát triển, nữ giới sử dụng dịch vụ y tế nhiều
hơn nam giới [77].
Ở Việt Nam, liên quan giới và sử dụng dịch vụ y tế còn rất ít tài liệu đề
cập đến. Tuy nhiên, có thể đoán biết rằng trong điều kiện kinh tế xã hội hiện
nay nhiều phụ nữ sống ở khu vực nông thôn miền núi khó có điều kiện tiếp
cận dịch vụ y tế có chất lượng.
Điều tra tỷ lệ sử dụng dịch vụ cơ bản hàng năm (không kể bệnh viện)
trên đầu người theo giới và tuổi cho thấy: Ở mọi lứa tuổi, nữ giới đều sử dụng
dịch vụ y tế cao hơn nam giới [70].
Nghiên cứu của Trương Việt Dũng [34], [66] cho thấy: Nữ giới thường
mua thuốc tự chữa bệnh cao hơn nam giới (38,7% so với 25,2%). Trong khi
đó, nam giới có tỷ lệ đến bệnh viện cao hơn nữ giới (23,2% so với 18,1%).
Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh
Theo Tổ chức Y tế thế giới, tình hình chăm sóc trước và trong sinh của

ván đủ 2 lần đạt 92% [23].
Dịch vụ chăm sóc trong và sau sinh
Chăm sóc sau sinh cũng quan trọng không kém trước sinh, nó giúp kiểm
tra sức khoẻ thai phụ, phát hiện ngăn ngừa và điều trị biến chứng sau sinh kịp
thời. Công tác này không phụ thuộc các sản phụ, mà nó phụ thuộc hoàn toàn
vào người cung cấp dịch vụ y tế.
Theo báo cáo của Bộ Y tế: Tỷ lệ đẻ có chuyên môn trợ giúp năm 2004 cả
nước đạt 87,9%; cao nhất là đồng bằng sông Hồng (97%), sau đó là duyên hải
miền Trung, Đông Nam Bộ, thấp nhất là miền núi phía Bắc (73,1%) [23].
Cũng trong báo cáo này, tình hình tử vong sản phụ còn cao, mà nguyên
nhân chính có liên quan đến cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế. Có 90% trường
hợp tử vong mẹ là do thiếu hụt trong hệ thống chăm sóc sản phụ [23].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status