ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Văn Hưởng
XÁC ĐỊNH KHÁCH QUAN HÌNH THẾ
THỜI TIẾT TRONG CÁC ĐỢT MƯA LỚN
TRÊN KHU VỰC MIỀN TRUNG TỪ SỐ
LIỆU TÁI PHÂN TÍCH JRA25
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội, năm 2012 3
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
MỞ ĐẦU 12
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MƢA LỚN Ở
VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI. 11
1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới. 14
1.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 18
CHƢƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP 25
2.1. Số liệu. 25
2.2. Phương pháp 29
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH 33
3.1. Phân tích và các hình thế thời tiết ở khu vực Bắc Trung Bộ 34
3.2. Phân tích và các hình thế thời tiết ở khu vực Trung Trung Bộ 46
3.3. Phân tích và các hình thế thời tiết ở khu vực Nam Trung Bộ 56
3.4. Phân tích và các hình thế thời tiết ở khu vực Tây Nguyên 66
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
SE
: đông nam
E
: đông
N
: bắc
ITCZ
: Intertropical Convergence Zone (Dải hội tụ nhiệt đới)
KKL
: Không khí lạnh
ATNĐ
: Áp thấp nhiệt đới
EOF
:Empirical Orthogonal Function – Hàm trực giao kinh nghiệm
ENSO
:El Nino-Southern Oscillation: Dao động nam
ECMWF
: The European Centre for Medium-Range Weather Forecasts
(Trung tâm dự báo thời tiết hạn vừa châu Âu)
ERA 40
:Số liệu tái phân tích kết hợp sản phẩm mô hình số của ECMWF
NCAR
: The National Center for Atmospheric Research (Trung tâm nghiên
cứu khí quyển quốc gia, Mỹ)
5
NCEP
: National Centers for Environmental Prediction (Trung tâm dự báo
môi trường quốc gia, Mỹ)
vcs
Hình 3.12: Bản đồ trung bình trường gió của hình thế KKL gây mưa cho khu
vực miền Trung 41
Hình 3.13: Bản đồ mực 850mb cùa hình thế sóng lạnh gây mưa ở miền Trung
41
Hình 3.14: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế sóng
lạnh gây mưa ở miền Trung. 42
Hình 3.15: Bản đồ trường gió trung bình mực mặt đất của hình thế ITCZ
gây mưa lớn ở Trung Bộ. 42
Hình 3.16: Bản đồ mực 850mb của thế ITCZ gây mưa ở Bắc Trung Bộ. 43
Hình 3.17: Bản đồ mực 700mb của thế ITCZ gây mưa ở Bắc Trung Bộ. 43
Hình 3.18: Bản đồ mực 500mb của hình thế ITCZ gây mưa ở Bắc Trung Bộ.
43
Hình 3.19: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế ITCZ
gây mưa ở Bắc Trung Bộ. 44
Hình 3.20: Bản đồ trung bình gió mực mặt đất của hình thế XTNĐ gây mưa
lớn ở bắc Trung Bộ 45
Hình 3.21: Bản đồ mực 850mb của hình thế XTNĐ gây mưa lớn ở bắc Trung
Bộ 45
Hình 3.22: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế XTNĐ
gây mưa lớn ở bắc Trung Bộ 46
Hình 3.23: Bản đồ trung bình khí áp mực mặt đất và phân bố gió của hình thế
không khí lạnh tương tác với vùng xoáy thấp phát triển lên độ cao
3000m ở khu vực biển Trung Trung Bộ. 46
Hình 3.24: Bản đồ mực 700mb của hình thế không khí lạnh tương tác với
vùng xoáy thấp phát triển lên độ cao 3000m ở khu vực biển
TrungTrung Bộ. 47
7
Hình 3.25: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế không
khí lạnh tương tác với vùng xoáy thấp phát triển lên độ cao 3000m ở
bắc – Đông Nam gây mưa lớn ở Trung Trung Bộ. 54
Hình 3.39: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế rãnh
thấp Tây bắc – Đông Nam gây mưa lớn ở Trung Trung Bộ. 55
Hình 3.40: Bản đồ trung bình khí áp và gió mực mực mặt đất của hình thế
XTNĐ gây mưa ở Trung Trung Bộ. 55
Hình 3.41: Bản đồ mực 850m của hình thế XTNNĐ gây mưa lớn ở Trung Bộ.
