Chương trình Quản lí hành chính Nhà nước và quản lí ngành Giáo dục và Đào tạo - Pdf 24

LỜI NÓI ĐẦU
Thông tư Liên tịch số 24/2002/TTLT–BGD&ĐT–BTCCBCP ngày 29/4/2002 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hướng dẫn việc xét tuyển dụng
công chức, giáo viên phổ thông, mầm non đã qui định từ năm 2002 trở đi:
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn các trường (khoa) sư phạm, đưa nội dung kiến thức quản
lí hành chính Nhà nước, quản lí ngành và những nội dung liên quan đến công chức ngành giáo dục và
đào tạo thành một học phần của chương trình đào tạo giáo viên, học phần này có giá trị như các học
phần khác, là điều kiện để các trường làm căn cứ xét duyệt và cấp bằng tốt nghiệp sư phạm.
2. Căn cứ vào chỉ tiêu biên chế của địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết
định việc tuyển dụng giáo viên phổ thông, mầm non theo hai hình thức xét tuyển hoặc thi tuyển.
3. Trong trường hợp thi tuyển thì không thực hiện việc thi lại các nội dung, kiến thức quản lí
hành chính Nhà nước, quản lí ngành và những nội dung liên quan đến công chức ngành giáo dục và
đào tạo đối với những người dự tuyển, đã hoàn thành học phần này trong các trường (khoa) sư phạm
mà chỉ tổ chức thi về khả năng giảng dạy của người dự tuyển.
Thực hiện Thông tư Liên tịch nói trên, ngày 22 tháng 7 năm 2002 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã ban hành Chương trình Quản lí hành chính Nhà nước và quản lí ngành Giáo dục và Đào tạo
theo Quyết định số 38/2002/QĐ–BGD&ĐT.
Học phần này có 2 đơn vị học trình gồm 5 chương:
– Các chương I, II, III: Quy định những nội dung áp dụng cho tất cả các hệ đào tạo giáo viên.
– Chương IV: Quy định các trường (khoa) sư phạm căn cứ vào yêu cầu hệ đào tạo của mình để
cụ thể hoá nội dung giảng dạy cho phù hợp.
– Chương V: Quy định nội dung giảng dạy căn cứ vào tình hình thực tiễn giáo dục ở mỗi địa
phương.
Để có tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của cán bộ và sinh viên các trường sư
phạm, Viện Nghiên cứu Sư phạm – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức biên soạn giáo trình:
Quản lí hành chính Nhà nước và quản lí ngành Giáo dục và Đào tạo theo chương trình nói trên.
Giáo trình được biên soạn nhằm phục vụ rộng rãi các đối tượng của tất cả các hệ đào tạo từ
mầm non, tiểu học đến phổ thông trung học, nên đã cố gắng phản ánh tối đa nội dung và yêu cầu của
các hệ đào tạo trong phạm vi thực tế giáo dục của cả nước.
Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những sai sót, mong được độc giả góp ý kiến để
giáo trình ngày một hoàn chỉnh hơn.

ngày càng phát triển tăng lên.
Chủ nô và nô lệ là hai giai cấp đối kháng, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử loài người. Cuộc
đấu tranh giai cấp dẫn đến nguy cơ là không những họ tiêu diệt nhau mà tiêu diệt luôn cả xã hội. Để
điều đó không xảy ra, một cơ quan đặc biệt ra đời đó là nhà nước – một thiết chế có tiền thân từ những
tổ chức phi chính trị trong xã hội thị tộc, bộ lạc, vốn có chức năng bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng,
giờ đây đã biến thành công cụ bảo vệ lợi ích của một giai cấp – giai cấp chủ nô.
2. Bản chất của nhà nước
Từ nguồn gốc xuất hiện của nhà nước, ta thấy nhà nước không phải là cơ quan điều hoà mâu
thuẫn các giai cấp đối kháng, mà ngược lại, sự ra đời của nhà nước làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày
càng sâu sắc hơn và không thể điều hoà được. Trong điều kiện xã hội có giai cấp đối kháng thì cuộc
đấu tranh này ngày càng trở lên gay gắt, chế độ nhân dân tự quản không còn phù hợp, nó phải được
thay thế bằng nhà nước.
Nhà nước ra đời làm cho sự xung đột giai cấp diễn ra trong vòng “trật tự”, duy trì chế độ kinh
tế, trong đó giai cấp này được quyền bóc lột giai cấp khác. Do đó, nhà nước đương nhiên là do giai cấp
thống trị, có thế lực kinh tế lập ra. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, nhờ có nhà nước, giai cấp chủ nô trở
thành giai cấp thống trị cả về chính trị.
Như vậy, nhà nước là tổ chức chính trị của giai cấp đang thống trị về kinh tế, nhằm bảo vệ trật
tự đang có và đàn áp sự phản kháng của giai cấp khác. “Nhà nước chẳng qua chỉ là bộ máy của một
giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác”(1). Luận điểm này của C. Mác đã làm rõ bản chất của
nhà nước.
Nhà nước có hai tính chất quan trọng là tính giai cấp và tính xã hội. Tính giai cấp là thuộc tính
cơ bản, nó thể hiện bản chất của nhà nước. Nhưng với tư cách là bộ máy thực thi quyền lực công cộng,
nhằm duy trì trật tự và ổn định xã hội, nhà nước còn thể hiện tính xã hội. Bên cạnh việc chăm lo bảo vệ
lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước cũng buộc phải chú ý đến lợi ích chung của xã hội, giải quyết
những vấn đề mà đời sống cộng đồng, xã hội đặt ra để ổn định trật tự xã hội, duy trì sự thống trị của
giai cấp cầm quyền.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định về bản chất của nhà nước như sau: Nhà nước là một
tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp, là công cụ chuyên chính giai cấp, với
các chức năng quản lí xã hội đặc biệt, nhà nước vừa bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, vừa duy trì
trật tự xã hội và phục vụ những nhu cầu thiết yếu của đời sống cộng đồng.

