ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG - Pdf 11

ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG
HỌ VÀ TÊN: NGÔ VĂN HỘI
LỚP H331 – CẦN GIỜ
Câu 1:
*Hoàn cảnh lịch sử thế giới cuối TK19 đầu TK20 :
*Tình hình trong nước :
Ngày 1-9-1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược VN. Đến năm 1897, thực dân P hoàn thành
công cuộc xâm chiếm Bình Định VN và bắt đầu xác lập chế độ cai trị, khai thác thuộc địa ở VN trên
tất cả các lĩnh vực :
. Về chính trị : Điển hình là chính sách “chia để trị”
. Về kinh tế : Thực dân P tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa : lần thứ 1 (1897-1914), lần thứ
2 (1919-1929)
. Về văn hóa : Thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, thực hiện chính sách ngu dân và
ngăn chặn mọi ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ thế giới vào VN.
- Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân P, xã hội VN đã có những biến
chuyển sâu sắc.
. Về tính chất xã hội : từ xã hội phong kiến thành XH thuộc địa nửa phong kiến.
. Về >< cơ bản trong xã hội : nổi bật 2 >< : >< giữa toàn thể dân tộc VN với thực dân P và tay
sau, >< giữa nông dân với địa chủ phong kiến.
. Về cơ cấu giai cấp trong XH : giai cấp cũ (địa chủ phong kiến và nông dân) bị phân hóa; xuất
hiện những giai cấp mới (công nhân, TS và tiểu TS)
- Phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân VN trước 1930 rất sôi nổi nhưng đều thất bại
mặc dù đã được thử nghiệm theo các hệ tư tưởng khác nhau như :
+ Các phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến :
.
* Nguyên nhân các phong trào đấu tranh thất bại :
+ Chưa thấy được tính chất thời đại đã thay đổi sau Cách mạng tháng Mười, mở ra thời đại mới.
+ Chưa thấy được giai cấp lãnh đạo cách mạng đã thay đổi.
+ Chưa thấy được mối quan hệ dân tộc và giai cấp.
+ Chưa thấy được mối quan hệ dân tộc và quốc tế
+ Chưa thấy được bản chất của chủ nghĩa tư bản

kỹ thuật phát triển và những tư tưởng dân chủ tự do để tìm đường cứu dân tộc thoát khỏi ách nô lệ.
Năm 1917, với sự thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười Nga đã mở ra một thời đại mới
trong lịch sử nhân loại, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Đồng thời đã
có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ai Quốc.
Tháng 7-1920, được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo nhân đạo đã giải đáp cho Nguyễn Ai Quốc con đường đấu tranh
giành độc lập cho dân tộc.
Ngày 30-12-1920, Nguyễn Ai Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, sau đó tham
gia thành lập Đảng cộng sản Pháp và trở thành người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự chuyển biến về tư tưởng chính trị của Nguyễn Ai Quốc,
gắn liền tư tưởng yêu nước với lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ
nghĩa Mác – Lê nin. Người quyết định đặt cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản.
Với sự chuẩn bị công phu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về các mặt như : Hoạt động thực tiễn
vừa tích cực nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng trong nước;
trực tiếp chuẩn bị những điều kiện về tư tưởng – chính trị; viết sách báo tập trung lên án chủ nghĩa
thực dân và thực dân Pháp, vạch trần bản chất xâm lược phản động, bóc lột đàn áp nhằm đánh thức
lòng yêu nước, ý chí phản kháng của dân tộc. Đặt biệt Người nghiên cứu lý luận Mác – Lê nin và
phát triển thêm để trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động, là cơ sở để hoạch định
đường lối cho Đảng sau này. Trong đó quan điểm cách mạng của Nguyễn Ai Quốc còn được thể hiện
qua :
- Chuẩn bị lực lượng cách mạng : Giai cấp công-nông là chủ yếu.
- Mục tiêu của cách mạng là quyền lực phải về tay nhân dân.
- Đảng phải có Đảng cộng sản lãnh đạo và phải lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin làm hệ tư tưởng.
- Thực hiện đoàn kết quốc tế, liên minh quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cách mạng
thế giới.
