xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư - Pdf 24

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Luật sư
Hoạt động của các luật sư, tổ chức hành nghề luật sư có vai trò tích cực trong việc
nâng cao kiến thức pháp luật cho người dân, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác, góp phần tạo lập
môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh
thương mại. Trong quá trình hoạt động, nhiều tổ chức hành nghề luật sư đã có ý
thức chấp hành các quy định của Luật Luật sư và các quy định có liên quan khác
của pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về luật sư trong thời gian qua
nói chung, công tác thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư nói riêng cho
thấy có địa phương còn chưa quan tâm đúng mức tới quản lý đối với tổ chức và
hoạt động của luật sư, một bộ phận các tổ chức hành nghề luật sư còn có những vi
phạm pháp luật, thậm chí là những vi phạm khá nghiêm trọng cần được chấn
chỉnh, khắc phục kịp thời. Do đó, quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của
luật sư là vấn đề cần được tăng cường trong giai đoạn hiện nay. Thanh tra chuyên
ngành về tổ chức và hoạt động của luật sư là công việc cần thiết, quan trọng để
phục vụ cho yêu cầu quản lý.
Phần I
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Luật sư
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung, trong hoạt
động luật sư nói riêng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật nhằm
góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong hoạt động.
Tuy nhiên, trên thực tế việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động luật
sư vẫn chưa thực sự đi vào đời sống xã hội, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra là
răn đe, phòng ngừa vi phạm để từ đó nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Cho đến
nay, các địa phương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động tư pháp chưa nhiều; cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp còn
rất ít khi thực hiện thẩm quyền đó. Thực tiễn, khi phát hiện hành vi vi phạm hành
chính trong hoạt động luật sư, một số người có thẩm quyền còn nhiều lúng túng khi
vận dụng các quy định của pháp luật để xử phạt. Trong khi đó, ý thức chấp hành
pháp luật của một bộ phận lớn những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong

rằng hành vi vi phạm hành chính phải được pháp luật quy định. Cụ thể trong hoạt
động luật sư, chỉ có những hành vi được quy định từ Điều 23 đến hết Điều 26 của
Nghị định số 60/2009/NĐ-CP mới bị xem xét, xử phạt theo quy định của pháp luật.
Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh
vực tư pháp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cũng bị xử
phạt theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước ta là
thành viên có quy định khác thì thực hiện theo điều ước quốc tế đó.
Một điểm quan trọng, cần lưu ý nữa là những hành vi vi phạm chế độ công vụ
của cán bộ, công chức đang làm nhiệm vụ trong lĩnh vực luật sư, thanh tra viên tư
pháp và những cán bộ, công chức có liên quan khác trong khi thi hành nhiệm vụ
được giao trong lĩnh vực luật sư mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì
bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và không bị xử
phạt như các cá nhân, tổ chức đề cập ở trên.
3. Hành vi vi phạm và hình thức xử phạt
Hành vi vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không phải là tội
phạm, tức là chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó yếu tố có tính chất
quyết định là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm hành chính.
Tương tự như hành vi phạm tội, hành vi vi phạm hành chính cũng là hành vi vi
phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước và thường là phạm vào các
điều cấm của pháp luật, song tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi
phạm hành chính thấp hơn tội phạm. Đồng thời như đã trình bày ở trên, một trong
những nguyên tắc cơ bản của xử lý vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành
chính phải được pháp luật quy định, nói cách khác hành vi nào không được pháp
luật về vi phạm hành chính quy định thì không bị coi là vi phạm hành chính.
Trong hoạt động luật sư, các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử
phạt những hành vi vi phạm hành chính đó đã được quy định cụ thể tại Điều 21
đến Điều 26 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Theo quy định đó, hành vi vi phạm
hành chính trong hoạt động luật sư có áp dụng hình thức xử phạt tiền (thấp nhất là
500.000 đồng và cao nhất là 30.000.000 đồng), hình thức xử phạt bổ sung và biện