4. Chức năng của nhà nước
Chức năng của nhà nước được thể hiện qua những hoạt động chủ yếu của nhà nước, thể hiện
trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ được đặt ra trước nhà nước, chức năng của nhà nước phản
ánh bản chất của nhà nước.
Khi nghiên cứu tiếp cận nhà nước từ góc độ khác nhau, người ta phân chức năng của nhà nước
thành các loại khác nhau.
a. Nếu tiếp cận nhà nước từ góc độ quyền lực chính trị thì nhà nước có hai chức năng là: chức
năng công cụ thống trị giai cấp và chức năng xã hội
+ Chức năng công cụ thống trị giai cấp là chức năng duy trì và bảo vệ sự thống trị của giai cấp
cầm quyền. Để bảo vệ quyền thống trị xã hội, giai cấp cầm quyền sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp để
trấn áp những chống đối của các giai cấp khác.
+ Chức năng xã hội của nhà nước là chức năng quản lí những hoạt động chung của xã hội, đảm
bảo cho xã hội tồn tại và phát triển trong vòng trật tự nằm dưới sự quản lí của nhà nước của giai cấp
cầm quyền, cũng nhằm thoả mãn những nhu cầu chung trong cộng đồng dân cư.
Trong hai chức năng trên, chức năng thống trị giai cấp giữ vị trí chi phối cả phương hướng và
mức độ thực hiện chức năng xã hội của nhà nước. Mặt khác, chức năng xã hội lại là cơ sở của sự thống
trị chính trị, vì sự thống trị chính trị chỉ có thể tồn tại khi nhà nước thực hiện được chức năng xã hội.
Khi xã hội không có giai cấp thì những nội dung thuộc chức năng xã hội do xã hội tự đảm nhiệm, tức
là xã hội do nhân dân tự quản.
b. Nếu tiếp cận từ phạm vi tác động của quyền lực, thì nhà nước có hai chức năng: đối nội và
đối ngoại
+ Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước, như
bảo đảm trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế độ, bảo vệ và phát triển chế độ kinh tế,
văn hoá theo lợi ích của giai cấp cầm quyền.
+ Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các quốc gia khác. Nhà
nước thực hiện chức năng bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và
lợi ích của quốc gia khi lợi ích của quốc gia không mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp thống trị.
Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó chức năng
đối nội là chức năng chủ yếu vì nhà nước ra đời và tồn tại do cơ cấu bên trong của mỗi quốc gia quy
định và sự thống trị giai cấp được thực hiện trước hết ở địa bàn quốc gia.

a. Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và những phương thức thực
hiện quyền lực ấy của giai cấp thống trị.
Trong lịch sử xã hội đã tồn tại các hình thức nhà nước: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc.
+ Hình thức chính thể là cách thức tổ chức và trình tự thành lập các cơ quan tối cao của nhà
nước và xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan đó. Hình thức chính thể có các dạng cơ bản:
– Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ
(hay một phần) vào tay nhà vua (quốc vương, nữ hoàng…) là người đứng đầu nhà nước và được
chuyển giao theo nguyên tắc thừa kế hay truyền ngôi. Trong thực tế tổ chức và hoạt động của chính thể
quân chủ lại được chia thành: chính the quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế.
* Chính thể quân chủ tuyệt đối là hình thức nhà nước mà nhà vua – người đứng đầu nhà nước
một mình nắm giữ quyền lực tối cao của nhà nước và có quyền lực vô hạn.
* Chính thể quân chủ hạn chế là hình thức nhà nước trong đó nhà vua – người đứng đầu nhà
nước chỉ nắm một phần quyền lực tối cao, bên cạnh đó còn có một cơ quan quyền lực khác nữa như:
hội đồng cố vấn, nghị viện…
– Chính thể cộng hoà là hình thức nhà nước trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về
một cơ quan được dân cư bầu ra trong một thời gian nhất định, đó là quốc hội, nghị viện… Chính thể
cộng hoà cũng có hai hình thức biến dạng: cộng hoà dân chủ và cộng hoà quý tộc.
– Hình thức cấu trúc của nhà nước là khái niệm chỉ cơ cấu tổ chức của các đơn vị hành chính
lãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương.
Có hai hình thức cấu trúc chủ yếu là hình thức nhà nước đơn nhất và hình thức nhà nước liên bang.
* Nhà nước đơn nhất là nhà nước thống nhất có chủ quyền chung, có cơ quan quyền lực và cơ
quan quản lí thống nhất từ trung ương đến cơ sở.
* Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai thành viên trở lên hợp thành. Nhà nước liên bang có
hai cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính. Ngoài cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính chung
cao nhất cho toàn liên bang, mỗi thành viên lại có cơ quan quyền lực và hành chính của mình, có chủ
quyền quốc gia chung của nhà nước liên bang, đồng thời mỗi thành viên còn có chủ quyền riêng nhất
định.
Hình thức nhà nước được quy định bởi bản chất giai cấp của nhà nước, tương quan lực lượng
giữa các giai cấp và truyền thống lịch sử của đất nước.
b. Chế độ chính trị là tổng thể những phương pháp mà các cơ quan nhà nước sử dụng để thực

Sự xác lập chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản là cần thiết vì thời
kỳ này còn tồn tại các giai cấp khác nhau. Chuyên chính vô sản vì vậy không chỉ là trấn áp bằng bạo
lực đối với giai cấp bóc lột, mà còn là một tổ chức thông qua đó Đảng của giai cấp công nhân thực
hiện vai trò lãnh đạo của mình đối với toàn xã hội. Không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhà
nước đó không giữ được bản chất giai cấp công nhân của mình. Vì vậy, bảo đảm vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản đối với nhà nước là nguyên tắc sống còn của chuyên chính vô sản. Sự lãnh đạo của
Đảng đối với nhà nước không chỉ là yếu tố đảm bảo bản chất giai cấp công nhân của nhà nước, mà còn
là điều kiện để giữ vững tính nhân dân, tính chất dân chủ rộng rãi của nhà nước đó. Bản chất giai cấp
công nhân và bản chất dân chủ là hai mặt thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước đặc biệt, nhà nước
quá độ, nhà nước không còn nguyên nghĩa nhà nước “nửa nhà nước”. Sau khi những cơ sở kinh tế xã
hội của sự xuất hiện và tồn tại nhà nước mất đi thì nhà nước sẽ không còn tồn tại. Sự mất đi của nhà
nước xã hội chủ nghĩa không phải bằng con đường “xoá bỏ” mà bằng con đường “tự tiêu vong” và
muốn cho nó nhanh chóng đi đến chỗ tiêu vong phải không ngừng xây dựng và hoàn thiện nó. Sự tiêu
vong của nhà nước xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài.
II. NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Nhà nước là trung tâm quyền lực trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay được hình thành trong quá trình đấu tranh cách mạng của
nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản việt Nam. Nhà nước ra đời sau cuộc cách mạng tháng
8 năm 1945. Đó là hệ thống chính trị có tính chất dân chủ nhân dân, sau khi thực hiện thắng lợi cuộc
cách mạng dân tộc dân chủ, hệ thống chính trị đó chuyển sang làm nhiệm vụ của hệ thống chính trị xã
hội chủ nghĩa.
Hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và các đoàn thể
quần chúng mang tính chất chính trị.
+ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo hệ thống chinh trị, lực lượng lãnh đạo nhà
nước và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là yêu cầu khách quan, là điều kiện cơ bản để
đảm bảo cho hệ thống chính trị và nhà nước giữ đúng bản chất giai cấp công nhân, bảo đảm mọi quyền
lực thuộc về nhân dân và bảo đảm cho con đường phát triển của xã hội Việt Nam theo đúng con đường
xã hội chủ nghĩa.
+ Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là “cột trụ của hệ thống chính trị”, là “công