- Cùng với một số nhà cách mạng trong và ngoài nước, Người đã thành lập : Hội Liên hiệp các
dân tộc thuộc địa, Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, Hội Việt Nam thanh niên CM,…
đồng thời trực tiếp chuẩn bị về chính trị tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập chính đảng vô sản ở
Việt Nam dẫn đến sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản : Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929), An Nam

là cẩm nang có giá trị nhất, là ngọn đuốc soi đường để Đảng và nhân dân Việt Nam tiến hành công tác
xây dựng Đảng trong điều kiện mới.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng
Cộng sản, nhất là về Đảng Cộng sản cầm quyền luôn luôn là chỉ dẫn quý báu để Đảng và nhân dân
Việt Nam tiến hành công tác xây dựng Đảng, để Đảng có đủ khả năng đưa đất nước Việt Nam đến
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã
hội.
Câu 3: CMT8 – 1945 có phải là “cánh cửa
chính trị khép hờ” không hay là khoa học
và nghệ thuật “chớp thời cơ” trong lãnh
đạo tổng khởi nghĩa của Đảng ta? Bằng sự
hiểu biết về LSĐ CSVN, anh ( chị )hãy cho
biết nhận định nào là đúng hay sai?
- CMT8 – 1945 là khoa học và nghệ thuật “Chớp thời cơ” trong lãnh đạo tổng khởi nghĩa của
Đảng ta.
- Nhận định Cách mạng tháng 8 thành công là một quá trình chuẩn bị của Đảng ta.
- Cương lĩnh chính trị đầu tiên ra đời đúng đắn phù hợp và điều đó minh chứng qua :
. Cao trào cách mạng 1936-1939 (đây được xem là cuộc tổng diễn tập đầu tiên chuẩn bị cho
CMT8-1945)
. Cao trào cách mạng 1936-1939 (được Đảng xem là cuộc tổng diễn tập lần thứ 2)
. Cao trào cách mạng 1939-1945 là bước chuẩn bị công phu (Hội nghị TW 6 đã đặt vấn đề dân
tộc là cốt lõi, tạm gát thành lập chính phủ Xô Viết để thành lập chính phủ cộng hòa dân chủ vào tháng
9/1945)
+ Hội nghị TW7 (11/1940) đ/c Trường Chinh chủ trì đã đưa đấu tranh vũ trang vào chương
trình nghị sự.
+ Hội nghị TW8 (5/1941) do Nguyễn Ai Quốc chủ trì đã tìm ra con đường khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền mang bản sắc Việt Nam (khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi từng bước tiến tới
giành chính quyền) đã được áp dụng thành công trong cách mạng tháng 8.
Chủ trương của Đảng ngày 12/3/1945 với bản chỉ thị lịch sử : “Nhật – Pháp bắn nhau và hành
động của chúng ta”

cấp cũng được thành lập. Quốc Hội ban hành hiến pháp, pháp luật.
 Việt Nam giải phóng quân được củng cố và phát triển sau đó đổi tên thành vệ quốc đoàn (9/1945)
và đến tháng 5/1946 đổi thành Quân đội quốc gia Việt Nam.
Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cử đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Khẳng định lòng ủng hộ son sắc của cả dân tộc đối với Đảng và Chính phủ cách mạng
trước những âm mưu chia rẽ của bọn đế quốc và tay sai. Trên đây là những điều kiện ban đầu để Đảng
và Nhà nước vượt qua được tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” lúc bấy giờ.
Giải quyết khó khăn về đối nội
 Diệt giặc đói:
 Biện pháp trước mắt: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào lập “hũ gạo tiết kiệm”, không
dùng gạo, ngô nấu rượu để đem cứu dân nghèo. Tổ chức “ngày đồng tâm”, thực hiện “nhường cơm sẽ
áo” để cứu đói
 Biện pháp lâu dài: Phát động phong trào thi đua tăng gia sản xuất với khẩu hiệu: “không một tất đất
bỏ hoang”, “tấc đất tấc vàng” Củng cố đê điều, Chia ruộng cho dân cày nghèo, giảm tô 25%, bãi bỏ
thuế thân và các thứ thuế vô lý khác.