56
Hình 3.42: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế
XTNNĐ gây mưa lớn ở Trung Bộ. 56
Hình 3.43: Bản đồ trung bình khí áp và gió mực mặt đất của hình thế không
khí lạnh tương tác với nhiễu động gió Đông trên cao gây mưa ở Nam
Trung Bộ. 57
Hình 3.44: Bản đồ phân mực 850mb của hình thế không khí lạnh tương tác
với nhiễu động gió Đông trên cao gây mưa ở Nam Trung Bộ. 57
Hình 3.45: Bản đồ mực 700mb của hình thế không khí lạnh tương tác với
nhiễu động gió Đông trên cao gây mưa ở Nam Trung Bộ. 58
Hình 3.46: Bản đồ mực 500mb của hình thế không khí lạnh tương tác với
nhiễu động gió Đông trên cao gây mưa ở Nam Trung Bộ. 58
Hình 3.47: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế không
khí lạnh tương tác với nhiễu động gió Đông trên cao gây mưa ở Nam
Trung Bộ. 58
Hình 3.48: Bản đồ trung bình khí áp và gió mực mặt đất của hình thế ITCZ có
KKL gây mưa ở Nam Trung Bộ. 59
Hình 3.49: Bản đồ mực 850mb của hình thế ITCZ có KKL gây mưa ở Nam
Trung Bộ. 59
Hình 3.50: Bản đồ mực 700mb của hình thế ITCZ có KKL gây mưa ở Nam
Trung Bộ. 60
9
Hình 3.51: Bản đồ mực 500mb của hình thế ITCZ có KKL gây mưa ở Nam
gây mưa lớn ở Nam Trung Bộ. 65
Hình 3.65: Bản đồ trung bình khí áp và gió mực mực mặt đất của hình thế
ITCZ có XTNĐ gây mưa lớn ở Tây Nguyên. 66
Hình 3.66: Bản đồ phân bố gió và trường độ cao địa thế vị của mực 850mb
trong hình thế ITCZ có XTNĐ gây mưa lớn ở Tây Nguyên. 67
Hình 3.67: Bản đồ mực 700mb trong hình thế ITCZ có XTNĐ gây mưa lớn ở
Tây Nguyên. 67
Hình 3.68: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế ITCZ
có XTNĐ gây mưa lớn ở Tây Nguyên 67
Hình 3.69: Bản đồ trung bình khí áp và gió mực mực mặt đất của hình thế
GMTN gây mưa ở Tây Nguyên. 68
Hình 3.70: Bản đồ mực 850mb của hình thế của hình thế GMTN gây mưa ở
Tây Nguyên. 68
Hình 3.71: Bản đồ mực 500mb của hình thế của hình thế GMTN gây mưa ở
Tây Nguyên. 69
Hình 3.72: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế GMTN
gây mưa ở Tây Nguyên. 69
Hình 3.73: Bản đồ trung bình khí áp và trường gió của hình thế XTNĐ gây
mưa lớn ở Tây Nguyên. 70
Hình 3.74: Bản đồ mực 850mb của hình thế XTNĐ gây mưa lớn ở Tây
Nguyên 70
Hình 3.75: Bản đồ mực 500mb của hình thế XTNĐ gây mưa lớn ở Tây
Nguyên 70
Hình 3.76: Bản đồ phân bố khí áp và các trường trên cao của hình thế XTNĐ
gây mưa lớn ở Tây Nguyên 71
Hình 3.78: Bản đồ mực 850mb của hình thế của hình thế không khí lạnh kết
hợp với gió E gây mưa lớn ở Tây Nguyên. 72
11
Hình 3.79: Bản đồ mực 500mb của hình thế của hình thế không khí lạnh kết
Trong những năm gần đây, hiện tượng mưa lớn trên khu vực miền
Trung Việt Nam bắt đầu thu hút sự quan tâm của các tác giả nước ngoài. So
với các khu vực khác của Việt Nam, miền Trung có đặc điểm khí hậu về
lượng mưa riêng biệt với thời kỳ mưa tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến tháng
12. Các đợt mưa lớn trong thời kỳ này có thể đạt tới giá trị kỷ lục như tại Huế
năm 1999, gây thiệt hại lớn cho khu vực này. Dựa trên tập số liệu phong phú
có được từ sự kết hợp giữa các mô hình số ngày càng phát triển với các sơ đồ
đồng hóa số liệu hiện đại, các nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra đặc điểm địa
hình tại khu vực cũng như tác động riêng biệt hoặc kết hợp giữa dao động
Madden – Julian và gió mùa mùa đông.
