Bộ đề cương thảo luận đường lối DCS VN - cô Thắm – DAI HOC
THUONG MAI Thuongmai. org
CHƯƠNG I: SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN
CỦA ĐẢNG.
1.1. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc với việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
1.2. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
CHƯƠNG II: ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930- 1945)
2.1. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng (1939- 1945).
2.2 Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
CHƯƠNG III: ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC
(1945- 1975)
3.1. Phương châm kháng chiến toàn dân
3.2. Phương châm kháng chiến toàn diện
3.3. Đảng ta đã vận dụng quan điểm toàn dân, toàn diện này như thế nào trong công cuộc đổi mới
hiện nay.
CHƯƠNG IV: ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA
4.1. Mô hình CNH- HĐH trước thời kì đổi mới ở nước ta.
4.2 Đặc trưng chủ yếu của CNH thời kì trước đổi mới.
4.3 Phân tích lợi thế của nước ta trong phát triển CNH thời kì đổi mới
4.4. Nguồn nhân lực
4.5. Khoa học kĩ thuật.
4.6. Kinh tế tri thức.
4.7. CNH gắn với HĐH .
CHƯƠNG V: ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA.
5.1. Tính tất yếu khách quan của phát triển kinh tế thị trường
5.2. Ưu điểm, hạn chế của KTTT
5.3. Mâu thuẫn cơ bản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung với đặc trưng của kinh tế thị trường
5.4. KTTT theo ĐHXHCNVN
5.5. Vai trò của thành phần kinh tế nhà nước hiện nay.
5.6. Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kì đổi mới
Đàn tỉnh Nghệ An. Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước
- Sự lựa chọn con đường cứu nước
+ ngày 5/6/1911 – Bác Hồ với tên gọi Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồngđi sang các
nước phương tây tìm đường cứu nước.
+Năm 1917, thắng lợi cách mạng tháng 10 Nga, từ Anh Người trở về Pháp
+Năm1919,Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc. 18/6/1919, Các nước Đế quốc thắng trận họp hội
nghị Vecxai để chia lại thịtrường thế giới. Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu
nước sống ởPháp đã đưa tới hội nghị bản yêu sách 8 điểm đòi chính phủ Pháp phải thừa
nhậncác quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
+Tháng 7/1920 Người đọc bản sơ thảo những luận cương về vấn đề dân tộc thuộc địa của Lê-nin-
> “muốn cứu nước không có con đường nào khác là con đường cách mạng vô sản”
+ Từ năm 1921 ,Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác ,Lê-nin thông qua những bài báo: Người
cùng khổ, Đời sống công nhân
+Năm 1923 : Sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân, sau đó làm việc ở Quốc tếCộng sản
+ Tháng 11/1924, Người đi Quảng Châu Trung Quốc , thành lập “hội liên hiệp các dân tộc bị áp
bức”
+ Tháng 6/1925, Người thành lập “hội Việt Nam cách mạng thanh niên”
+Năm 1927, Người xuất bản Đường cách mệnh- tác phẩm chỉ rõ tính chất và nhiệm vụ CM Việt
Nam
- Từ 6/1- 7/2/1930 Người chủ trì hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng dẫn đến sự thống nhất ba
Đảng: Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đong Dương Cộn sản Liên đoàn
thành một đảng duy nhất có tên là Đảng cộng sản Việt Nam.
è NAQ có vai trò to lớn trong việc thành lập ĐCS Việt Nam- tạo một bước ngoặt lớn cho CMVN.
1.2. Cương lĩnh chính trị tháng 2 của Đảng.
a/ Nội dung.
·.Bối cảnh lịch sử:Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 các ptrào yêu nước trước đều lần lượt thất bại ,
vượt qua những hạn chế của những sĩ phu yêu nước lâm thời NAQ quyết trí ra đi tìm đường cứu
nước.Trải qua qúa trình bôn ba khắp các châu lục để tìm đường cứu nước NAQ đã đến với CN
Mác.lênin và tìm được cho dân tộc VN con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường độc lập
dân tộc gắn với CNXH con đường CM vô sản .Sau 1 thời gian chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư
b/ Ý nghĩa.