Kết quả: Đến cuối năm 1946, nền nông nghiệp được phục hồi, sản lượng lương thực tăng lên và
nạn đói được đẩy lùi.
 Diệt giặc dốt: Ngày 08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân
học vụ và kêu gọi nhân dân tham gia xóa nạn mù chữ. Đến đầu tháng 3/1946, ở Bắc bộ và Bắc Trung
bộ có gần 3 vạn lớp học với 81 vạn học viên, các trường tiểu học, trung học phát triển mạnh.
 Giải quyết khó khăn về tài chính: Chính phủ đã thành lập quỹ độc lập, phát động tuần lễ vàng để
kêu gọi nhân dân tự nguyện đóng góp giúp Chính phủ.

Giải quyết khó khăn về đối ngoại:
Trong giai đoạn trước ngày 28/2/1946
 Nhân dân Nam Bộ kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược:Ngay sau khi Nhật đầu hàng
Đồng minh, chính phủ Pháp đã có kế hoạch tái chiếm Đông Dương. Ngày 2/9/1945, thực dân Pháp đã
xảsúng vào nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn đang tham dự mit-tinh mừng ngày độc lập. Ngày 6/9/1945,
quân Anh đến Sài Gòn và đã thả hết quân Pháp bị Nhật bắt giam trước đó; trang bị vũ khí cho chúng
và tiến hành chiếm đóng nhiều nơi. Đêm 22 rạng ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công trụ

Nghị viện, quân đội và Tài chính riêng nằm trong khối Liên Hiệp Pháp.
 Chính phủ Việt Nam thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay Tưởng, và số quân này sẽ rút
dần trong thời hạn 5 năm.
 Hai bên thực hiện ngừng bắn ngay ở Nam Bộ; Tạo điều thuận lợi cho việc mở cuộc đàm phán ở Paris.
Hiệp định sơ bộ đã đẩy được 20 vạn quân Tưởng và tay sai ra khỏi miền Bắc, tạo ra được một
giai đoạn hòa bình để củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với thực
dân Pháp
Ký tạm ước 14/9/1946
Ta tranh thủ điều kiện hòa bình để ra sức củng cố, xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt,
chuẩn bị để đối phó với thực dân Pháp. Thực dân Pháp liên tiếp vi phạm Hiệp định: Gây xung đột ở
Nam Bộ, tìm cách trì hoãn và phá hoại các cuộc đàm phán, làm cho cuộc đàm phán ở Phông-ten-nơ-
blô giữa hai Chính phủ bị thất bại. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh đến gần. Trước tình hình đó, ngày
14/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp một bản Tạm ước, tiếp tục nhượng bộ
một số quyền lợi ở Việt Nam cho Pháp để kéo dài thời gian hòa hoãn nhằm củng cố và xây dựng lực
lượng.
Nội dung bản Tạm ước gồm những điểm chủ yếu như sau: Chính phủ Việt Nam và Chính phủ
Pháp cam kết tiếp tục chính sách hợp tác như Hiệp định Sơ bộ đã nêu, tiếp tục cuộc đàm phán sẽ được
triển khai chậm nhất vào tháng Giêng 1947.
 Chính phủ Việt Nam bảo đảm các quyền tự do dân chủ, quyền lợi kinh tế - văn hoá của người Pháp ở
Việt Nam.
 Chính phủ Pháp sẽ đình chỉ xung đột ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho
nhân dân.
 Việt Nam và Pháp thả hết tù chính trị, chấm dứt tuyên truyền không thân thiện.
 Việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ do hai bên quy định thời gian và cách thức.
Tạm ước 14-9-1946 là sự nhân nhượng cuối cùng của ta nhằm cứu vãn tình thế hết sức khó khăn
của đất nước lúc bấy giờ. Ngày 20-10-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Tổ quốc trong sự chờ đón
đầy tin tưởng của toàn dân ta. Cuộc hành trình ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên đất Pháp tuy chưa giải quyết được mục tiêu cơ bản của
cuộc đàm phán, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp và nhân dân thế giới hiểu rõ hơn vấn đề Việt Nam,
biểu thị sự đồng tình ủng hộ nền độc lập của Việt Nam.