“2. Thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
hành pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp
theo quy định của pháp luật, bao gồm: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ
biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; luật sư, chứng thực; hộ tịch; nuôi
con nuôi có yếu tố nước ngoài; quốc tịch; lý lịch tư pháp; luật sư; tư vấn pháp
luật; giám định tư pháp; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; trợ giúp pháp
lý; đăng ký giao dịch bảo đảm; hợp tác với nước ngoài về pháp luật và công tác tư
pháp khác.
3. Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính.”.
2. Thẩm quyền của Thanh tra Sở
- Khoản 2, Điều 28 của Luật Thanh tra quy định nhiệm vụ, quyền hạn của
Thanh tra Sở: “Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành của cơ quan, tổ
chức, các nhân trong lĩnh vực quản lý do sở phụ trách”;
- Khoản 4, Điều 83, Luật Luật sư quy định: Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư
tại địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
"d) Kiểm tra, thanh tra, xử l ý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức,
hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư;".
- Điểm h, khoản 2, Điều 25 của Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày
26/02/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư đã
quy định Sở Tư pháp giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương, có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “Thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo
thẩm quyền hoặc theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xử phạt vi phạm hành chính đối
với luật sư, tổ chức hành nghề luật sư theo thẩm quyền.”;
- Khoản 2, Điều 10 của Nghị định số 74/2006/NĐ-CP ngày 01/8/2006 quy
định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp trong đó quy định nhiệm vụ,

trong lĩnh vực luật sư thì xử lý theo Điều 23 đến Điều 26 của Nghị định
60/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực Tư pháp.
+ Trong quá trình thanh tra, nếu tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm,
theo quy định tại tiểu mục 2.1 của Thông tư liên tịch số
03/2006/TTLT/VKSNDTC-TTrCP-BCA-BQP ngày 23/03/2006 của Viện Kiểm
sát nhân dân Tối cao, Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, trong
thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải chuyển hồ sơ vụ
việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét
khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát
cùng cấp biết.
II. Quy trình thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Luật sư
Quy trình thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực luật sư gồm 03 bước:
+ Chuẩn bị và quyết định thanh tra;
+ Trực tiếp thanh tra;
+ Kết thúc thanh tra.
Bước 1: Chuẩn bị và quyết định thanh tra
Chuẩn bị thanh tra và quyết định thanh tra nhằm thiết lập những nội dung, kế
hoạch để tiến hành thanh tra, bao gồm các công việc sau:
1. Thu thập thông tin và tập hợp, nghiên cứu các văn bản pháp luật có
liên quan
- Thông tin là cơ sở quan trọng để quyết định nội dung và kế hoạch thanh tra,
do vậy khi thu thập thông tin cần nắm toàn diện các thông tin có liên quan đến mục
đích, yêu cầu và đối tượng, sự việc cần thanh tra. Cụ thể, người ra Quyết định
thanh tra chỉ đạo người sẽ được giao làm Trưởng Đoàn thanh tra liên hệ, có buổi
làm việc trước khi thanh tra với Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư và các cá nhân tổ
chức có liên quan khác để nắm thông tin tình hình về các cá nhân, tổ chức hành
nghề luật sư. Số liệu phải thu thập là: có bao nhiêu luật sư, bao nhiêu văn phòng
luật sư, Công ty Luật, tình hình hoạt động, của các cá nhân, tổ chức đó, tổ chức nào
hoạt động có hiệu quả hoặc bị khiếu nại, tố cáo, hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp

3. Ban hành quyết định thanh tra
- Thứ nhất, ra quyết định thanh tra theo chương trình, kế hoạch: Điều 37
của Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 của Chính Phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra đã quy định về quyết định
thanh tra chuyên ngành theo chương trình, kế hoạch:
“1. Căn cứ chương trình, kế hoạch thanh tra đã được Bộ trưởng, Giám đốc sở
phê duyệt, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở ra quyết định thanh tra và
thành lập Đoàn thanh tra để tiến hành thanh tra hoặc phân công Thanh tra viên
chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng,
Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra.
2. Trường hợp Chánh Thanh tra phân công nhiệm vụ cho Thanh tra viên
chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập thì việc phân công phải bằng văn bản,
trong đó nêu rõ phạm vi, nhiệm vụ, thời hạn tiến hành thanh tra.".
+ Với những quy định của pháp luật trên cho thấy chỉ trong trường hợp cần
thiết thì Bộ trưởng, Giám đốc Sở mới trực tiếp ký quyết định thanh tra.
+ Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Sở có thẩm quyền ra quyết định
thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để tiến hành thanh tra hoặc phân công Thanh
tra viên chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ thanh tra theo chương trình, kế hoạch
thanh tra đã được Bộ trưởng, Giám đốc Sở phê duyệt. Ví dụ tại thành phố Hà Nội:
Chánh Thanh tra Sở Tư pháp thành phố Hà Nội hoặc Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp
có thẩm quyền ra quyết định thanh tra về tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực luật
sư bao gồm: Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, phòng nghiệp vụ được Giám đốc Sở
Tư pháp giao quản lý lĩnh vực luật sư, các tổ chức và cá nhân hành nghề luật sư tại
thành phố Hà Nội nếu nội dung thanh tra được Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở Tư
pháp đưa vào chương trình, kế hoạch thanh tra trong năm và đã được Bộ trưởng,
Giám đốc Sở Tư pháp phê duyệt.
- Thứ hai, ra quyết định thanh tra chuyên ngành đột xuất: Khác với căn cứ
và trình tự, thủ tục ban hành quyết định thanh tra chuyên ngành theo chương trình,
kế hoạch, Điều 38 của Nghị định số 41/2005/NĐ-CP quy định việc tiến hành thanh
tra chuyên ngành đột xuất được thực hiện như sau:

tham khảo (Phụ lục 1 kèm theo).
Trong trường hợp cần trưng tập người của đơn vị, phòng ban khác vào làm
thành viên Đoàn thanh tra thì Chánh Thanh tra phải có công văn đề nghị thủ trưởng
đơn vị, phòng ban đó có văn bản cử người tham gia Đoàn thanh tra.
4. Kế hoạch tiến hành thanh tra
- Điểm a, khoản 1, Điều 8, Chương II của Quyết định số 2151/2006/QĐ-
TTCP về Ban hành Quy chế hoạt động Đoàn thanh tra ngày 10/11/2006 quy định:
“Trưởng đoàn thanh tra có nhiệm vụ tổ chức việc xây dựng kế hoạch tiến hành
thanh tra trình Người ra quyết định thanh tra phê duyệt” .
Theo đó, sau khi có quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra (hoặc thanh
tra viên tiến hành thanh tra độc lập) có trách nhiệm xây dựng kế hoạch tiến hành
thanh tra trình người ra quyết định thanh tra phê duyệt.
Kế hoạch tiến hành thanh tra theo mẫu số 22 (Ban hành kèm theo Quyết định
số 1131/2008/QĐ-TTCP), phải gồm những nội dung cơ bản sau:
+ Mục đích, yêu cầu cuộc thanh tra;
+ Nội dung thanh tra, trong đó nêu rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm;
+ Danh sách các cá nhân, tổ chức hành nghề luật sư được thanh tra, thời kỳ
thanh tra, thời hạn thanh tra.
Lập kế hoạch chi tiết cho từng nội dung thanh tra, trong đó nêu rõ: những
công việc cần triển khai, phương pháp tiến hành, nơi cần đến làm việc, thời gian
triển khai, kết thúc; nhân sự Đoàn thanh tra (Trưởng Đoàn, phó Trưởng Đoàn và
các thành viên), Trưởng đoàn thanh tra phân công nhiệm vụ cho tổ, nhóm (nếu có)
và các thành viên Đoàn thanh tra.
Xin tham khảo Kế hoạch thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư tại thành
phố Hồ Chí Minh tại Phụ lục 3 của chuyên đề này.
5. Chuẩn bị triển khai thanh tra
Khi quyết định thanh tra được phát hành, Trưởng Đoàn thanh tra có trách
nhiệm:
Khi quyết định thanh tra được phát hành, Trưởng Đoàn thanh tra có trách
nhiệm:

báo cáo), gửi quyết định thanh tra, kế hoạch thanh tra cho đối tượng thanh tra và
yêu cầu đối tượng thanh tra chuẩn bị những công việc liên quan tới buổi công bố
quyết định thanh tra; nội dung, biểu mẫu yêu cầu đối tượng thanh tra chuẩn bị và
báo cáo Đoàn thanh tra; thành phần dự họp công bố quyết định thanh tra; thời gian,
địa điểm công bố quyết định thanh tra.
Để dễ dàng thực hiện, chúng tôi xin minh họa bằng 02 Công văn của Đoàn
thanh tra dưới đây:
+ Công văn gửi đồng chí Giám đốc Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh và
ông Chủ nhiệm Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 3 kèm theo).
+ Công văn gửi các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật (Phụ lục 4
kèm theo).
- Chuẩn bị phương tiện (ô tô), thiết bị (máy quay phim, máy ghi âm, máy ảnh
kỹ thuật số để chụp được tài liệu), kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết
khác phục vụ cho hoạt động của Đoàn thanh tra.
Bước 2: Tiến hành thanh tra
1. Công bố quyết định thanh tra
Chậm nhất mười lăm ngày kể từ ngày ký quyết định thanh tra, Trưởng Đoàn
thanh tra có trách nhiệm công bố quyết định thanh tra với đối tượng thanh tra.
Thành phần tham dự cuộc họp công bố Quyết định thanh tra gồm: Đoàn thanh
tra, Lãnh đạo Sở Tư pháp, toàn thể công chức Phòng Bổ trợ tư pháp - Sở Tư pháp
và đại diện Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư.
Thực hiện công bố đầy đủ nội dung quyết định thanh tra và nêu rõ mục đích,
yêu cầu, cách thức làm việc, kế hoạch tiến hành thanh tra. Trưởng Đoàn thanh tra
phải giải thích: việc thanh tra là do kế hoạch hay đột xuất, cơ sở pháp lý của việc
tiến hành thanh tra chuyên ngành; nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn thanh tra, thời
hạn thanh tra, địa điểm và phương pháp làm việc của Đoàn thanh tra, quyền và
trách nhiệm của đối tượng thanh tra.
Yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo Đoàn thanh tra những nội dung mà
Trưởng Đoàn thanh tra đã thông báo và những nội dung khác Đoàn thanh tra thấy
cần thiết.

thanh tra. Việc niêm phong, mở niêm phong khai thác tài liệu hoặc huỷ bỏ niêm
phong thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
2.2. Nghiên cứu tại chỗ, phân tích, xem xét, xử lý thông tin và số liệu để
phát hiện những vấn đề có mâu thuẫn; nhận định những việc làm đúng,
những sai phạm, những sơ hở, bất cập của cơ chế, chính sách, chế độ; làm rõ
bản chất, nguyên nhân và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với từng sai
phạm
- Phân tích các báo cáo, tài liệu thu thập được để nhận diện vấn đề, sự việc.
- Đối chiếu số liệu giữa sổ tổng hợp với báo cáo; đối chiếu số liệu giữa sổ chi
tiết với sổ tổng hợp; đối chiếu giữa chứng từ kế toán với việc phản ánh trên sổ kế
toán.
- Kiểm tra, xác định tính hợp pháp, hợp lý của chứng từ kế toán và các tài liệu
có liên quan. Xác định sự phù hợp về trình tự thủ tục của chứng từ kế toán để tìm
ra số liệu tổng doanh thu dịch vụ pháp lý.
- Kiểm tra, xác định tính trung thực của chứng từ, tài liệu:
Xem xét, đối chiếu số lượng hoá đơn, chứng từ kế toán với số lượng hợp đồng
dịch vụ pháp lý để phát hiện số tiền thu không có hợp đồng dịch vụ pháp lý bằng
văn bản theo quy định tại Điều 26 của Luật luật sư (hoặc có thể đối tượng thanh
tra có hợp đồng dịch vụ pháp lý nhưng lại giấu đi vì nhiều lý do khác nhau).
- Trong quá trình thanh tra phát hiện có dấu hiệu sửa chữa, làm giả hoặc
không có đầy đủ các giấy phép hoạt động, chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư
thì Trưởng Đoàn thanh tra ra quyết định niêm phong, tạm giữ, tạm đình chỉ hành vi
sai trái hoặc báo người có thẩm quyền quyết định. Việc kiểm kê, niêm phong, tạm
giữ, tạm đình chỉ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
2.3. Ký bản xác nhận hoặc biên bản làm việc về tình hình, số liệu theo
từng nội dung, sự việc dự kiến kết luận với đối tượng thanh tra
2.4. Đối chiếu tình hình, số liệu đã ký xác nhận, đã thu thập được, các
hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực này
2.5. Củng cố chứng cứ, cơ sở pháp lý để kết luận đúng, sai, nguyên nhân