- Cương lĩnh thể hiện rõ sự vận dụng và phát triển sáng tạo nguyên lý chủ nghĩa Mác, Leenin và
điều kiện cụ thể ở VN. Giải phóng được những vẫn đề cơ bản của CMVN.
- Là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển của thời
đại. Xác định được những mâu thuẫn cơ bản ở VN, xác định được chiến lược , lực lượng cách
mạng , nhiệm vụ hàng đầu của dân tộc là chống đế quốc, giải phóng dân tộc
- Khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSVN.
CHƯƠNG II: ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930- 1945)
2.1 SỰ CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG
Câu 1. Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
· Tình hình thế giới
- Chiến tranh thế giới(CTTG) thứ hai bùng nổ. Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, hai
ngày sau Anh và Pháp tuyên chiến với Đức, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Tháng 6-1940
Đức tấn công Pháp, chính phủ Pháp đầu hàng Đức. Ngày 22-6- 1941, sau khi thôn tính hầu hết tây
Âu và đông Âu, phát xít Đức với 190 sư đoàn đã tấn công Liên Xô. Ngày 8-12-1941, Nhật bất ngờ
tấn công cảng Trân Châu ở quần đảo Haoai( Mỹ), đồng thời mở rộng chiếm đóng Trung Quốc và
tiến xuống Đông Nam Á.
· Tình hình trong nước
Chiến tranh thế giới thứ hai đã tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến Đông Dương và Việt Nam. Ở
Việt Nam và Đông Dương thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất dã man.
- Ngày 28/9/1939 Toàn quyền Đông Dương ra nghị quyết cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu
hành, tang trữ tài liệu cộng sản, đóng cửa các tờ báo
- Một số quyền tự do, dân chủ đã giành được trong thời kì (1936-1939) bị thủ tiêu, ban bố lệnh
tổng động viên, thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy để tăng cường vơ vét sức người và của để
phục vụ chiến tranh đế quốc, hơn 7 vạn thanh niên bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn
Lợi dụng Pháp thua Đức, ngày 22/9/1940 phát xít Nhật đã tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải
Phòng. Ngày 23/9/1940 tại Hà Nội, Pháp đã kí hiệp định đầu hàng Nhật, nhân dân ta chịu cảnh
“một cổ hai tròng” áp bức bóc lột của cả Nhật và Pháp. Mâu thuẫn dân tộc và ta đế quốc, phát xít
Pháp- Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Câu 2. Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng
gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng
không đòi lại được”.
· Giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của đế quốc Pháp là điều kiện để giải phóng giai cấp, có
giải quyết được vấn đề dân tộc thì mới có thể giải quyết được vấn đề giai cấp.
· Có xác định đúng được nhiệm vụ mới đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân ta, thu hút lực
lượng cho cách mạng.
Giải quyết được mâu thuẫn gay gắt nhất trong xã hội –mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và thực
dân Pháp, giúp nhân dân ta thoát khỏi ách áp bức bóc lột, được tự do, sống trong một nước độc
lập. Chính vì vậy, thu phục lòng dân để thu hút lực lượng làm cho lực lượng Cách Mạng trở nên
lớn mạnh, toàn dân đồng lòng đứng lên chống thực dân cứu nước là việc vô cùng quan trọng.
Câu 4. Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng.
- Xác định đúng được mục tiêu và đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược để giải
quyết mục tiêu số một của cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương đứng đắn để
thực hiện mục tiêu ấy. Đã xác định đúng “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết
thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi
lúc nước sôi lửa bỏng”.
- Tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước trong mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng
chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ cách mạng và lực lượng
vũ trang.
- Là ngọn cờ dẫn đường cho nhân dân ta tiến lên dành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi
Nhật dành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.
- Từ sự chuyển hướng chỉ đạo đúng đắn Đảng đã chỉ đạo cho quần chúng cách mạng, từng bước
tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thành lập Việt Nam giải phóng quân, thành lập
các chiến khu và căn cứ địa cách mạng, từ đó cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng
quần chúng vùng lên đấu tranh dành chính quyền.
2.2 CHỦ TRƯƠNG PHÁT ĐỘNG TÔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
Câu 1: Nội dung của chủ trương “ Phát động phong trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi
nghĩa từng phần”.