Mặt trận Việt Minh.
+ Phương châm kháng chiến: toàn dân, toàn diện, kháng chiến trường kỳ, dựa vào sức mình là
chính (tự lực cánh sinh).
+ Lãnh đạo cuộc kháng chiến: Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đoàn thể chính
trị - xã hội.
à Thực tiễn đã chứng minh đường lối kháng chiến là đúng đắn, là nhân tố hàng đầu quyết định
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.
Phân tích:
+ Lý luận: dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê nin.
+ Quy luật và xu thế: kháng chiến toàn dân, đúng quy luật huy động sức mạnh toàn dân tộc,
chiến tranh chính nghĩa nhất định thắng lợi.
+ Tổng kết thực tiễn: kinh nghiệm thực tiễn chống giặc ngoại xâm của cha ông ta (trường kỳ
kháng chiến), lấy ít địch nhiều, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn.
+ Đường lối kháng chiến phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân.
+ Tiếp thu những kinh nghiệm, tinh hoa của thế giới: Liên Xô chiến thắng phát xít Đức, khoa
học - nghệ thuật chiến tranh
+ Kháng chiến toàn diện: tận dụng các nguồn lực về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư
tưởng
3. Quá trình tổ chức, thực hiện đường lối kháng chiến chống Pháp, bổ sung, phát triển, hoàn
thiện đường lối kháng chiến:
4. Liên hệ thực tiễn:
Trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng đã trình bày, cách mạng VN ngày nay thực hiện
cùng lúc 2 nhiệm vụ chiến lược:
+ Xây dựng, phát triển đất nước, đổi mới, mở cửa, hội nhập, phát triển toàn diện.
+ Bảo vệ nền an ninh, quốc phòng, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
(Xem trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng )
Câu 6: Anh (chị) hãy cho biết quá trình
hình thành phát triển và hoàn thiện đường
lối CM miền Nam? Bước ngọăt và những
thắng lợi của cách mạng miền Nam (1954

Chủ trương của Đảng “Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”, giữ thế chiến lực tiến
công; phương châm “2 chân, 3 mũi, 3 vùng” (cả ba mũi chính trị, quân sự và binh vận)
Mỹ – Ngụy dự định thực hiện những mục tiêu của “Chiến tranh đặc biệt” trọng tâm là mục tiêu
“bình định” trong vòng 18 tháng, bắt đầu từ giữa năm 1961 bằng kế hoạch Stalây Tay lo. Đến đầu
năm 1964, khi 18 tháng đã qua, miền Nam vẫn chưa được “bình định”, Mỹ đặt yêu cầu khiêm tốn :
“bình định” miền Nam có trọng điểm trong thời hạn 2 năm bằng kế hoạch Giônxơn – Mác Namara
Đáp ứng yêu cầu của cách mạng từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng,c
hống “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ – Ngụy, ngày 15-2-1961 các lực lượng vũ trang cách mạng thống
nhất thành Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng tiếp sau sự kiện Mặt trận
dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng tiếp sau sự kiện Mặt trận dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời (ngày 20-12-1960) và Trung ương Cục miền Nam Việt Nam
được thành lập (tháng 1-1961) thay cho Xứ ủy Nam Bộ cũ.
Đông – Xuân 1964-1965, Quân giải phóng mở chiến dịch tiến công địch ở miền Đông Nam Bộ
với trận mở màn chiến thắng ở Bình Giã (ngày 2-12-1964), làm phá sản về cơ bản chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” của Mỹ.
3. Đánh thắng Chiến tranh cục bộ 1965-1968 :
“Chiến tranh đặc biệt” thất bại để cứu vãn chính quyền Ngụy của Mỹ ở miền Nam : Mỹ đem
quân tới để thực hiện mục tiêu “Bình định và tìm diệt”
Mỹ đưa quân ồ ạt vào Miền Nam với 54 vạn quân Mỹ và 7,2 vạn quân chư hầu và tăng cường
chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Đường lối của Đảng: Với tình hình trên Đảng ta đã kịp thời nhận định và đưa ra phương châm,
chỉ đạo chiến lược tại hội nghị Trung Ương lần thứ 11,12 khóa III: Mỹ đưa quân vào Miền Nam
nhưng lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn, vì thế cược kháng chiến vẫn giữ
vững và phát triển chiến lược tiến công.
