PHÒNG GIÁO DỤC CẨM GIÀNG
KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG XÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH
CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC
TẬP ĐỊA LÍ
Bộ môn: Địa lý - THCS
NĂM HỌC: 2007 - 2008
PHÒNG GIÁO DỤC CẨM GIÀNG
TRƯỜNG THCS CẨM HOÀNG
***@***
KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG XÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH
CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC
TẬP ĐỊA LÍ
Bộ môn: Địa lý
Họ, tên tác giả: Trần Đức Vũ
Đánh giá của nhà trường:
(nhận xét, xếp loại, kí, đóng dấu) TM nhà trường:
KINH NGHIỆM
Số phách của Phòng GD ghi
RÈN KĨ NĂNG XÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH
CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC
TẬP ĐỊA LÍ
Bộ môn: Địa lý
bản trong bài mà đã quên đi việc rèn cho học sinh các kĩ năng địa lí cần thiết,
đặc biệt là kĩ năng xác lập và phân tích các mối quan hệ trong địa lí. Các bài
giảng tẻ nhạt. rời rạc, học sinh không phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong
học tập .
2/ Về phía học sinh :
Đối tượng học sinh không đều, bên cạnh những em yêu thích môn địa lí,
muốn tìm tòi, khám phá nhữnh điều mới lạ trong địa lí, thì 1 bộ phận không nhỏ
trong học sinh không yêu thích bộ môn này. Các em này thường lười suy nghĩ,
tiếp nhận kiến thức 1 cách thụ động và coi đây là bộ môn phụ nên không có sự
đầu tư nhiều cho bộ môn. Trong trường hợp này người giáo viên muốn thực hiện
tốt các yêu cầu của bài là rất khó. Đặc biệt để học sinh hiểu và phân tích được
các mối quan hệ địa lí trong bài học lại càng khó hơn.
Vậy làm thế nào để có những giờ học sinh động, phát huy được tính tích
cực của học sinh và để học sinh thêm yêu thích môn địa lí hơn. Xuất phát từ
những trăn trở đó , tôi đã cố gắng đọc tài liệu, học hỏi đồng nghiệp, đối mới
phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đặc trưng của bộ môn và với từng bài
học.
Với nội dung trong đề tài này tôi mạnh dạn ghi lại một số suy nghĩ và kết
quả tôi đã thực hiện trong việc Hương dẫn học sinh xác lập và phân tích các mối
quan hệ trong “giảng dạy địa lí” trong nhà trường THCS.
B. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
I/ Các mối quan hệ trong địa lí:
Các mối quan hệ trong địa lí rất phong phú và đa dạng. Đó là các mối quan
hệ giữa các hiện tượng tự nhiên với nhau, giữa tự nhiên với kinh tế- xã hội và
giữa các hiện tượng kinh tế xã hội với nhau. Trong các mối quan hệ đó có các
mối quan hệ nhân quả và mối quan hệ thông thường. Vì vậy trong quá trình
giảng dạy giáo viên cần phải giúp học sinh biết cách phân biệt chúng thuộc loại
nào để có được những phán đoán và nhận định đúng về các hiện tượng sự vật
địa lí.
1/ Hướng dẫn học sinh xác lập các mối quan hệ trong địa lí:
triển? Từ đó học sinh sẽ dễ dàng phân biết và nhận định được mối quan hệ trên
là mối quan hệ địalí thông thường vì có câu trả lời là phủ định.
Hay: Cứ nơi nào có đồng cỏ thì nơi đó phát triển ngành chăn nuôi gia súc?
Cứ nơi nào có nhiều khoáng sản thì nơi đó ngành công nghiệp phát triển?
Các câu trả lời đều là phủ định, mà bên cạnh các yếu tố tự nhiên các ngành
kinh tế phát triển được còn phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố kinh tế- xă hội
khác.