Bản chất của nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước có tính giai cấp, nhà nước quản lí
xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật và nêu cao vai trò của pháp chế.
Nhà nước yêu cầu mọi tổ chức, mọi công dân phải tôn trọng và tuân thủ luật pháp đi đôi với
phát huy các giá trị đạo đức và văn hoá dân tộc. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của
dân, do dân, vì dân có bản chất khác hẳn với bản chất nhà nước của giai cấp bóc lột. Điều này được
quy định một cách khách quan từ cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân được thể hiện
bằng toàn bộ hoạt động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế chính sách đến những nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của nhà nước. Các hoạt động này đều thể hiện quan điểm của giai cấp công nhân nhằm từng
bước thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân
lao động và của cả dân tộc.
Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc là thống nhất. Sự
thống nhất bắt nguồn từ bản chất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Sau khi giành được chính quyền thì nhân dân lao động trở thành người chủ của đất nước. Giai cấp
công nhân muốn tự giải phóng mình phải đồng thời giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Hơn nữa,
khi chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu được xác lập, nhân dân là người làm chủ những tự liệu
sản xuất chủ yếu đó thì đương nhiên mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Vì vậy nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của ta mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời cũng gắn bó chặt chẽ với
dân tộc, nhân dân. Điều này được quán triệt, được cụ thể hoá, thể chế hoá và thực hiện trên mọi lĩnh
vực mọi tổ chức và hoạt động của nhà nước. Cũng chỉ có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang
bản chất giai cấp công nhân, hoạt động theo đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản – đội tiên phong
của giai cấp công nhân mới là đại biểu cho lợi ích chung của nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Tính nhân dân của nhà nước ta thể hiện: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của ta là của
dân, quyền lực thực sự ở “nơi dân” chính quyền do nhân dân lập nên và nhân dân tham gia quản lí nhà
nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, cán
bộ công chức nhà nước là công bộc của dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
Tính dân tộc của nhà nước thể hiện ở chỗ: Trong tổ chức và hoạt động nhà nước ta kế thừa và
phát huy những giá trị truyền thống, bản sắc tốt đẹp của dân tộc và con người Việt Nam. Nhà nước có
chính sách dân tộc đúng đắn, chăm lo lợi ích mọi mặt cho các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt

Đảng lãnh đạo nhà nước trước hết thông qua việc xây dựng và hoàn chỉnh cương lĩnh, chiến
lược, định ra các chủ trương chính sách cho hoạt động của nhà nước và toàn xã hội để phát triển đất
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh”.
Đảng lãnh đạo bằng tuyên truyền, thuyết phục, bằng công tác tư tưởng và tổ chức, bằng vai trò
gương mẫu của đảng viên và tổ chức Đảng. Đảng xây dựng đường lối phù hợp với lợi ích của nhân
dân, được nhân dân ủng hộ và thực hiện. Như vậy, thực chất sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là
sự lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để nhà nước tổ chức bộ máy, bố trí cán bộ,
thực hiện chức năng quản lí bằng những công cụ, biện pháp của mình.
Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua công tác cán bộ. Là Đảng cầm quyền nên Đảng ta lựa chọn
những đảng viên ưu tú của mình tham gia vào các cơ quan nhà nước trước hết là Quốc hội và Hội đồng
nhân dân các cấp bằng con đường giới thiệu để nhân dân lựa chọn bầu ra. Vì vậy, cơ chế dân chủ cũng
là thước đo uy tín và năng lực của Đảng trước xã hội và nhân dân. Đảng lãnh đạo nhà nước nhưng
không “hoá thân thành nhà nước”, do vậy việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với vai trò
quản lí của nhà nước là yêu cầu khách quan. Song, cũng cần phải đề phòng và đấu tranh chống lại
những quan điểm sai lầm muốn tách Đảng ra khỏi nhà nước, cần phải cảnh giác trước bọn cơ hội và
các thế lực thù địch âm mưu xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lêmn, đưa đất
nước đi chệch khỏi mục tiêu chủ nghĩa xã hội.
c. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước
ta. Nguyên tắc này đã được ghi ở điều 4 các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992. Nguyên tắc tập trung
dân chủ chi phối tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Một nhà nước “của dân, do dân” được thể
hiện từ mục đích đến tổ chức hoạt động.
Bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quy định của Hiến pháp bao gồm ba cơ
quan thực hiện ba chức năng khác nhau: Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện
quyền hành pháp và Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Hoạt động của các cơ quan này theo
nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhưng ở mỗi cơ quan nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện khác nhau.
Đối với Quốc hội khi phải quyết định những vấn đề hệ trọng, các đại biểu thường cân nhắc đến:
– Lợi ích của cả nước khi biểu quyết lựa chọn một phương án trong nhiều phương án được đề
xuất.

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi:
– Thứ nhất, nhà nước phải ban hành các văn bản pháp luật một cách kịp thời và có hệ thống.
Nhà nước và pháp luật là hai mặt thống nhất, thống nhất giữa chủ thể và phương tiện. Để nhà nước
hoạt động đảm bảo nguyên tắc pháp chế, các văn bản luật và các văn bản pháp quy để thi hành luật
(văn bản dưới luật) phải được ban hành kịp thời và đồng bộ.
– Thứ hai, các cơ quan nhà nước được lập ra và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật quy định
về địa vị pháp lí, quy mô và thẩm quyền. Nguyên tắc này không chấp nhận hai khả năng thường xảy ra
ở những nơi mà tình trạng pháp chế bị vi phạm: khả năng thứ nhất là các hoạt động quản lí vượt thẩm
quyền được giao, khả năng thứ hai là buông lỏng, bỏ trống một số lĩnh vực thuộc thẩm quyền được
giao.
– Thứ ba, sự tôn trọng hiến pháp, pháp luật của cơ quan nhà nước. Nhà nước thay mặt nhân dân
ban hành luật pháp, nhưng nhà nước cũng bị luật pháp điều chỉnh. Nghĩa là: nếu cơ quan nhà nước
trong hoạt động phạm sai lầm, vi phạm pháp luật thì phải chịu trách nhiệm về những sai lầm đó trước
pháp luật. Nhà nước vì vậy vừa là chủ thể của luật pháp nhưng cũng vừa là đối tượng để luật pháp điều
chỉnh. Đây là đòi hỏi sự tôn trọng của nguyên tắc pháp chế, đồng thời thể hiện tính dân chủ của nhà
nước ta, cũng là yêu cầu rất quan trọng trong quản lí hành chính, trong hoạt động của các cơ quan tư
pháp ở nước ta hiện nay.
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nhà nước có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác
động qua lại lẫn nhau, thực hiện tốt các nguyên tắc trên nhằm đảm bảo cho nhà nước ta là “Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân” trong tổ chức và hoạt động.
4. Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Theo Hiến pháp 1992 cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước ta gồm có: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội; Chủ tịch nước; Chính phủ; Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân; Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân.
a. Quốc hội
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 83, Hiến pháp 1992); Quốc hội do nhân dân trực tiếp
bầu ra bằng chế độ bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín; Quốc hội thống nhất mọi
quyền lực (thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp). Quốc hội là cơ quan duy nhất có