Mỹ thua đầu tiên ở Núi Thành – Quảng Nam và rút vào Đà Nẵng. Mỹ đánh phá Miền Bắc ,
chiến tranh lan ra cả nước, năm 1965 cả nước chống Mỹ cứu nước.
Đến đây Đảng nhận định: Giữ thế chiến lược, trường kì, tranh thủ sự giúp đỡ của Quốc tế với
phương châm chỉ đạo chiến lược với 3 mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận: vận động con em
binh lính quay đầu chống Mỹ, cả nước, thế giới giúp nhân dân ta. Chủ trương của Đảng thể hiện quyết
tâm cao (1965) tạo sự đồng thuận của cả nước, cả thế giới giúp nhân dân ta.

mạng trong tình hình mới tiếp tục đưa cách mạng miền Nam tiến lên.
Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975 lần lượt với các chiến dịch Tây Nguyên, Huế, Đà
Nẵng và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng hoàn toàn miền Nam vào lúc 11giờ 30 ngày
30/4/1975 cờ chiến thắng đã cắm trên Dinh Độc Lập. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc
thắng lợi.
Câu 7: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV (12/1976) khẳng định “không thể nào
có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến
chống Mỹ cứu nước nếu không có miền
Bắc XHCN…” Bằng kiến thức Lịch sử
Đảng hãy phân tích và chứng minh làm rõ
khẳng định trên. Liên hệ và vận dụng
những bài học kinh nghiệm của thời kỳ
* Hoàn cảnh lịch sử:
Thế giới: tình hình thế giới có nhiều thuận lợi nhưng cũng hết sức khó khăn. CNXH ngày
càng đc củng cố, phát triển mạnh mẽ đối với cách mạng thế giới.
Trong nước: sau chiến thắng ĐBP (5/1954) đất nước ta bị chia cắt thành 2 miền. Miền Bắc tiến
lên xây dựng CM XHCN, miền Nam tiến lên Cm DT DC ND, giải phóng miền nam thồng nhất đất
nước.
* Vai trò của miền Bắc trong việc xây dựng CNXH
Tại ĐH III của Đảng (9/1960) xác định đường lối xây dựng CNXH ở miền Bắc là: đưa miền
này trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH. Để thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đó phải sử
dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản. Thực hiện cải tạo,
xây dựng nền kinh tế XHCN, phải tiến hành CNH, coi CNH là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời ký
quá độ lên CNXH. Tiến hành cuộc CM XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Miền Bắc tiến lên
CNXH trong điều kiện đất nước có chiến tranh, phải vừa xây dựng CNXH, vừa chống chiến tranh
phá hoại của đế quốc Mỹ và làm tròn nghĩa vụ hậu phương cho tiến tuyến miền nam trong cuộc kháng
chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Trước tình hình đó Đảng ta đã xác định nhiệm vụ của miền Bắc lúc này là phải chuyển hướng
về tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng cho tình

và bảo vệ tổ quốc, Đảng đã có những chủ trương đường lối hết sức phù hợp lòng dân và khiến họ toàn
tâm toàn ý cho sự nghiệp chung của cả dân tộc. Để có được thành quả đó là do Đảng luôn giữ vững
tình độc lập dân chủ, linh hoạt sáng tạo trong việc xác định đường lối cách mạng. Có nhận thức đúng
đắn lý luận CN Mac – Le6nin về thời kì quá độ lên CNXH và vận dụng một cách sáng tạo khi áp dụng
thực tế vào thực tế miền Bắc.
* Liên hệ thực tiễn:
Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo để tiếp tục tiến hành thắng
lợi công cuộc đổi mới và phát triển đất nước trước sự tác động phức tạp của bối cảnh chính trị, kinh tế,
an ninh quốc tế hiện nay. Đó là điều mà nhân dân ta và bạn bè quốc tế hoàn toàn tin tưởng. Tuy
nhiên, các thế lực thù địch với CNXH thì ra sức phủ nhận điều đó, nhất là vào thời điểm lịch sử hiện
nay.
Tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam hơn 81 năm qua gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam; khoảng thời gian đó đã khẳng định trên thực tế: Đảng ta là đại diện chân chính,
duy nhất của dân tộc mà cho tới nay chưa có tổ chức chính trị nào khác có thể thay thế. Mặc dù vậy,
các thế lực thù địch, cơ hội, bất mãn vẫn tìm mọi cách để phủ định thành tựu lãnh đạo của Đảng đối
với đất nước, nhất là trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Với những luận điệu
cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã lỗi thời và không thể đi liền với tư tưởng Hồ Chí Minh chúng
tập trung xuyên tạc, bài bác chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bởi lẽ, đây là nền tảng tư
tưởng đảm bảo cho sự gắn bó, đồng thuận xã hội, tăng cường lòng tin của nhân dân với Đảng, với chế
độ. Bất chấp những thành tựu to lớn mang tính chất lịch sử của công cuộc đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo, các thế lực thù địch đã tập trung khoét sâu vào những hạn chế, yếu kém trong lãnh
đạo, quản lý và tổ chức điều hành của hệ thống chính trị; công kích vào đường lối đổi mới của Đảng.
Chúng cho rằng: Đảng đã hết vai trò lịch sử; bước sang giai đoạn mới, Đảng không có đủ khả năng để
lãnh đạo; ….Nhiều luận điệu xuyên tạc, kích động xung quanh các vấn đề quan hệ đối ngoại, chủ
quyền lãnh thổ, biển đảo của đất nước đều nhằm gây ra sự hoài nghi giữa nhân dân với Đảng. Trước
thềm Đại hội XI, chúng tăng cường bịa đặt xấu về đời tư, về gia đình của nhiều đồng chí giữ vị trí
trọng trách trong Đảng, gán cho bộ máy trong hệ thống chính trị của Đảng mọi điều xấu xa nhằm hạ
uy tín của Đảng đối với nhân dân Tư tưởng xuyên suốt trong mọi mưu đồ của các thế lực thù địch là
nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được xác nhận trong Điều 4
Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và công khai kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa

hội XI của Đảng là một dấu mốc quan trọng trên con đường tiến lên của dân tộc dưới sự lãnh đạo của
Đảng nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững theo mục tiêu "dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên CNXH. Thông qua quá trình
chuẩn bị và tiến hành Đại hội XI của Đảng còn cho thấy, niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam
không chỉ trong hầu hết mọi người dân trong nước mà còn là tình cảm của đông đảo bạn bè trên thế
giới. Các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp trong Chi bộ Thành phố Păng-tanh qua theo dõi Đại hội XI
của Đảng ta đã bày tỏ: Trong thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đã đánh thắng mọi kẻ thù thực dân, đế quốc sừng sỏ, giành độc lập dân tộc. Ngày nay, Đảng
Cộng sản Việt Nam lại tiếp tục lãnh đạo đất nước quyết tâm xây dựng thành công CNXH. Bài học
thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi lãnh đạo nhân dân giành chính quyền và giành độc
lập dân tộc cũng như trong thời kỳ đổi mới là những kinh nghiệm vô cùng quý báu để các Đảng Cộng
sản, các đảng cánh tả tiến bộ trên toàn thế giới học hỏi. Ông Y-a-xư-ô Ôga-ta, Phó chủ tịch Đảng
Cộng sản Nhật Bản, khẳng định: vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính quyết định trong
việc lãnh đạo đất nước để đạt được các thành tựu phát triển kinh tế-xã hội. Ông Hoóc-hê Crây-nết, Bí
thư phụ trách quan hệ Quốc tế của Đảng Cộng sản Ác-hen-ti-na, đánh giá: con đường xây dựng
CNXH tại Việt Nam là tấm gương sáng và công cuộc đổi mới tại Việt Nam là nguồn cổ vũ cho cuộc
đấu tranh vì CNXH tại Mỹ La-tinh
Những gì đang diễn ra trong đời sống xã hội và qua thái độ của hầu khắp mọi người dân và bạn bè
quốc tế qua Đại hội Đảng lần thứ XI đã cho thấy, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cả
trong quá khứ và hiện tại đã được thực tế lịch sử và nhân dân Việt Nam xác nhận. Điều đó không phải
tự nhiên có được từ ý muốn chủ quan của Đảng hay từ sự thiện cảm bột phát, cảm tính của quần chúng
nhân dân và bạn bè quốc tế. Tuy nhiên, để tiếp tục giữ vững được lòng tin và vai trò lãnh đạo đối với
dân tộc trong thời kỳ mới, Đảng phải có sự quyết tâm vượt bậc để vượt qua mọi khó khăn, thách thức;
trong đó, tập trung khắc phục sự hạn chế, yếu kém, bất cập về phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán
bộ, đảng viên, trước hết là chủ động phòng ngừa sự "tự diễn biến" trong nội bộ; khắc phục sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; giữ gìn sự đoàn kết,
thống nhất trong Đảng để xứng đáng với trọng trách lịch sử đã được nhân dân giao phó.