Phát động phong trào kháng Nhật cứu nước
Cuối 1944- đầu 1945, chiến tranh TG thứ 2 bước vào giai đoạn kết thúc với phần thắng hòa toàn
từ từng phần đến tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước?
Dựa trên 2 cơ sở:
· Cơ sở lý luận
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-lenin về khởi nghĩa vũ trang: khởi nghĩa vũ trang là nghệ
thuật biết thắng từng bước cho đúng đắn, đánh lui địch từng bước, đánh đổ từng bộ phận, đánh
bại từng mục tiêu, tiến lên dành thắng lợi cuối cùng. Nên chủ trương đánh từng phần, từng bộ
phận rồi mới tiến lên tổng khởi nghĩa toàn phần là có cơ sở khoa học, rất phù hợp.
- Trong lịch sử dựng và giữ nước của ông cha ta cũng đúc kết và khẳng định cần lấy nhỏ thắng
lớn, lấy ít thắng nhiều, từ từng phần mà tiến tới tổng khởi nghĩa sẽ đúng quy luật vân động của
các cuộc chiến tranh.
· Cơ sở thực tiễn
- Địa hình nước ta ¾ là đồi núi hiểm trở, mỗi vùng lại có điều kiện tự nhiên, cơ sở vùng khác biệt
nên ta cần tiến hành cách mạng từng khu, từng miền với phương pháp, cách thức khác nhau
theo kiểu từng phần.
- Tương quan lực lượng giữa ta và địch rất chênh lệch. Tuy phát xít Nhật là kẻ thua trận trong thế
chiến thứ 2 nhưng quân Nhật ở Việt Nam và Đông Dương vẫn rất nhiều, vũ khí hiện đại trong khi
lực lượng của ta mới thành lập, còn non kém, chưa được rèn luyên nhiều và vũ khí trang bị thô
sơ.
- Khởi nghĩa từng phần để mọi miền, mọi vùng đều có các lực lượng vừa biết sản xuất đồng thời
đều được tập luyện thao lược cách chiến đấu.
- Không tập trung khởi nghĩa toàn bộ ngay để ta có thời gian rèn luyện, tránh sự tập kích tàn phá
của địch vào cơ quan đầu não cách mạng.
- Với mỗi khu, địch lại phân bố thế và lực khác nhau nên cần có các cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ từng
phần để tiêu hao, hao mòn từng chút, từng bộ phận sinh lực địch.
Câu 3 Trong chỉ thị kháng chiến kiến quốc của Đảng ngày 25-11-1945, Đảng đã xác định những
nhiệm vụ nào? Nhiệm vụ nào quan trọng nhất? Tại sao?
Có 4 nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách khẩn trương thực hiện:
· Một là, củng cố và xây dựng chính quyền.
· Hai là, chống thực dân Pháp xâm lược.
· Ba là, bài trừ nội phản.
Tháng 12/1946: Pháp đòi quyền kiểm soát an ninh; trật tự tại thủ đô Hà Nội
Cao trào là ngày 18,19 tháng 12 năm 1946, chúng gửi tối hậu thư cho chính phủ ta đe dọa đảo
chính thì chúng ta không thể nhân nhượng thêm nữa.
Đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quốc bước vào cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Phương châm kháng chiến toàn dân và phương châm kháng chiến toàn diện nằm trong phương
châm tiến hành kháng chiến của đường lối toàn quốc kháng chiến của Đảng. Đường lối kháng
chiến toàn quốc của Đảng được thể hiện tập trung trong ba văn kiện lớn được soạn thảo và công
bố ngay trước và sau ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Đó là văn kiện Toàn dân kháng
chiến của của Trung ương Đảng (12/12/1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh
(19/12/1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh
· Phương châm tiến hành kháng chiến
3.1. Phương châm kháng chiến toàn dân
Định nghĩa khái niệm
Kháng chiến toàn dân là cuộc kháng chiến phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
toàn dân cùng đứng lên kháng chiến, đánh giặc theo khẩu hiệu: “Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì
người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng
lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”.
a. Nội dung
Tại sao phải kháng chiến toàn dân?