Quốc hội, cũng như xét thấy cần thiết thì có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ. Với quy chế
của Hiến pháp 1992 thiết chế Chủ tịch nước cùng với thiết chế Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan
thường trực của Quốc hội, vừa đảm bảo tính tập thể trong việc quyết định những vấn đề trọng đại của
đất nước trong khi Quốc hội không họp, vừa đảm bảo vị trí của người đứng đầu nhà nước.
c. Chính phủ
Theo quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất và phân công ba quyền, thì Quốc hợi là cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất và nắm quyền lập pháp. Dưới quyền lực tối cao và thống nhất đó của
Quốc hội là những cơ quan quyền lực nhà nước về hành pháp và tư pháp. Chính phủ là cơ quan quyền
lực hành pháp cao nhất. Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành
viên khác. Chính phủ do Quốc hội bầu ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội. Trong kỳ họp
này Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ theo đề nghị của Chủ tịch nước và giao cho Thủ tướng đề nghị
danh sách các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ để Quốc hội phê chuẩn.
Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội vừa là cơ quan hành chính nhà nước cao
nhất. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Chủ tịch nước và chịu sự giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ quốc hội. Đứng đầu
Chính phủ là Thủ tướng Chỉnh phủ.
Theo điều 112 Hiến pháp 1992 và chương II Luật Tổ chức Chính phủ, thì thẩm quyền của
Chính phủ bao gồm:
– Quyền kiến nghị lập pháp: Dự thảo các văn bản luật trình Quốc hội, và dự thảo pháp lệnh
trình bày Ban Thường vụ Quốc hội. Dự thảo kế hoạch nhà nước, ngân sách, các chính sách lớn về đối
nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở đường lối của Đảng để trình Quốc hội.
– Quyền lập quy: Ban hành các văn bản pháp quy có giá trị pháp lí trong cả nước.
– Quyền quản lí và điều hành toàn bộ công việc của đất nước: Xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội
theo đúng đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và hệ thống pháp quy của Chính phủ.
– Quyền xây dựng và lãnh đạo toàn bộ hệ thống tổ chức cơ quan quản lí nhà nước, thành lập các
cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan giúp Thủ tướng, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, chỉ đạo việc tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương.
– Quyền hướng dẫn, kiểm tra hội đồng nhân dân các cấp.
Chính phủ hoạt động bằng các hình thức cơ bản sau:
Một là: Hoạt động tập thể là các phiên họp của Chính phủ.

tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo trước Ủy ban
thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Viện trưởng các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách
nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất
vấn của Hội đồng nhân dân.
e. Cơ quan chính quyền địa phương: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân địa phương là “cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; đại diện ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (điều 118 – Hiến pháp 1992). Hội đồng nhân dân
địa phương phải chấp hành Hiến pháp, luật, các quy định và nhiệm vụ của cấp trên giao cho và vận
dụng phù hợp với điều kiện địa phương tự quyết định những vấn đề thuộc quyền lợi của nhân dân địa
phương trong phạm vi được phân cấp theo luật định. Vì vậy, Hội đồng nhân dân phải đặt dưới sự giám
sát, hướng dẫn của Quốc hội, sự hướng dẫn kiểm tra của Chính phủ.
Ủy ban nhân dân nhân theo quy định của Hiến pháp do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan
chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp
hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân
dân (điều 123 – Hiến pháp 1992).
Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước hoạt động thường xuyên, thực hiện chức năng
quản lí nhà nước ở địa phương, vừa do Hội đồng nhân dân cùng cấp, vừa do Ủy ban nhân dân cấp trên
giao cho và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ.
B. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I. KHÁI NIỆM QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Để nắm vững nội hàm khái niệm quản lí hành chính nhà nước chúng ta lần lượt nghiên cứu các
khái niệm quan trọng sau đây:
1. Quản lí
Quản lí là khái niệm được xem xét theo hai góc độ:
+ Theo góc độ chính trị – xã hội, quản lí được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động. Vận
hành sự kết hợp này cần có cơ chế quản lí phù hợp. Cơ chế đúng, hợp lí thì xã hội phát triển, ngược lại
thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
+ Theo góc độ hành động, quản lí được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.
Theo C. Mác, quản lí (quản lí xã hội) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá loa động.

3. Hành chính nhà nước
Hành chính là một hoạt động xã hội rộng và rất phức tạp.
Trong cuộc sống, mọi hoạt động của con người đều mang tính xã hội; các cá nhân luôn có quan
hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Khi hoạt động có từ hai người trở lên để thực hiện một mục tiêu chung, mà
nếu chỉ có một người không thể làm được, thì sẽ xuất hiện yếu tố tổ chức và quản lí hoạt động. Hành
chính là một dạng của sự quản lí các hoạt động đó.
Thuật ngữ “hành chính” (Tiếng Anh là Administration).
+ Theo nghĩa rộng, hành chính là sự thi hành chính sách và pháp luật của Chính phủ tức là hoạt
động quản lí hành chính Nhà nước. Quản lí hành chính nhà nước là một hình thức quản lí, mà chủ thể
quản lí là Nhà nước. Hành chính nhà nước là một bộ phận quản lí của Nhà nước – nó là hoạt động của
cơ quan hành pháp, thực thi quyền hành pháp bằng quyền lập quy và quyền hành chính.
+ Theo nghĩa hẹp, hành chính là công tác hành chính của các cơ quan nhà nước ở địa phương
như: quản lí hộ khẩu, trật tự, an ninh công cộng, quản lí công văn giấy tờ không thuộc văn bản pháp
luật,… và có cả nghĩa thông thường như hỗ trợ, dịch vụ hành chính,…
Hành chính quan hệ mật thiết với quản lí, tổ chức, chính trị tạo nên các phạm trù: hành chính và
quản lí, hành chính và tổ chức, hành chính và chính trị, hành chính và pháp luật.
Nhà nước quản lí hành chính bằng pháp luật. Còn hành chính nhà nước là “hành pháp trong
hành động”, là sự thực thi pháp luật trong quản lí, điều hành mọi lĩnh vực đời sống của đất nước.
Từ những phân tích trên ta có thể định nghĩa: Hành chính là hoạt động quản lí nhà nước, trong
đó cơ quan quyền lực nhà nước tác động lên các đối tượng quản lí (cơ quan, tổ chức, cá nhân) trong
lĩnh vực hành pháp, nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại quản lí hành chính nhà nước do
các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện.
4. Nền hành chính nhà nước
Nền hành chính nhà nước (hành chính công) là tổng thể cơ chế được cấu thành bởi ba yếu tố sau
đây:
Một là, hệ thông thể chế quản lí xã hội theo Pháp luật bao gồm: Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và
các văn bản, Quyết định, Nghị định, Thông tư của Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, quy phạm
pháp luật của các cơ quan hành pháp và quản lí nhà nước. Xây dựng thể chế của nền hành chính nhà
nước dân chủ, thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phục vụ lợi ích và nguyện vọng của
dân, thiết lập kỷ cương Nhà nước, ý thức và trật tự pháp luật, cải cách và hoàn thiện thủ tục hành