Câu 8: Anh (chị) hãy cho biết các bước
đột phá tìm tòi đường lối đổi mới và sự
phát triển nhận thức của Đảng ta về con

Một là: Đổi mới cơ cấu kinh tế, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần.
Hai là: Đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung, hành chính, quan liêu, bao cấp chuyển
sang hoạch toán kinh doanh XHCN.
Ba là: Đổi mới vai trò quản lý điều hành của nhà nước, làm rỏ chức năng quản lý nhà nước về
kinh tế - xã hội.
Bốn là: Đổi mới về kinh tế đối ngoại, mở rộng hợp tác và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Năm là: Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, Đảng LH chặt chẽ với nhân dân,
nắm bắt thực tiển đất nước, nắm và vận dụng đúng quy luật Kq.
Tháng 3/1989 ban chấp hành trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 6 để kiểm điểm công tác đổi
mới trong 2 năm nghị quyết đề ra những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới:
Đổi mới là không phải thay đổi mục tiêu XHCN mà là làm cho mục tiêu đó thực hiện có kết quả
bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, bằng những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp.
Xác định chủ nghĩa Mác Lê-nin là nền tảng tư tưởng của Đảng và chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách
mạng của nhân dân.
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý nhà nước
Xây dựng nền dân chủ XNCH, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, song dân
chủ phải đi đôi với tập trung, với kỹ luật và pháp luật, dân chủ phải có lãnh đạo.
Phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới. Đồng thời nghị
quyết trung ương 6 còn đề ra chủ trương và phương hướng lớn có ý nghĩa như những chính sách và
giải pháp cụ thể. Qua đó khẳng định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là chủ trương lớn
trong suốt thời kỳ quá độ.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) diễn ra trong lúc tình hình trong nước
và quốc tế có những biến động phức tạp, đại hội tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh đường lối đổi mới và
thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và đề ra chiến lược ổn định
kinh tế - xã hội đến năm 2000, đại hội còn nêu ra 6 đặc trưng cơ bản để làm rõ quan niệm về CNXH ở
Việt Nam.
1. Do nhân dân lao động làm chủ
2. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất chủ yếu.
3. Có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) đã tổng kết cách mạng Việt Nam trong thế kỷ
XX, chỉ ra 3 thành tựu to lớn mang ý nghĩa:
1. Thắng lợi cách mạng tháng 8 1945 và việc thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chế độ nửa
phong kiến ở nước ta đã được xóa bỏ, một kỷ nguyên mới mở ra, kỷ nguyên ĐLDT gắn liền với
CNXH.
2. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, đánh thắng thực
dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất tổ quốc, đưa đất
nước đi lên CNXH, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình độc lập
dân chủ dân tộc và cùng tiến bộ xã hội.
3. Thắng lợi trong sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên CNXH. Đảng đã đề ra và
lạnh đạo thực hiện đường lới xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc phù hợp với thực tiễn Vnva 2 bối
cảnh TQ mới.