Như vậy mối quan hệ địa lí thông thường cũng có nhân và quả, nhưng quả
đó cũng có thể xảy ra hoặc không thể xảy ra. Điểm này khác với mối quan hệ
nhân quả vì có quả là điều tất yếu phải xảy ra. Để giúp học sinh nhận biết đễ
dàng, giáo viên hướng dẫn học sinh dùng phương phapó so sánh giữa hai loại
quan hệ này như vậy học sinh sẽ dễ nhớ và nhớ kiến thức lâu hơn.
c/ Xác lập mối quan hệ trực tiếp, gián tiếp:
Với mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ đơn giản, trong đó nhân trực tiếp
sinh ra quả không qua cầu trung gian.
Ví du: Mưa lớn kéo dài thì sinh ra lũ lụt .
Tuy nhiên ở mối quan hệ này giáo viên cần giúp học sinh nhận biết đâu là
nhân, đâu là quả để học sinh xác lập các mối quan hệ địa lí trong 1 bài hay 1
chương học.
Với mối quan hệ gián tiếp. Đây là mối quan hệ phức tạp, không đễ gì học
sinh hiểu ngay được. Nó có mối quan hệ phức tạp, từ quả này được sinh ra do
nhiều nguyên nhân khác,các nguyên nhân đó lại có quan hệ nối tiếp với nhau.
Ví dụ: Nơi có dòng biển lạnh đi qua ( nguyên nhân) đã làm cho 1 số nơi ở
ven biển trở thành hoang mạc ( là quả) . Nhưng tại sao dòg biển lạnh lại làm
hình thành các hoang mạc ven bờ lục địa thì lại do 1 nguyên nhân nữa là các
dòng biển lạnh đã làm hạn chế sự bốc hơi nước ngăn chặn sự di chuyển của hơi
ẩm vào đất liền dẫn tới ít mưa nên hình thành các hoang mạc.
Như vậy bản chất của khoa học địa lí là khoa học gắn với không gian, với
bản đồ và các mối quan hệ giữa các sự vật địa lí. Để giúp học sinh hình thành và
xác lập các mối quan hệ gián tiếp, phức tạp này. Trước hết trong quá trình giảng
sau:
Xác định tên của sơ đồ.
đọc bài học để tìm các thông tin, những mối quan hệ có liên quan đến nội
dung của tên sơ đồ
Lựa chọn các thành phần có quan hệ cần phải đưa lên sơ đồ.
Xác định vị trí của từng thành phần trên sơ đồ dự kiến sẽ phác hoạ
Đặt các thành phần lựa chọn vào đúng các khung dự kiến.
Xác định vai trò tác động của từng thành phần đối với các thành phần khác
trên sơ đồ để xếp cùng hàng với nhau
Vẽ các mũi tên.
Ví dụ khi dạy bài 13 sách giáo khoa địa lí 7 :
Xác lập mối quan hệ để giải thích tại sao thời tiết đới ôn hoà lại diễn biến
thất thường. Như vậy ở yêu cầu này, cho ta biết được quả, việc phải làm là tìm
nguyên nhân để xác lập sơ đồ mối quan hệ này. Giáo viên yêu cầu và hướng dẫn
học sinh đọc kênh chữ đặc biệt là hình 13.1(sgk) để tìm thông tin có liên quan
đến thời tiết ở đới ôn hoà và thực hiện các bước còn lại trong việc xác lập sơ đồ
các mối quan hệ địa lí để lập sơ đồ về mối quan hệ trên
Tên sơ đồ: Các nhân tố ảnh hưởng đến thời tiết đới ôn hoà.
Ở ví dụ trên các hiện tượng sự vật địa lí tác động đến nhau theo một chiều
thống nhất. tuy nhiên trong nội dung chương trình, có các hiện tượng, sự vật địa
lí lại có tác động qua lại với nhau, thì trên sơ đồ mũi tên sẽ có hai chiều.
Ví dụ : ở bài 20 “Khí hậu và cảnh quan trên trái đất” ( sgk địa lí 8)
Vị trí
trung gian
Thời tiết
diễn biến
thất thường
Gió tây
Dòng biển
Khí nóng
hiện tốc độ tăng dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu
người ở đồng bằng sông hồng) . Ta đọc từng tiêu chí trong cả giai đoạn từ 1995
→
2002 tăng bao nhiêu %.