hành chính).
Chủ tịch Ủy ban nhân dân có vai trò:
– Là thành viên của Hội đồng nhân dân bầu ra để chấp hành các nghị quyết của Hội đồng nhân
dân (chính trị).
– Là người đứng đầu về quản lí hành chính nhà nước ở địa phương (quản lí hành chính).
Từ phân tích trên, có thể định nghĩa quản lí hành chính Nhà nước như sau:
Quản lí hành chính Nhà nước là sự tác động có tổ chức, và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà
nước đối với các quá trình và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan có tư cách pháp nhân
công pháp trong hệ thống hành pháp và quản lí hành chính nhà nước tiến hành bằng những văn bản
quy phạm pháp luật dưới luật để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các
mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày
của nhân dân.
Nói một cách đơn giản hơn, quản lí hành chính nhà nước là việc tổ chức thực thi quyền hành
pháp để quản lí, điều hành các lĩnh vực đời sống xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật.
Như vậy, có thể thấy ba nội dung chính của khái niệm quản lí hành chính nhà nước:
Một là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là quyền lực nhà nước được gọi là quyền quản
lí hành chính, tức là “quyền hành pháp trong hành động”.
Hai là, quản lí hành chính nhà nước với tư cách là hoạt động thực tiễn hàng ngày, tổ chức và
điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra các quyết định hành
chính mang tính quy phạm hành chính, phục vụ cho các nhà cầm quyền, các nhà lãnh đạo và quản lí
đất nước.
Ba là, quản lí hành chính nhà nước, với tư cách là pháp nhân công pháp, chính là hệ thống thiết
chế tổ chức hành chính nhà nước. Trong hệ thống này, đứng đầu là Chính phủ và Thủ tướng Chính
phủ, các bộ, các cơ quan quản lí hành chính nhà nước trung ương, các cấp quản lí hành chính nhà nước
địa phương và các tổ chức công quyền khác có chức năng tổ chức và điều hành các quá trình kinh tế kỹ
thuật, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, nội vụ, ngoại giao… và các hoạt động của tổ chức và công
dân.
II. NHỮNG TíNH CHẤT CHỦ YẾU CỦA NỀN HàNH CHíNH NHà NƯỚC CỘNG HÒA Xã HỘI
CHỦ NGHĩA VIỆT NAM
Nền hành chính nhà nước có các tính chất sau đây:

chính nhà nước cũng phải thích nghi với hoàn cảnh thực tế xã hội trong từng thời kỳ, phải phù hợp với
xu thế chung của thời đại.
4. Tính chuyên môn hoá nghiệp vụ cao
Đây là vấn đề quan trọng của một nhà nước và của một nền hành chính nhà nước thể hiện trình
độ khoa học, văn minh, hiện đại. Đối với các công chức nhà nước, kiến thức chuyên môn và kỹ năng
quản lí điều hành thực tiễn là tiêu chuẩn về trình độ nghiệp vụ. Tính chuyên môn hoá nghề nghiệp ở
trình độ cao là cơ sở để đảm bảo thực hiện mục tiêu chiến lược, hoạch định chính sách và chương trình
dài hạn.
5. Tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ
Hành chính nhà nước là hệ thống thông suốt từ trung ương tới các địa phương. Mỗi cấp, mỗi cơ
quan, mỗi công chức đều có thẩm quyền riêng và quyền lợi chính đáng. Tính thứ bậc chặt chẽ đòi hỏi
cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương, cả nước phục tùng Chính phủ
trong việc thực hiện quyết định, chỉ thị và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên, của thủ trưởng.
Bên cạnh tính thứ bậc chặt chẽ, mọi hoạt động quản lí hành chính nhà nước phải sát dân, sát cơ sở;
phải chủ động, sáng tạo, linh hoạt.
6. Tính không vụ lợi
Hành chính nhà nước chỉ có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích công dân, không theo đuổi
mục tiêu doanh lợi. Các cơ quan, công chức đều phải thể hiện tính công tâm, trong sạch, liêm khiết,
thực hiện lời Bác Hồ dạy “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.
7. Tính nhân dạo
Bản chất nhà nước ta là dân chủ, do dân, của dân và vì dân. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể
hiện trong luật pháp, cụ thể là trong pháp luật hành chính; những thể chế, quy tắc, thủ tục hành chính
phải xuất phát từ lợi ích của dân, từ tấm lòng thật sự thương dân, phải đơn giản, trong sáng, tôn trọng
con người và đem lại sự thuận lợi cho dân. Các cơ quan hành chính và công chức không được quan
liêu, độc đoán, cửa quyền, gây phiền hà, không đòi hối lộ, không tham nhũng.
So với nhiều nước khác trên thế giới, quản lí nhà nước ở nước ta có ba giá trị cốt lõi sau đây:
a) Quản lí nhà nước được tiến hành trong điều kiện hệ thống trị một Đảng lãnh đạo là Đảng
Cộng sản Việt Nam.
b) Quản lí nhà nước được thực hiện trong một cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất không
phân chia, nhưng có sự phân công hợp lí giữa ba quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp).

– Chương trình phát triển kinh tế dịch vụ;
– Chương trình phát triển kinh tế đối ngoại;
– Chương trình phát triển giáo dục và đào tạo;
– Chương trình giải quyết các vấn đề văn hoá – xã hội;
– Chương trình phát triển các vùng lãnh thổ;
– Chương trình phát triển kinh tế – xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc;
– Chương trình về xoá đói, giảm nghèo.
b. Quản lí hành chính nhà nước về an ninh, quốc phòng
Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng,
Nhà nước và của toàn quân, toàn dân. Phải nắm vững tư tưởng chỉ đạo sau đây: kết hợp chặt chẽ hai
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa; kết hợp quốc phòng và an ninh với kinh tế, gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ trọng
yếu thường xuyên (Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VIII – Đảng CSVN).
c. Quản lí hành chính nhà nước về ngoại giao
“Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá
các quan hệ đối ngoại; hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc
tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can
thiệp vào nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng
thương lượng (Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VIII – Đảng CSVN).
d. Quản lí hành chính nhà nước về ngân hàng, tài chính ngân sách nhà nước, kế toán, kiểm
toán, quản lí tài sản công, thị trường chứng khoán
Bảo đảm quản lí thống nhất nền tài chính quốc gia, giảm bội chi ngân sách, góp phần khống chế
và kiểm soát lạm phát; tạo vốn đầu tư phát triển; đổi mới chính sách thuế theo hướng đơn giản, ổn
định, công bằng; thực hiện chặt chẽ chế độ kế toán, kiểm toán và chế độ kiểm tra, thanh tra tài chính
(theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng VIII).
đ. Quản lí hành chính nhà nước về khoa học, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học tự nhiên và công nghệ tiên tiến trong tất
cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lí và quốc phòng – an ninh.
Nám bắt các công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu
mới, công nghệ mới trong chế tạo máy… Đánh giá chính xác tài nguyên quốc gia và khai thác sử dụng,