Đại hội I đã đánh giá tình hình đất nước và những bài học chủ yếu của 15 năm đổi mới, qua 5
năm thực hiện nghị quyết đại học ĐH VIII Đảng và nhân dân đã đạt được những thành tựu quan trọng.
Kinh tế tăng trưởng khá tổng hợp sản phẩm trong nước tăng bình quân 7% năm
Văn hóa xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện.
Tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường.
Công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng được chú trọng, hệ thống chính trị được củng cố
Quan hệ đối ngoại không ngửng được mở rộng, hội nhập kinh tế, quốc tế được tiến hành chủ động
và hiệu quả.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) đề ra nhiện vụ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn
diện để sớm đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng nước nghèo, chậm phát triển.
Đại hội đã tổng kết 20 năm đổi mới, bổ sung và đưa ra 8 đặt trưng cơ bản của CNXH ở Việt Nam.
Làm cho dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Do nhân dân làm chủ
Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lưc lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

lực cách mạng (chính trị + vũ trang) và trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã khéo léo
kết hợp, tùy theo từng giai đoạn lịch sử -> chẳng hạn như giai đoạn 1936 – 1939: trước
tình hình khách quan và chủ quan (nội tình nước Pháp) Đảng cộng sản Việt Nam ->
hình thức đấu tranh hợp pháp – nửa hợp pháp; công khai -> nửa công khai.
Giai đoạn 1939 – 1945: Đảng dùng hình thức -> khởi nghĩa từng phần, giành
thắng lợi từng bước, giành chính quyền cả nước.
Sau 1954: (thời kỳ 1954 – 1945) Đảng chủ trương đấu tranh chính trị giữ vai trò
quyết định.
1956: Đảng chuyển hướng từng bước, kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự.
Để có thể đánh lại chiến tranh đặc biệt, theo hội nghị trung ương 9 -> kết hợp đấu
tranh chính trị quân sự.
Đấu tranh mặt trận ngoại giao
Bên cạnh đó, Đảng còn kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Đồng
thời, Đảng cũng minh chứng -> một số hậu quả (thời kỳ đen tối của cách mạng Việt
Nam: 1954 – 1960).
60.000 đảng viên -> 1959 chỉ còn 5.000 đảng viên.
70% chi ủy viên, 60% huyện ủy viên, 40% tỉnh ủy viên -> bị bắn và giết
12 huyện không còn cơ sở Đảng.
Câu 10: Thắng lợi của CMVN trong
80 năm qua dưới sự lãnh đạo của
Đảng? Nhân tố hàng đầu tạo nên
thắng lợi đó là gì? Ý nghĩa của cuộc
vận động học tập tư tưởng tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây
dựng Đảng ta thật sự trong sạch,
vững mạnh, là đạo đức, là văn minh
hiện nay ở cơ quan đơn vị?
Dưới sự lãnh đạo của Đảng từ 1930 đến nay đã vượt qua khó khăn thử thách, đi từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác.
- 8/1945 nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chấm dứt chế độ thực dân.

- Trong cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa cách mạng và phản cách
mạng, vấn đề trọng tâm, lĩnh vực diễn ra gay gắt nhất, quyết liệt nhất là vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản và công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh có ý nghĩa quyết định
đến việc bảo vệ chế độ chính trị, con đường phát triển của đất nước lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu
"Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
- Tư tưởng xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa soi đường cho Đảng ta xây dựng và
trưởng thành. Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng hiện nay có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn sâu sắc, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, qua đó làm tăng thêm
niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường phát triển của đất nước.
- Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng là sinh hoạt chính trị toàn diện, rộng lớn và sâu
sắc. Việc học tập tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng ta trong sạch, vững
mạnh là dịp để các tổ chức Đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên ôn lại và nâng cao nhận thức lý luận về
xây dựng Đảng, nhìn lại công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ vừa qua, đánh giá đúng những thành
tựu, ưu điểm cũng như những khuyết điểm, hạn chế, nâng cao hơn nữa tinh thần trách nhiệm, ý thức tự
giác, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, góp phần tích cực vào thành công của đại hội Đảng các cấp
và Đại hội XI của Đảng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status