· Xuất phát từ lí luận Mác – Lênin về vai trò của quần chúng trong lịch sử nói chung, lịch sử đấu
tranh nói riêng. Theo lí luận chủ nghĩa Mác – Lênin, quần chúng là động lực phát triển của cách
mạng, muốn giành thắng lợi phải có đông đảo quần chúng tham gia, do đó phải động viên toàn
dân kháng chiến
· So sánh lực lượng tương quan lúc đầu ta yếu hơn địch về quân sự và kinh tế nhưng ta chiến
đấu về chính nghĩa, mọi người dân đều có tinh thần yêu nước, căm thù giặc. Vì vậy cần huy động
sức mạnh toàn dân củng cố lực lượng, tận dụng được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Như
Bác Hồ đã từng nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
· Tiếp tục kế thừa và phát triển truyền thống dựng nước và giữ nước của ông cha ta. Đó là truyền
thống cả nước chung lòng, toàn dân đánh giặc.
· Xuất phát từ nhiệm vụ kiến quốc cũng được tiến hành một cách toàn diện vì vậy khi tiến hành
kháng chiến chúng ta cũng phải đánh địch toàn diện nhằm phát huy được sực mạnh nội lực của
mình
· Chống lại âm mưu chiến tranh toàn diện và lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của thực dân Pháp.
Đồng thời, kháng chiến toàn diện là điều kiện để thực hiện kháng chiến toàn dân vì sẽ phát huy
được sức mạnh toàn dân.
Đảng ta đã thực hiện kháng chiến toàn diện như thế nào?
Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể
nhân dân, đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc ưu chuộng hòa bình, tự do.
Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và đất đai, thực
hiện du kích chiến tiến lên vận động - chiến, đánh chính quy là “Triệt để dùng du kích, vận động
chiến. Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài… Vừa đánh vừa võ trang thêm, vừa đánh vừa đào
tạo thêm cán bộ.
Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông
nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.
Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân, phong kiến nền văn hóa dân chủ mới theo ba nguyên tắc:
dân tộc, khoa học đại chúng.
Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn, bớt thù, biểu dương thực lực. Liên hiệp với dân tộc Pháp,
chống phản động thực dân Pháp”, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập.
3.3. Vận dụng quan điểm toàn dân, toàn diện của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay:
1, Vận dụng quan điểm toàn dân:
Nhà nước ban hành nhiều chính sách nhằm khơi dậy và phát huy sức sáng tạo của các tầng lớp
nhân dân, chăm lo, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, luôn lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống
nhất của Tổ quốc, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh làm điểm tương
đồng để gắn bó đồng bào trong và ngoài nước. Không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tôn
giáo, tín ngưỡng.
Đảng ta xây dựng sức mạnh quốc phòng dựa trên sức mạnh kết hợp của cả nước, của khối đại
đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Ngày 19/8 hàng năm được chọn làm ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, cùng nhau bảo vệ
lãnh thổ quốc gia, đồng thời khẳng định lãnh thổ quốc gia với các dân tộc khác và tôn trọng chủ
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, trên cơ sở phân tích một cách toàn diện đặc điểm tình hình
trong nước và quốc tế, đại hội IV đã của Đảng đã đề ra đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa: “… Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp
và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công –
nông nghiệp…”
4.2 Đặc trưng của công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới
- Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế kép kín, hướng nội và thiên về phát
triển công ngiệp nặng
- Công nghiệp hóa chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên, đất đai và nguồn
viện trợ củacác nước xã hội chủ nghĩa; chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là nhà nước và các
doanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa được thực hiên thông qua
cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, không tôn trọng các quy luật thị trường
- Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, không quan đến
hiệu quả kinh tế - xã hội
4.3 Phân tích lợi thế của nước ta trong phát triển CNH thời kì đổi mới.
Nước ta có vị trí thuận lợi cho việc phát triển và giao lưu kinh tế. Nằm trên bán đảo Đông Dương
và gần trung tâm của Đông Nam Á, VN là cửa ngõ giao thương của các tuyến vận tải quốc tế, nơi
diễn ra các hoạt động kinh tế sôi nổi và được là khu vực phát triển năng động nhất hiện nay. Hơn
nữa nước ta có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú, là nguồn nguyên liệu phục vụ quá trình
phát triển kinh tế.