và hợp tác phối hợp liên ngành, quản lí chặt chẽ sự hoạt động của bộ máy.
c. Bố trí nhân sự
Sắp xếp đội ngũ cán bộ – công chức từ người chỉ huy, chuyên gia đến nhân viên. Xây dựng hệ
thống đánh giá cán bộ theo tiêu chuẩn và theo hành động thực tế để cất nhắc, đề bạt, khen thưởng, kỷ
luật.
d. Ra quyết định hành chính
Từ việc phân tích và tổng hợp thông tin đã thu thập được để để xuất các phương án khác nhau
và chọn lấy phương án tốt nhất làm nội dung quyết định. Thẩm định lại phương án và ban hành văn
bản quản lí hành chính nhà nước.
e. Điều hoà phối hợp
Chỉ đạo điều hành, phối hợp dọc, ngang.
Phân công đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp theo một cơ chế điều hoà phối hợp có hiệu quả.
g. Lập ngân sách
Xây dựng và ra quyết định ngân sách nhà nước từ các nguồn: ngân sách nhà nước, vốn doanh
nghiệp nhà nước tự tích luỹ để tái đầu tư, vốn tiết kiệm của dân, vốn đầu tư nước ngoài.
h. Kiểm tra, tổng kết đánh giá
Kiểm tra định kỳ, đột xuất, xử lí kết quả đã kiểm tra để chỉ đạo kịp thời.
Tổng kết đánh giá thực tiễn để thấy việc đã làm được và chưa làm được, nguyên nhân? Tổng kết
kinh nghiệm khái quát thành lí luận và tiếp tục ra quyết định mới có hiệu lực cao hơn.
V. CÔNG CỤ (PHƯƠNG TIỆN), HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC
1. Các công cụ (phương tiện) của quản lí hành chính nhà nước
Một cơ quan hành chính được thành lập, để thực hiện chức năng. nhiệm vụ và quyền hạn của
mình, phải có các công cụ (hoặc còn gọi là phương tiện) cơ bản sau đây: công sở, công vụ, công chức,
công sản và quyết định quản lí hành chính nhà nước
a. Công sở
Là trụ sở làm việc của cơ quan hành chính nhà nước, là nơi lãnh đạo công chức và nhân viên
thực thi công vụ, giao tiếp đối nội và đối ngoại, tiếp nhận các thông tin đầu vào và ban hành các quyết
định để giải quyết, xử lí công việc hàng ngày để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động
của công dân.

Bước 4: Thực hiện quy trình khoa học (thủ tục hành chính) của việc ra và tổ chức thực hiện
quyết định, gồm có: sự phân tích tình hình, dự báo, lập phương án và chọn phương án tốt nhất; soạn
thảo và thông qua quyết định; ra văn bản pháp quy; tổ chức lực lượng để thực hiện quyết định; điều tra
phản hồi, nếu có phản ứng phải điều chỉnh kịp thời; kiểm tra định kỳ và đột xuất; tổng kết, đánh giá,
rút kinh nghiệm đúc kết thành lí luận, tiếp tục ra quyết định mới.
2. Hình thức quản lí hành chính nhà nước
Thông thường quản lí hành chính nhà nước có ba hình thức sau:
a. Ra văn bản pháp quy quy phạm pháp luật hành chính
Các chủ thể quản lí hành chính nhà nước có thể ra quyết định bằng chữ viết, bằng lời nói, bằng
dấu hiệu, ký hiệu, trong đó bằng chữ viết là chủ yếu, là đảm bảo tính pháp lí cao nhất.
Văn bản pháp quy quy phạm pháp luật hành chính là Quyết định hành chính được ghi thành chữ
viết, để cho các khách thể quản lí căn cứ vào đó mà thực hiện và là chứng cứ để các chủ thể quản lí
kiểm tra các khách thể thực hiện có đầy đủ và đúng hay không và tuỳ theo đó mà truy cứu trách nhiệm,
xử lí theo pháp luật.
b. Hội nghị
Hội nghị là hình thức để tập thể lãnh đạo ra quyết định.
Hội nghị còn sử dụng để bàn bạc một công việc có liên quan đến nhiều cơ quan hoặc nhiều bộ
phận trong một cơ quan, cần có sự kết hợp, phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau. Hội nghị còn dùng để truyền
đạt thông tin, học tập, biểu thị thái độ, tuyên truyền, giải thích…
Hội nghị bàn công việc sẽ có nghị quyết hội nghị. Các nghị quyết hội nghị được thể hiện bằng
văn bản pháp quy mới có đầy đủ tính pháp lí.
Hội nghị là hình thức cần thiết và quan trọng. Cần phải tổ chức và chủ trì hội nghị theo phương
pháp khoa học để ít tốn thời gian mà hiệu quả cao.
c. Hoạt động thông tin điều hành bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại
Theo hình thức này, máy móc có thể thay thế lao động chân tay và cả lao động trí óc cho công
chức hành chính.
Hình thức này hiện nay đang phát triển mạnh mẽ. Chẳng hạn: sử dụng điện thoại, ghi âm, ghi
hình, vô tuyến truyền hình, fax, phôtôcopy, máy vi tính, máy điện toán, Internet… Nói chung là tin học
hiện đại được sử dụng vào công tác nghiệp vụ điều hành quản lí hành chính nhà nước.
Trong ba hình thức trên, hình thức ra văn bản pháp quy quy phạm pháp luật hành chính là hình

