Thực trạng dollar hoá tại Việt Nam - Pdf 24

MỤC LỤC
• Mục lục……………………………………………………………………… 1
• Danh sách nhóm……………………………………………………………..2
• Nhận xét của giáo viên……………………………………………………....2
1. Phần I: vài nét về dollar hoá và thực trạng dollar hoá
tại Việt Nam………………………………………………………………….3
1.1. Khái quát về dollar hoá…………………………………………………3
1.1.1. Khái niệm dollar hoá…………………………………………….3
1.1.2. Phân loại dollar hoá………………………………………………3
1.2. Thực trạng dollar hoá tại Việt Nam…………………………………….6
2. Phần II: nguyên nhân của tình trạng dollar hoá và những ảnh hưởng
của dollar hoá tới nền kinh tế Việt Nam…………………………………..9
2.1. Nguyên nhân của tình trạng dollar hoá……………………………….9
2.1.1. Nguyên nhân sâu xa……………………………………………. 9
2.1.2. Nguyên nhân trực tiếp…………………………………………..9
2.2. Ảnh hưởng của tình trạng dollar hoá tới nền kinh tế Việt Nam…....12
2.2.1. Tác động tích cực……………………………………………….12
2.2.2. Tác động tiêu cực……………………………………………….13
3. Phần III: các quan điểm và kiến nghị…………………………………….16
3.1. Quan điểm của Nhà nước về dollar hoá………………………………16
3.2. Các giải pháp kiến nghị………………………………………………..16
3.2.1. Một số giải pháp được đề xuất…………………………………16
3.2.2. Những hạn chế của các giải pháp đã được đề xuất…………...17
3.2.3. Một số kiến nghị có khả năng thực hiện……………………….19
4. Kết luận……………………………………………………………………..22
1
DANH SÁCH NHÓM
Họ và Tên MSSV Ghi chú
1. Trần Trọng Dinh 10201041
2. Trần Thị Cẩm Tú 10280041
3. Nguỵ Ngọc Trường 10279041

1.1.1. Khái niệm dollar hoá.
Thông thường mỗi quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình, thực hiện đầy đủ
các chức năng tiền tệ, trừ chức năng tiền tệ thế giới mà không phải đồng tiền nào
cũng làm được. Một khi nền kinh tế có tỉ lệ lạm phát cao, sức mua đồng bản tệ
giảm xuống thì người dân phải tìm đến các công cụ dự trữ giá trị khác, trong đó có
các đồng ngoại tệ có uy tín. Song song với chức năng làm phương tiện cất trữ, dần
dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm phương tiện
thanh toán cũng như làm thước đo giá trị.
Như vậy, trong một nền kinh tế, khi ngoại tệ được sử dụng một cách rộng rãi
thay thế cho đồng bản tệ trong toàn bộ hoặc trong một số chức của tiền tệ thì có thể
hiểu nền kinh tế đó bị “ngoại tệ hoá” hay “dollar hoá”. Trên thế giới hiện nay, đồng
USD là đồng tiền được ưa chuộng nhất do nó là một ngoại tệ mạnh có khả năng
chuyển đổi lớn nên thuật ngữ “dollar hoá” được xem là đồng nghĩa với “ngoại tệ
hoá”.
Hiện tượng dollar hoá được biểu hiện ở một số nước có thể xác định qua các
hình thức:
- Đồng dollar được xử dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, trong công chúng
qua các hành vi mua bán hàng hoá, trả phí dịch vụ, thanh toán nợ và tạo lập
tài sản bằng đồng dollar.
- Hệ thống ngân hàng cho xử dụng rộng rãi các loại tiền gửi, tiền tiết kiệm, trái
phiếu ngân hàng bằng đồng dollar và cho vay bằng đồng dollar
1.1.2. Phân loại dollar hoá
Theo IMF, tỉ lệ dollar hoá của một nền kinh tế được căn cứ vào tỉ lệ tiền gửi
ngoại tệ với các ngân hàng so với lượng tiền cung ứng theo nghĩa rộng (M). Theo
cách tính này, IMF cho rằng nếu tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ trên M2 trong một nền kinh
tế lớn hơn 30% thì nền kinh tế đó có thể coi bị dollar hoá cao. Theo đánh giá của
IMF quý I/2010, Việt Nam được xếp vào nước có mức độ “dollar hoá vừa phải”
với tỉ lệ khoảng 16.5%-18%.
3
Về cơ bản, dollar hoá gồm 3 loại chính là: Dollar không hoá chính thức