thì có yêu cầu bằng văn bản.
- Làm việc với người có liên quan: trường hợp có người phản ánh sự việc liên
quan đến nội dung thanh tra, Trưởng Đoàn thanh tra nghiên cứu, đề xuất, báo cáo
người ra quyết định thanh tra có kế hoạch nghe ý kiến phản ánh của người có liên
quan và phải được ghi chép đầy đủ.
2.6. Trưng cầu giám định
Đối với những vấn đề về chuyên môn, kỹ thuật của các lĩnh vực khác nhau
nhưng Đoàn thanh tra không đủ khả năng kết luận về chuyên môn, kỹ thuật đó thì
Trưởng Đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra quyết định trưng cầu
giám định. Việc trưng cầu giám định thực hiện theo quy định của pháp luật.
2.7. Hoàn thiện số liệu, chứng cứ
Sau khi làm rõ nguyên nhân đúng, sai, tiến hành rà soát, hoàn thiện hồ sơ
chứng lý, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ và ký kết với đối tượng thanh tra các
biên bản làm việc hoặc bản xác nhận số liệu còn thiếu.
2.8. Xử phạt vi phạm hành chính
Trong quá trình thanh tra, phát hiện vi phạm hành chính phải xử phạt theo quy
định của pháp luật, thì thanh tra viên hoặc Trưởng Đoàn thanh tra lập biên bản vi
phạm hành chính, ra quyết định xử phạt hành chính hoặc chuyển đến người có
thẩm quyền xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Cơ sở pháp lý để xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật
sư là Điều 21 và Điều 22 của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP. Tuy nhiên, hiện nay,
do Nghị định số 76/2006/NĐ-CP có nhiều bất cập, nhiều hành vi vi phạm chưa
được quy định nên đang chuẩn bị được thay thế bằng một Nghị định mới, trong đó
chế định này quy định tăng thêm khá nhiều các hành vi vi phạm và được tách làm
04 Điều, bao gồm: nhóm hành vi vi phạm về hồ sơ cấp Chứng chỉ hành nghề luạt
sư; nhóm hành vi vi phạm quy định trong hoạt động hành nghề của luật sư; nhóm
hành vi vi phạm quy định về tổ chức hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư và
nhóm hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước của tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của luật sư. Đồng thời, mức phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung và biện
pháp khắc phục hậu quả.

người ra quyết định và thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp xin ý kiến chỉ đạo.
Bước 3: Kết thúc thanh tra
1. Thực hiện thời hạn thanh tra
Trưởng Đoàn thanh tra tổ chức thanh tra đảm bảo kết thúc thanh tra tại đơn vị
theo đúng thời hạn quy định trong quyết định thanh tra và quyết định gia hạn (nếu
có).
2. Báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra
Chậm nhất mười lăm ngày kể từ ngày kết thúc thanh tra tại đơn vị, Trưởng
Đoàn thanh tra phải có báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra gửi
người ra quyết định thanh tra.
Trong quá trình lập báo cáo và dự thảo kết luận thanh tra, nếu có những vấn
đề còn vướng mắc về xử lý, Trưởng Đoàn chủ động trao đổi, tham khảo ý kiến của
các cơ quan có liên quan để đảm bảo cho việc kết luận được chính xác, khách
quan.

Trích đoạn Báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra Kết luận và lưu hành kết luận thanh tra
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status