Đây là biện pháp đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương. Để thực hiện tốt biện pháp
này thì có nhiều việc phải làm, nhưng quan trọng nhất là phải có quy chế, quy trình, nội quy hoạt động
cho cơ quan, bộ phận, cá nhân và phải cương quyết thực hiện. Phải kiểm tra và xử lí kết quả đã kiểm
tra một cách dân chủ, công bằng, thưởng, phạt phân minh.
Làm tốt biện pháp này thì trách nhiệm và kỷ luật sẽ được giữ vững và tăng lên, hiệu quả công
việc sẽ cao, đoàn kết nội bộ được đảm bảo. Ngược lại thì tư tưởng sẽ không lành mạnh, đoàn kết nội
bộ không yên, kỷ luật kỷ cương lỏng lẻo, hiệu quả công việc thấp.
– Phương pháp kinh tế
Đây là biện pháp mà chủ thể quản lí hành chính nhà nước tác động gián tiếp đến khách thể quản
lí (con người) dựa trên các lợi ích và chất và các đòn bẩy kinh tế (lương, thưởng, phụ cấp chính sách xã
hội…) để làm cho các khách thể quản lí suy nghĩ đến lợi ích của mình, tự giác thực hiện bổn phận và
trách nhiệm của mình một cách tốt nhất mà không phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều về mặt hành chính
mệnh lệnh của chủ thể quản lí.
Tuy nhiên, phải biết kết hợp một cách hài hoà và đúng đắn giữa lợi ích của người công dân, lợi
ích của tập thể, lợi ích Nhà nước. Trong ba lợi ích đó, lợi ích của người dân là động lực trực tiếp lợi ích
của Nhà nước là tối cao.
Phương pháp này được thể hiện cả hai mặt: làm giỏi, hiệu quả lớn thì tăng lương, tăng thưởng,
tăng phụ cấp. Làm sai, hiệu quả không có thì hạ lương hoặc cắt lương, bồi thường vật chất hoặc xử lí
phạt tiền.
– Phương pháp hành chính
Đây là biện pháp tác động trực tiếp của chủ thể quản lí lên các khách thể bằng các mệnh lệnh
hành chính dứt khoát, bắt buộc. Mệnh lệnh này có tính đơn phương thuộc chủ thể quản lí và tính chấp
hành vô điều kiện của khách thể quản lí. Nhưng dân chủ và kỷ luật phải đi đôi, cho nên quyết định của
chủ thể đưa ra sau khi đã thực hiện dân chủ hoá.
Trong bốn phương pháp của nhóm thứ hai này, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện
nay thì phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức được nổi lên hàng đầu, phải làm thường xuyên, liên
tục và nghiêm túc. Biện pháp tổ chức là hết sức quan trọng. Phương pháp kinh tế là phương pháp cơ
bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lí nhà nước. Phương pháp hành chính là rất cần thiết.
Nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn.
Tất cả các phương pháp quản lí hành chính nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau. Các

* Kết quả tăng, chi phí giảm.
* Kết quả giữ nguyên, chi phí giảm.
* Kết quả giảm, chi phí giảm nhanh hơn.
2. Những định hướng và giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lí hành
chính nhà nước
Một là, quán triệt các quan điểm, nguyên tắc trong việc tiếp tục cải cách bộ máy, xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xây dựng chiến lược cải cách hành chính.
Hai là, thấu suốt những tư tưởng chỉ đạo tiến trình cải cách hành chính nhà nước. Tiến trình cải
cách hành chính nhà nước được xem:
– Là một bộ phận trọng yếu của việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam
gắn với đổi mới và chỉnh đốn Đảng.
– Là một nền hành chính nhà nước dân chủ phục vụ đắc lực nhân dân, giữ vững trật tự kỷ cương
xã hội theo pháp luật.
– Là phục vụ đắc lực và thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc tiếp tục sự nghiệp đổi mới, phát triển đất
nước theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
– Là xuất phát từ yêu cầu cuộc sống, sát với hoàn cảnh thực tế của đất nước đồng thời phải thích
ứng với xu thế của thời đại, nhằm thu được kết quả thiết thực, tác động tích cực đến mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội.
Ba là, tiếp tục chấn chỉnh bộ máy hành chính nhà nước, phân định lại thẩm quyền, phân cấp,
phân công thẩm quyền, ủy quyền cụ thể rõ ràng, xây dựng quy chế hoạt động của hệ thống quản lí
hành chính nhà nước, đặc biệt đối với các cấp chính quyền địa phương. Phân biệt và có cơ chế thích
đáng quản lí bộ máy hành chính nhà nước ở thành phố, thị xã, thị trấn, quận, phường, đẩy mạnh công
cuộc cải cách thủ tục hành chính.
Bốn là, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng cán bộ – công chức quản lí hành chính cả về lí luận chính trị,
phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực, kỹ năng điều hành thực tiễn, trước hết là đội ngũ
cán bộ chủ chốt, coi trọng đức và tài, trong đó đức là gốc.
Năm là, thực hiện Pháp lệnh cán bộ – công chức và hoàn thiện chế độ công vụ.
Sáu là, nâng cao hiệu lực hoạt động của Toà án hành chính.
Dựa trên cơ sở các định hướng và giải pháp đã trình bày ở trên, chuyển đổi nền hành chính nước

có những tính chất chung của quản lí nhà nước và quản lí hành chính nhà nước, cụ thể như sau:
– Tính lệ thuộc vào chính trị: quản lí nhà nước về giáo dục phục tùng và phục vụ nhiệm vụ
chính trị; tuân thủ chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
– Tính xã hội: giáo dục là sự nghiệp của nhà nước và của toàn xã hội. Trong quản lí nhà nước
về giáo dục cần phải coi trọng tính xã hội và dân chủ hoá giáo dục. Giáo dục và đào tạo luôn phát triển
trong mối quan hệ với sự phát triển của kinh tế xã hội.
– Tính pháp quyền: quản lí nhà nước là quản lí bằng pháp luật Quản lí nhà nước về giáo dục và
đào tạo cũng phải tuân thủ hành lang pháp lí mà nhà nước đã quy định cho một hoạt động quản lí các
hoạt động giáo dục và đào tạo, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
– Tính chuyên môn nghiệp vụ: cán bộ – công chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
cần được đào tạo có trình độ tương ứng với yêu cầu về tiêu chuẩn các ngạch, chức danh đã được quy
định. Việc tuyển dụng cán bộ – công chức tuân theo các tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh mà nhà nước
đã ban hành.
– Tính hiệu lực, hiệu quả, lấy hiệu quả của hoạt động chuyên môn nghiệp vụ để đánh giá cán bộ
– công chức ngành giáo dục và đào tạo; chất lượng, hiệu quả và sự bảo đảm trật tự kỷ cương trong giáo
dục và đào tạo là thước đo trình độ, năng lực, uy tín của các cơ sở giáo dục và đào tạo và của các cơ
quan quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo.
2.2. Đặc điểm của quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Trong một số tính chất nêu trên, có những tính chất có nét đặc biệt mà ta có thể nhấn mạnh hơn
và chúng trở thành các đặc điểm cần lưu ý.
Quản lí nhà nước là việc thực thi ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp để điều chỉnh mọi
quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Quản lí hành chính nhà nước là thực thi quyền hành pháp để tổ chức, điều chỉnh mọi quan hệ xã
hội, hành vi công dân.
Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, một hoạt động mang tính xã hội cao, quản lí nhà nước về
giáo dục và đào tạo ở cấp cơ sở thực chất là thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do nhà nước
phân cấp và thực tế là thực thi quản lí hành chính nhà nước đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo. Vì
vậy ở cấp cơ sở khái niệm quản lí nhà nước và quản lí hành chính nhà nước đối với giáo dục và đào tạo
giao thoa với nhau. Bởi vì đây chính là cấp tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hành
chính giáo dục. Trên cơ sở nhận thức đó cần nhấn mạnh 3 đặc điểm sau:

quản lí, công cụ và phương pháp quản lí và quan hệ thứ bậc trong quản lí.
– Điều kiện để triển khai quản lí nhà nước là phải có tư cách pháp nhân và yêu cầu về tính hợp
pháp trong quản lí là yêu cầu trước hết. Muốn có tư cách pháp nhân để quản lí phải được bổ nhiệm và
khi đã được bổ nhiệm cần phải thực hiện đúng, đủ chức năng, thẩm quyền. Không lạm quyền cũng
không đùn đẩy trách nhiệm; thực hiện đúng chế độ thủ trưởng trong việc ra quyết định và trong việc
chịu trách nhiệm về các quyết định quản lí trước tập thể và cấp trên. Trong quản lí nhà nước sẽ không
có tư cách pháp nhân để “ra quyền” khi chưa được bổ nhiệm. Tuy nhiên, mỗi tư cách pháp nhân đều có
trách nhiệm và quyền hạn tương ứng, việc hiểu cho đúng, làm cho đủ thẩm quyền là thước đo khả năng
sử dụng quyền lực Nhà nước của một tư cách pháp nhân. Trong thực tế có những vấn đề phát sinh do
không nhận thức đúng tính quyền lực Nhà nước trong các hoạt động quản lí. Thoái quyền và lạm
quyền là hai thái cực của sự vi phạm thẩm quyền, mặt khác khái niệm thẩm quyền cũng gắn với sự
phân cấp và tuân thủ thứ bậc chặt chẽ trong quản lí nhà nước.
– Phương tiện quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo là các văn bản pháp luật và pháp quy.
Phương pháp chủ yếu để quản lí nhà nước là phương pháp hành chính tổ chức. Cần nhận thức rằng
pháp luật, pháp quy là sự cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ảnh lợi ích
của toàn dân, vì vậy đây chính là hành lang pháp lí cho việc triển khai các hoạt động quản lí giáo dục,
bảo đảm tính quyền lực nhà nước trong quản lí. Việc không tuân thủ hành lang pháp lí trong các hoạt
động quản lí giáo dục tức là vi phạm trật tự kỷ cương và sẽ bị xử lí theo quy định của pháp luật.
– Trong quản lí nhà nước phải tuân thủ thứ bậc chặt chẽ hoạt động quản lí theo sự phân cấp rõ
ràng và mệnh lệnh – phục tùng là biểu hiện rõ nhất của tính quyền lực trong quản lí nhà nước. Tính
quyền lực nhà nước ở đây cũng chính là việc cán bộ quản lí giáo dục cấp phòng cần nhận thức đầy đủ
rằng cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương trong quá trình quản lí
giáo dục.
2.2.3. Kết hợp nhà nước – xã hội trong quá trình triển khai quản lí nhà nước về giáo dục và đào
tạo
Chúng ta đều biết giáo dục và đào tạo là một hoạt động mang tính xã hội cao và Đảng ta cũng
đã nhấn mạnh tư tưởng giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của nhà nước và của toàn xã hội.
Rõ ràng, dân chủ hoá và xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng có tính chiến lược và nó
có vai trò rất to lớn trong sự phát triển giáo dục nói chung và quản lí giáo dục nói riêng. Nhiều bài toán
quản lí giáo dục sẽ rất khó giải quyết nếu không có sự tham gia của đông đảo lực lượng xã hội. Đây

– Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục của địa phương.
– Giám sát việc thi hành pháp luật và chủ trương chính sách về giáo dục ở địa phương.
– Quyết định chủ trương huy động và sử dụng nguồn lực ở địa phương nhằm phát triển sự
nghiệp giáo dục và đào tạo ở địa phương.
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Nhân dân địa phương.
– Xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục, bảo đảm các điều kiện cho các
hoạt động sự nghiệp giáo dục trên địa bàn.
– Quản lí các trường, các cơ sở giáo dục theo sự phân cấp.
– Chỉ đạo thực hiện xã hội hoá giáo dục, tổ chức thực hiện phổ cập, xoá mù chữ.
Nói chung, chính quyền địa phương có trách nhiệm bảo đảm môi trường kinh tế – xã hội lành
mạnh cho các hoạt động giáo dục diễn ra đúng mục tiêu của nhà nước.
Trong hoạt động quản lí ở một cơ sở giáo dục và đào tạo địa phương phải tuân thủ những quy
định, quy chế chuyên môn của ngành dọc (thực hiện quy chế thi cử, văn bằng chứng chỉ, chỉ thị năm
học…). Sự kết hợp có hiệu quả sự chỉ đạo của ngành và lãnh thổ trong việc triển khai các hoạt động
quản lí giáo dục làm một nguyên tắc quan trọng trong quản lí nhà nước về giáo dục.
2.3.2. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí giáo dục và đào tạo
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động chính trị xã hội ở nước ta,
đồng thời cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Quản lí
nhà nước về giáo dục cũng tuân thủ nguyên tắc này. Nguyên tắc tập trung dân chủ yêu cầu nhà nước
thống nhất quản lí hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung… quy chế thi cử và
hệ thống văn bằng (Điều 13, Luật Giáo dục). Bên cạnh đó phân cấp rõ ràng về quản lí giáo dục cho địa
phương và tạo điều kiện để cơ sở phát huy chủ động và sáng tạo.
Nguyên tắc tập trung dân chủ cũng đòi hỏi trong quá trình triển khai quản lí, chỉ đạo cần tuân
thủ những quy định chung của cấp trên về chủ trương, đường lối, phát triển giáo dục; đòi hỏi cơ sở
phải tuân thủ hành lang pháp lí đã quy định nhưng tuyệt đối không được áp đặt, cần tạo điều kiện cho
cơ sở phát huy quyền chủ động sáng tạo của họ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ có thể vận dụng được trong hoạt động quản lí nhà nước về giáo
dục ở cơ sở cần suy nghĩ trả lời cho câu hỏi: làm thế nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa chế độ thủ
trưởng và thực hiện dân chủ cơ sở ở một trường học?
Rõ ràng nguyên tắc tập trung dân chủ đối với quản lí nhà nước về giáo dục có nghĩa là Nhà

Trích đoạn Pháp lệnh cán bộ công chức Nghĩa vụ và quyền lợi của cán bộ công chức Việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí cán bộ công chức Tình hình giáo dục Việt Nam hiện nay Bối cảnh và thời cơ, thách thức đối với giáo dục nước ta trong vài thập kỷ tớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status