Một phần những yếu tố tác động gây mưa lớn này đã được biết đến bởi
các nhà dự báo synop, hay phân loại khí hậu Việt Nam từ lâu trước khi được
công bố trên các nghiên cứu nước ngoài. Bằng kinh nghiệm dự báo chủ yếu
dựa vào bản đồ phân tích synop, các nhà dự báo synop thường chỉ ra một số
kết hợp của các quá trình trong khí quyển dẫn tới mưa lớn tại miền Trung.
Các kết hợp này thường được biết đến với tên gọi hình thế thời tiết theo cách
gọi của dự báo synop.
So với các nghiên cứu mới đã đề cập ở trên, các kiến thức kinh nghiệm
này dù rất có ích với dự báo nhưng vẫn mang tính chủ quan hơn là những tri
thức khoa học có lý giải với cơ sở vững chắc. Bản đồ synop được sử dụng để
đưa ra các nhận định này thường phụ thuộc vào tập số liệu quan trắc có được
cũng như cách lý giải tập số liệu này theo quan điểm của dự báo viên. Rõ ràng
so với hiện tại, tập số liệu quan trắc trên khu vực Việt Nam những năm trước
đây ít hơn rất nhiều trong khi thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố truyền tin.
Ngoài ra, các bản đồ synop chỉ sử dụng các số liệu thám không, không tính
đến số liệu viễn thám với vai trò ngày càng quan trọng, đặc biệt trên các vùng
biển khi không thể có được số liệu thám không.
Do đó, các hình thế thời tiết này cần được đánh giá lại dựa trên sự phát
triển của công nghệ thám sát, mô hình và các sơ đồ đồng hóa số liệu hiện đại.
Cách tiến hành này tương tự như các nghiên cứu trên cần dựa vào đánh giá tốt
lớn, sử dụng số liệu quan trắc tại trạm. Nguồn số liệu đo mưa từ các trạm đo
khí tượng, nguồn số liệu tái phân tích JRA25.
Chương 3: Kết quả và phân tích.
Trong chương này học viên đưa ra các kết quả tính toán và phân tích K-
mean, để phân loại các nhóm hình thế gây mưa lớn ở miền Trung và Tây
Nguyên Việt Nam. 14
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MƢA
LỚN Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
Hiện tượng mưa lớn trên khu vực miền Trung luôn được ghi nhận hàng
năm với tần xuất trung bình 10 đợt/năm kéo dài từ tháng 5 cho đến tháng 12,
với mức độ thiệt hại rất lớn kèm theo. Cho đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu trong nước tập trung cho hiện tượng này từ các thống kê hình thế
synop, mô tả cơ chế sinh mưa lớn hoặc mô phỏng hay dự báo dựa trên mô
hình. Mặc dù các kết quả nghiên cứu nói trên đã ít nhiều mang lại hiệu quả
cho dự báo mưa nghiệp vụ, nhưng các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở dự
báo định tính cho trường hoặc định lượng cho điểm.
1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới.
Trên thế giới mưa lớn đã được nghiên cứu từ rất lâu, Cavazos T (1999)
cũng đã nghiên cứu về tình hình mưa tuyết lớn ở khu vực Nam Mỹ. Nơi các
cơn mưa tuyết lớn tại các khu vực miền núi thường gây ra các trận tuyết lở.
Các trạng thái khí quyển qui mô Synop đặc biệt là nguyên nhân của các hiện
tượng mưa tuyết cực trị này, và điều này cũng đúng cho trường hợp của vùng
Andorra, một nước nhỏ tại Pyrenees, nằm giữa Pháp và Tây Ban Nha. Trên cơ
sở những ngày lượng tuyết có cường độ ít nhất là 30cm trong khoảng 24h, các
nghiên cứu hiện tại sử dụng các phân tích thành phần chính (Principal
Component Analysis) và các phép phân tích xếp nhóm để mô tả đặc điểm của
đặc điểm không gian nổi bật được tính bởi lượng mưa tiềm năng (PW) đi kèm
với các thành phần gió mạnh được gọi là dòng xiết mực thấp (LLJ). Các đặc
tính của nhóm này chỉ ra một hình thế Synop điển hình thường gây ra lượng
mưa lớn tại Kyushu trong suốt thời kỳ mùa mưa.