Dollar hoá không chính thức rất phổ biến ở các nước đang phát triển.
4
VD: Ở thời điểm tháng 1/2000, hầu hết các nước Mĩ_LaTinh và Caribe như
Argentina, Bolivia, Mecico, Peru, Trung Mĩ; hầu hết các nước thuộc Liên Xô cũ
như Armenia, Azerbajian, Georgia, Nga và Ukraine; nhiều nước khác như
Mongolia, Mozambique, Romania, Thổ Nhĩ Kì và Việt Nam đều ở tình trạng dollar
hoá không chính thức.
Dollar hoá bán chính thức: khoảng 12 nước trên thế giới được IMF xếp là các
nước “dollar hoá bán chính thức” hay có hệ thống lưu hành hai đồng tiền. VD:
Bahamas, Cam-pu-chia, Lào, Thái Lan, Liberia. Ở các nước này, đồng ngoại tệ là
đồng lưu hành hợp pháp và thậm chí có thể chiếm ưu thế trong hệ thống tiền gửi
ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và các chi tiêu
hằng ngày. Không giống các nước dollar hoá chính thức, các nước dollar hoá bán
chính thức duy trì Ngân hàng trung ương (NHTƯ) như một cơ quan tiền tệ có
quyền hạng tương ứng để thực hiện các chính sách tiền tệ của họ.
Dollar hoá chính thức: hay còn gọi là dollar hoá hoàn toàn (full dollarization)
xuất hiện khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Nghĩa
là đồng ngoại tệ không chỉ sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư
nhân mà còn là hợp pháp trong các khoản thanh toán của chính phủ. Nếu đồng nội
tệ tồn tại thì nó chỉ là những đồng xu hay những đồng tiền mệnh giá nhỏ. Các nước
thường chỉ áp dụng dollar hoá chính thức khi thất bại trong việc thực thi các
chương trình ổn định kinh tế.
Dollar hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai đồng ngoại tệ
được lưu hành hợp pháp. Tuy nhiên, các nước dollar hoá chính thức thường chỉ
chọn một đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp, chỉ có Andorra dùng cả đồng Franc
của Pháp và đồng Petoza của Tây Ban Nha. Ở hầu hết các nước dollar hoá chính
thức, các đối tác tư nhân được quyền kí kết hợp đồng bằng bất kì đồng ngoại tệ
nào mà họ cùng đồng ý.
Theo IMF, hiện có khoảng 14 nước được xếp là các nước dollar hoá chính
thức.

4
1995 1996 1997 1998 1999 2000
Ngoại tệ 39,2 33,5 31,7 33,2 33,6 39,1 45,3
VND 60,8 66,5 68,3 66,8 66,4 60,9 54,7
Tổng 100 100 100 100 100 100 100
Đơn vị: %
(số liệu đến hết tháng 9 năm 2001)
[Nguồn: báo cáo thường niên của ngân hàng nhà nước năm 1999 và thời báo ngân
hàng năm 2000.]
Sự phát triển của nền kinh tế làm cho quan hệ thương mại giữa Việt Nam ngày
càng đa dạng và mở rộng. Để thanh toán cho các hoạt động buôn bán, các bên xuất
6
- nhập khẩu có thể sử dụng bất cứ đồng tiền của một quốc gia nào đó theo thoả
thuận, thông thường là các đồng tiền mạnh. Nghiệp vụ cho vay ngoại tệ của NH
nhờ đó mà tăng hơn.
Cơ cấu cho vay ngoại tệ trong tổng dư nợ của hệ thống Ngân hàng
Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Ngoại tệ 38,6 38,7 36,6 31,2 25,2 22,6 18,6
VND 61,4 61,3 63,4 68,8 74,8 77,4 81,4
Tổng 100 100 100 100 100 100 100
Đơn vị: %
(Số liệu tính đến hết tháng 10/2000)
[Nguồn: tạp chí NH năm 2000, TTXVN.]
Trên cơ sở lý thuyết và xu hướng chung của nền kinh tế dollar hoá, các ngân
hàng cho vay bằng ngoại tệ nhiều hơn nên rủi ro phá giá cao hơn. Nhưng thực tế
cho thấy vay ngoại tệ của hệ thống NH Việt Nam đến năm 2000 chiếm chưa đến
20% tổng dư nợ đối với nền kinh tế của hệ thống NH. Như vậy, những biểu hiện
của hiện tượng dollar hoá ở nước ta chỉ diễn ra mạnh mẽ ở trạng thái dollar hoá
tiền gửi.
Thứ hai: Các ngân hàng thương mại (NHTM) có khối lượng USD lớn ở các

nghĩa trở lên hấp dẫn hơn.
Thứ tư: Đồng USD được lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam một cách tương đối
phổ biến. USD được sử dụng để biểu hiện giá trị và đo lường giá trị của các hàng
hoá dịch vụ. Giá cả hàng hoá được công khai ấn định bằng USD và được đăng tải
trên các thông tin và giá cả thị trường.
Thứ năm: Việc sử dụng USD đã nhiễm vào Việt Nam và trở thành như một tập
tục trong các hoạt động mua bán, thanh toán sinh hoạt với những tên gọi rất đơn
giản về đơn vị tiền tệ (100USD = 1 tờ = 1 vé). Hiện tượng này có thể thấy rõ trong
những năm gần đây cùng với sự phát triển của các ngành dịch vụ. Song song với
việc tồn tại thanh toán bằng VND thì ở các nhà hàng, khách sạn, siêu thị, khách
hàng kể cả người dân trong nước hay người nước ngoài đề có thể dễ dàng thanh
toán bằng USD. Hiện tượng sử dụng USD đã xâm nhập vào mọi hoạt động của
người dân Viêt Nam, từ việc mua kinh kiện máy vi tính cho đến phương tiện đi lại
đều có thể dễ dàng giao dịch bằng USD.
Ngoài ra, USD còn là phương tiện cất trữ thuận tiện, tổng hợp với các hoạt
động kinh tế ngầm nhất là với các tổ chức buôn lậu.
Phần II: NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH TRẠNG DOLLAR HOÁ
VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA DOLLAR HOÁ
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status