Trên thế giới cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển vào trình độ cao, thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế,quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội. Đây là thời cơ thuận lợi
cho phép chúng ta có thể khai thác những yếu tố nguồn lực bên ngoài cũng những nguồn lực
bên trong của đất nước có hiệu quả
Nguồn lao động của nước ta dồi dào, dân số trẻ, lao động lại cần cù, thông minh, khéo léo, nước
ta đang có dân số vàng thuận lợi cho phát triển CNH mà các quốc gia đều muốn có.
Nước ta chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo, nhân dân và Đảng đồng lòng, chính trị ổn định cùng
với những chính sách tạo điều kiện của chính phủ cho các doanh nghiệp nước ngoài nên thu hút
đầu tư từ nước ngoài. Bên cạnh đó cũng phải kể đến sự giúp đỡ đầu tư về cơ sở kĩ thuật và vốn
của các nước bạn.
- Khoa học và công nghệ đang có vai trò to lớn trong việc hình thành nền “kinh tế tri thức” và “xã
hội thông tin” , phát triển hàm lượng trí tuệ cao trong sản xuất, dịch vụ và quản lý ở tất cả các
quốc gia.
b, Thực trạng.
• Những thành tựu:
+ Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển.
+ Khoa học và công nghệ đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội. \
+Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới. Cơ chế tuyển chọn tổ chức, cá
nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN đã bước đầu được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai.
+ Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày càng được nâng
cao.
• Những yếu kém.
+ Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém:
+ Trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu:
+ Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành chính:
+ Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưa chú trọng đúng
mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
+ Thị trường KH&CN chậm phát triển.
4.6: Kinh tế tri thức.
• Khái niệm: Tổ hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa:
“ Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết
định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.”
- Đặc điểm chủ yếu của kinh tế tri thức:
+ Tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, vốn quý nhất, là nguồn lực quan trọng hàng
đầu, quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
+ Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động kinh tế có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng.
Trong đó các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và
công nghệ ngày càng tăng và chiếm đa số.
+ Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh.
+ Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa. Sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành yêu
công nghệ ở Việt Nam so sánh tương quan với các quốc gia trong khu vực là rất thấp
4.7: CNH gắn với HĐH .
a) Khái niệm CNH-HĐH:Công nghiệp hóa;
-theo nghĩa hẹp,CNH là quá trình chuyenr dịch từ kinh tế nông nghiệp (tiền công nghiệp)sang kinh
tế lấy công nghiệp làm chủ đạo,từ chỗ tỉ trọng lao động nông nghiệp chiếm đa số giảm dần và
nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỉ trọng lớn hơn.
-theo nghĩa rộng.CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công
nghiệp,từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp,từ văn minh nông nghiệp sang văn minh
công nghiệp.
Hiện đại hóa:
-là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại.
-đối với các nước phát triển,HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội kinh tế công nghiệp sang xã
hội kinh tế tri thức.
-đối với các nước đang phát triển,HĐH là quá trình đẩy nhanh phát triển để đuổi kịp các nước
phát triển trước mắt là giai đoạn CNH.
CNH gắn với HĐH:theo tinh thần của hội nghị trung ương 7 khóa 7,CNH HĐH là quá trình chuyển
đổi căn bản,toàn diện các hoạt động sản xuất,kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng 1 cách phổ biến sức lao động với công
nghệ,phương tiện và phương pháp tiên tiến,hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến
bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Phải tiến hành CNH gắn với HĐH vì:
+bối cảnh thế giới: từ thế kỷ XVII,XVIII các nước Tây Âu tiến hành CNH khi đó CNH được hiểu là
quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao ddooongj sử dụng máy móc.sự phát triển như vũ
bão của khoa học công nghệ nếu nước ta không kịp thời tiến hành CNH HĐH thì sẽ bị bỏ lại phía
sau.đồng thời nước ta tận dụng được lợi thế của nước phát triển sau,tiếp thu được công nghệ
mà không phải bỏ công sức ra để tìm tòi,phát minh.
+quá trình toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng,số nước bắt đầu chuyển sang nền kinh
tế tri thức yêu cầu nước ta phải bắt kịp xu thế đó.