Dân số tăng : 8,2%
Sản lượng lương thực tăng: 31,1%
Bình quân lương thực đầu người tăng: 21,2%
Bước 2: Sau khi đã đọc hết các hiện tượng, sự vật địa lí trong biểu đồ. giáo
viên hướng dẫn học sinh so sánh tốc độ tăng , giảm giữa các hiện tượng, sự vật
địa lí với nhau để thấy các sự vật, hiện tươựng tăng, giảm như thế nào trong mối
tương quan với nhau.
Ví dụ: Từ năm 1995
→
2000 ở đồng bằng sông hồng có sản lượng lương
thực tăng nhanh nhất sau đến bình quân lương thực đầu người, cuối cùng là dân
số tăng chậm nhất
Bước 3: Từ việc so sánh tốc độ tăng, giảm qua từng năm hoặc từng giai
đoạn giữa các hiện tượng, sự vật địa lí, học sinh rút ra nhận xét về mối tương
quan, mối liên hệ…giữa các hiện tượng, sự vật địa lí để thấy chúng diễn ra như
thế nào? Sự vật, hiện tượng nào chi phối hoặc tác động làm tăng hoặc giảm tốc
độ phát triển, gia tăng của sự vật hiện tượng khác.
Ví dụ: ở đồng bằng sông hồng bình quân lương thực đầu người tăng là do
tốc độ tăng của sản lượng lương thực tăng nhanh hơn dân số
4/ Cách sử dụng bản đồ, lược đồ có mối quan hệ:
Bản đồ hoặc lược đồ các mối quan hệ là bản đồ thể hiện các mối quan hệ
địa lí phức tạp, đa dạng có thể là cùng loại hoặc các sự vật địa lí khác nhau
nhưng có liên quan với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thường được thể hiện trên
bản đồ, lược đồ bằng các mũi tên hoặc gam màu đậm nhạt nhằm làm nổi bật các
mối quan hệ trong bản đồ. Các mối quan hệ thể hiện trên bản đồ có loại đơn giản
song cũngcó nhiều mối quan hệ rất phức tạp.
châu Phi có khí hậu nóng.
Như vậy để xác lập và đọc được các mối quan hệ phức tạp trên bản đồ đòi
hỏi học sinh không những phải nắm được kiến thức cơ bản, có kĩ năng đọc bản
đồ tốt mà còn phải có khả năng tư duy tốt. Nên trong quá trình giảng dạy, giáo
viên cần phải tạo điều kiện cho học sinh thường xuyên tiếp xúc với bản đồ, biết
cách tìm kiếm các thông tin từ bản đồ, đôi chiếu, so sánh, phối hợp các bản đồ
với nhau trên cơ sở đó mà nắm vững tri thức, phát triển tư duy và khả năng sử
dụng bản đồ và cao hơn nữa là học sinh phải biết xác lập các mối quan hệ , phải
vận dụng vốn kiến thức địa lí đã có với các đặc điểm và tính chất của đối tượng
để rút ra những điều mà trên bản đồ không thể hiện trực tiếp.
II/ Xác lập mối quan hệ địa lí trong bài 33 địa lí lớp 8:
Đặc điểm sông ngòi Việt Nam
1/ Mục tiêu của bài học:
Qua bài học, hs nắm được
Bốn đặc điểm cơ bản của sông ngòi nước ta.
Mối quan hệ của sông ngòi nước ta với các nhân tố tự nhiên địa chất, địa
hình, khí hậu
Giá trị tổnghợp to lớn của nguồn lợi do sông ngòi mang lại
Trách nhiệm bảo vệ môi trường nước và các dòng sông để phát triển kinh
tế lâu bền.
2/ Phương tiện dạy học:
Bản đồ sông ngòi Việt Nam
Bản đồ tự nhiên Việt Nam
3/ Các bước tiến hành:
Giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác kênh chữ, kênh hình, giúp học sinh
nắm được những đặc điểm cơ bản của sông ngòi Việt Nam: Gồm 4 đặc điểm
sau:
Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc.