+bối cảnh trong nước:
• nền kinh tế nông nghiệp nước ta còn lạc hậu,sử dụng công cụ thô sơ,không có sự áp dụng các
hoá. Tại đại hội VI đảng đã chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và thực hiện chuyển
đổi sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Đến đại hội VII đảng ta đã xác định việc
đổi mới cơ chế kinh tế nước ta là một tất yếu khách quan và trên thực trạng diễn ra việc đó tức là
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng
trong lý luận cũng như trong thực tế lãnh đạo của đảng trên mặt trận làm kinh tế. Việc chuyển đổi
trên hoàn toàn đúng đắn. Nó phù hợp với thực tế của nước ta, phù hợp với các qui luật kinh tế và
xu thế của thời đại.
5.2. Ưu điểm, hạn chế của kinh tế thị trường.
* Ưu điểm
Những ưu điểm của nền KTTT được thể hiện bằng sự phát triển kinh tế vượt bậc. Từ sự phát
triển vượt bậc đó khoa học công nghệ cũng có những bước phát triển lớn. Khoa học công nghệ
phát triển từ đó các công cụ sản xuất ngày một phát triển hơn, con người được sản xuất trong
những điều kiện tốt hơn. Năng xuất lao động được nâng cao hơn rất nhiều so với trước. Một nền
kinh tế phát triển đã làm cho mức sống chung của các nước trên toàn thế giới được nâng cao
hơn trước
* Hạn chế
Do quá trình hoạt động sản xuất cần phải khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhưng vì năng suất lao
động cao cộng với việc nhu cầu của người dân ngày càng lớn đã dẫn đến khai thác tài nguyên
thiên nhiên quá mức cho phép, từ đó tài nguyên thiên nhiên đã dần bị cạn kiệt.
Các hoạt động sản xuất chỉ chú ý tới vấn đề sản xuất mà không chú ý tới vấn đề môi trường nên
đã gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng.
Về vấn đề đạo đức, lối sống trong dân thì do mức sống của con người ngày càng được nâng cao,
con người dễ tiếp xúc đối với những loại văn hóa độc hại, ảnh hưởng không tốt đến tình trạng
đạo đức trong dân
5.3. Mâu thuẫn cơ bản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung với đặc trưng của kinh tế thị trường.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong quá trình hình thành và xây
dựng đã phát sinh ra nhiều mâu thuẫn. Có thể mâu thuẫn thúc đẩy nền kinh tế phát triển hoặc kìm
hãm sự phát triển của nền kinh tế đó. Sau đây ta cùng xét trên một số mâu thuẫn cơ bản sau:
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc hậu.
+ Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường , có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận thức
kinh tế thị trường sang coi kinh tế thị trường như một chỉnh thể , là cơ sở kinh tế của sự phát
triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa .
+ Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường nghĩa là chịu sự tác động của các quy luật sản xuất
và lưu thông hàng hóa , thông qua sự biến đổi của giá cả thị trường. + Kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa là tổ chức kỉnh tế vừa dựa trên cơ sở và chịu sự dẫn dắt, chi phối
bởi nguyên tắc và bản chất của xã hội chủa nghĩa, đồng thời nó tuân theo quy luật của kinh tế thị
trường . Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nói đến kinh tế không phải là kinh
tế tự nhiên , tự cấp tự túc, cũng không kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cũng không kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa vì chưa
có đầy đủ các yếu tố xã hội chủ nghĩa.
+ Kế thừa tư duy của Đại hội IX , Đại hội X đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của Định hướng
xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta thể hiện ở 4 tiêu chí là :
-Về mục đích phát triển : mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
nhằm thực hiện mục tiêu chung của đất nước “ dân giàu ,nước mạnh,xã hội công bằng dân chủ,
văn minh”
-Về phương hướng phát triển : phát triển kinh tế nhiều thành phần , trong đó kinh tế Nhà nước
giữ vai trò chủ đạo kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc của nền kinh tế quốc dân.
- Về định hướng xã hội và phân phối : thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng
bước đi và từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát
triển xã hội , văn hóa giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển
con người.
-Về quản lý : phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân , đảm bảo vai trò quản lý điều tiết nền
kinh tế của nhà nước.
5.5. Vai trò của thành phần kinh tế nhà nước hiện nay.
+ Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất , công cụ sắc bén để nhà nước thực hiện chức năng
định hướng , điều tiết và quản lý vĩ mô nền kinh tế.
+ Hoạt động của khu vực nền kinh tế nhà nước là nhằm mở đường , hướng dẫn , hỗ trợ , thúc
+ Khẳng định có 3 chế độ sở hữu ( toàn dân, tập thể, tư nhân ) hình thành 5 thành kinh tế
+ Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo , là lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết và định
hướng nền kinh tế
+ Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân,
kinh tế tư nhân là một trong các động lực của nền kinh tế
-Về định hướng xã hội và phấn phối
+ Lĩnh vực xã hội : kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.
+ Lĩnh vực phân phối : nhiều hình thức phân phối trong đó phân phối theo kết quả lao động , hiệu
quả kinh tê và phúc lợi xã hội là chủ yếu.
+ Về quản lí : phát huy vai trò làm chủ của nhân dân , đảmbảo vai trò quản lý của nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng
CHƯƠNG VI: ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ.
6.1. Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn
thể chính trị xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam…)
Các bộ phận cấu thành nên hệ thống chính trị có vị trí, vai trò, chức năng, và nhiệm vụ riêng
nhưng có mối quan hệ mật thiết, có tác động qua lại với nhau, trong đó Đảng là 1 yếu tố cấu
thành và đồng thời là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị của đất nước.
* Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước:
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng nhiều hình thức khác nhau.
Còn Nhà nước thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng bằng pháp luật và tổ chức thực hiện
đường lối, chính sách trong thực tiễn. Pháp luật của Nhà nước cũng là một phương tiện để Đảng
kiểm tra tính đúng đắn trong đường lối của mình. Mọi đường lối của Đảng phải phù hợp với Hiến
pháp và pháp luật.
*Mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.
Đảng vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận.
Mặt trận có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức, động viên các tầng
lớp nhân dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; có trách
nhiệm tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, trong việc xây
* Đẩy mạnh đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu
phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaTừ thực trạng nền kinh tế thị
trường hiện nay ở nước ta và sự thích ứng quá chậm của hệ thống chính trị, đòi h[i cần đẩy
mạnh hơn nũa việc đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị trên nhiều
phương diện như
- Nền kinh tế thị trường đòi h[i hệ thống chính trị phải thể chế hoá mọi quan hệ kinh tế - xã hội.
- Chuyển đổi từ một nền kinh tế khép kín, kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang một nền kinh tế
thị trường, phân phối theo sức lao động và chủ động hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực
và thế giới.
- Chuyển từ chế độ sở hữu với hai thành phần chủ yếu là kinh tế quốc doanh và tập thể sang đa
dạng hoá các hình thức sở hữu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế tư nhân
ngày càng được tạo điều kiện phát triển mạnh m].
- Củng cố hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị cơ sở ở v^ng miền núi, v^ng sâu, v^ng xa
để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
CHƯƠNG VII: ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ
XÃ HỘI.
7.1. Phân tích nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đã bản sắc dân
tộc.
- Văn hóa phát triển theo sự phát triển, theo thể chế kinh tế, thể chế xã hội và quá trình hội nhập
kinh tế thế giới, quá trình giao lưu văn hóa với các nước khác và sự tiếp nhận tích cực văn hóa,
văn minh nahan laoij nhưng phải giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, tránh bị tha hóa. Biết tiếp thu
có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tọc khác để bắt kịp sự phát triển của
thời đại làm cho nền văn hóa nước ta trở nên phong phú nhưng vẫn đậm đà bản sắc văn hóa dân
tộc, đồng thời loại b[ những cái lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán và lề thói cũ.
- Nền văn hóa tiên tiến có đặc trưng là: yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hôi; thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn, mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc,
vì tự do và phát triển con người; nền văn hóa thể hiện tinh thần dân chủ, xây dựng mối quan hệ
hài hòa giữa con người với cộng đồng, giữa xã hội với tự nhieenn và tiên tiến không chỉ về nội
dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện, công cụ chuyển tải nội
dung.