Sông ngòi nước ta chảy theo 2 hướng chính: Hướng TB-ĐN và hướng vòng
cung.
đới gió mùa
Lượng mưa
trung bình
năm lớn
Mạng lưới
sông ngòi dày
đặc
Hướng các mảng nền cổ và
vận động tần kiển tạo
Hướng núi TB-
ĐN và vòng cung
Sông có hướng chảy
TB-ĐN và vòng
cung
Khí hậu : 2 mùa
Mùa mưa và mùa khô
Sông có chế độ nước theo
mùa lũ và mùa cạn
Địa hình 3/4 là đồi núi có độ
dốc lớn
Mưa lớn và tập trung
Sông có hàm lượng
phù sa lớn
Như vậy với mỗi đặc điểm của sông ngòi, giáo viên có thể gợi mở bằng các
câu hỏi giúp học sinh tìm các nguyên nhân của các đặc điểm đó. Từ đó học sinh
có thể dễ dàng xác lập và xây dựng được sơ đồ các mối quan hệ , đồng thời
nhận biết đó là mối quan hệ thường hay mối quan hệ nhân quả, mối quan hệ đơn
giản hay phức tạp. Trong mỗi bài giảng giáo viên nên luyện cho học sinh thói
quen và kĩ năng xác lập và phân tích các mối quan hệ. Có như vậy sẽ giúp các
em nắm kiến thức được sâu hơn, tránh được những hiểu biết mơ hồ, chung
Qua thực tế giảng dạy và vận dụng đề tài vào trong giảng dạy. Để giúp học
sinh học tốt bộ môn hơn đặc biệt là học sinh biết xác lập và phân tích được các
mối quan hệ trong địa lí, tôi nhận thấy cần chú ý những điểm sau:
* Với giáo viên:
Việc xác lập và phân tích các mối quan hệ trong địa lí, là một yêu cầu cao
với học sinh. Nên để học sinh thực hiện tố yêu cầu này, bên cạnh việc truyền đạt
kiến thức cơ bản, giáo viên phải luôn chú ý rèn luyện các kĩ năng địa lí cho học
sinh đầy đủ và có hệ thống.
Thường xuyên sử dụng các phương tiện dạy học để xác lập và phân tích các
mối quan hệ trong địa lí.
Với mỗi bài học giáo viên phải nghiên cứu kĩ nội dung bài, tài liệu có liên
quan đặc biệt là những nội dung thuộc các mối quan hệ địa lí. Đề ra các phương
án, tình huống giúp học sinh xác lập và phân tích mối quan hệ trong địa lí.
Giáo viên luôn đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm những hình thức hoạt
động học tập mới, sinh động để lôi cuốn học sinh vào các hoạt động học tập.
* Với học sinh:
Học sinh phải nắm thật chắc kiến thức cơ bản của nội dung chương trình
địa lí đã được học ở nhà trường THCS.
Luôn có thái độ tích cực học hỏi, say mê tìm hiểu khoa học địa lí. Tham gia
tích cực trong việc xác lập và phân tích các mối quan hệ địa lí trong các giờ học
trên lớp và theo yêu cầu của giáo viên.
V/ Những vấn đề bỏ ngỏ:
Việc vận dụng xác lập và phân tích các mối quan hệ trong quá trình học tập
địa lí còn một số khó khăn, hạn chế sau:
Qua thực tế giảng dạy có rất nhiều mối quan hệ phức tạp, để học sinh xác
lập và phân tích được các mối quan hệ đó được đầy đủ ,chi tiết sẽ ảnh hưởng
không nhỏ đến thời gian cho việc truyền đạt và tiếp thu kiến thức của các phần
khác trong bài.
Học sinh chưa thật sự tích cực và còn nhiều hạn chế trong việc sử dụng các
phương tiện để xác lập và phân tích các mối quan hệ trong địa lí.