P. Seibert vcs (2007), đã tiến hành nghiên cứu mô hình gây ra mưa lớn
ở Áo, và đã xác định được 7 hình thế qui mô synop gây ra đợt giáng thủy lớn
tại Áo được xác định với phương pháp chùm quĩ đạo. Quĩ đạo phản hồi (back
tracjectories) ở các mực khác nhau, tại các thời điểm khác nhau trong mỗi
ngày, và tại các vị trí khác nhau tại Áo được sử dụng cùng với một giá trị
xoáy thế. Thêm vào đó, 7 vùng tại Áo với lượng giáng thủy ngày tương tự
nhau cũng được xác định. Mối quan hệ của lượng giáng thủy lớn tại mỗi vùng
này với các hình thế synop cũng đã được nghiên cứu. Kết quả tương ứng các
thực nghiệm về hình thế synop và phản ánh các tình hình khí tượng đã được
biết đến. Các phân tích này dựa trên số liệu tái phân tích trong 15 năm của
ECMWF (1979-1993), sử dụng để tính toán các quĩ đạo phản hồi (back
trajectories) và tổng lượng giáng thủy ngày của 131 trạm khí tượng tại Áo.
Điều này đã mở đường cho các ứng dụng trong tương lai trong việc nghiên
cứu về biến đổi khí hậu, các dữ liệu đầu vào cần thiết cũng có thể được sử
16
dụng từ các mô hình khí hậu toàn cầu. Cách tiếp cận xếp nhóm cũng đã được
tiến hành với một phương pháp mới đầy hứa hẹn, sự phối hợp của nhóm theo
thứ bậc và nhóm được lặp đi lặp lại (K-means).
Đặc biệt, với lượng mưa lớn kỷ lục như lượng mưa tại Huế (Việt Nam)
năm 1999, gần đây, hiện tượng này cũng bắt đầu nhận được quan tâm nghiên
cứu của một số tác giả trên thế giới, Jun Matsumoto vcs (2008) đã tiến hành
nghiên cứu về sóng lạnh và dị thường gió Nam tại khu vực giữa biển Đông
kết hợp với một áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn ở khu vực Trung Bộ; Với tác
giả, khi nghiên cứu về mưa lớn miền Trung, Jun Matsumoto vcs đã sử dụng
bộ số liệu tái phân tích và bộ số liệu về lượng giáng thủy bề mặt trong 24 năm
hướng nam tiến về phía bắc biển Đông và sau đó tĩnh lại tại đó trong khoảng
2 ngày, gây ra gió đông bắc mạnh thổi liên tục về phía bán đảo Đông Dương,
bị cản lại bởi dãy Trường Sơn (Annam Range).
Thứ hai: Dị thường gió nam tại khu vực giữa biển Đông kết hợp với
một áp thấp nhiệt đới (Tropical Depression – Type Disturbance), ở miền nam
Việt Nam đã ngăn cản sóng lạnh lan truyền về phía nam. Tại phía bắc biển
Đông, dị thường gió nam hình thành một hội tụ mạnh ở mực thấp kết hợp với
dị thường gió đông bắc trong sóng lạnh, đã cung cấp một lượng không khí
nhiệt đới ẩm, ấm. Các điều kiện này gây ra bởi sóng lạnh và áp thấp nhiệt đới
khá thuận lợi cho việc xuất hiện lượng mưa lớn do địa hình tại miền trung
Việt Nam. Áp thấp nhiệt đới có thể được xem là kết quả của sóng Rossby
phản ứng lại dị thường đối lưu qui mô lớn tại khu vực bao gồm khu vực Đông
Nam Á, Indonesia và Philippines, kết hợp với những biến đổi trong từng mùa
khu vực xích đạo.
Chen vcs (2008) đã nghiên cứu mưa lớn miền Trung bằng cách xem xét
ảnh hưởng của hiện tượng ENSO đến mưa ở miền Trung. Thông qua lượng
mưa 29 năm (1979-2007) theo dạng lưới từ bộ số liệu tích hợp quan trắc phân
giải cao Châu Á để đánh giá nguồn nước (APHRODITE) được sử dụng để mô
tả khí hậu mưa ở Việt Nam. Lượng mưa quan trắc được tại 163 trạm mặt đất
tại Việt Nam năm 2007 được sử dụng để xác nhận kết quả phân tích lượng
mưa từ APHRODITE và để xác nhận 2 chế độ mưa: chế độ mưa tháng 10 -
tháng 11 ở miền Trung Việt Nam và chế độ mưa tháng 5 - tháng 10 ở phía
Bắc và phía Nam Việt Nam được xác định từ số liệu APHRODITE.
Cheng vcs đã nhận thấy rằng sự hiện diện của dãy Trường Sơn dọc theo
biên giới phía tây của Việt Nam với Lào và Campuchia đã tạo ra chế độ mưa
tháng 10 - 11 ở miền Trung Việt Nam khác biệt so với chế độ mưa tại những
vùng khác. Biến động nhiều năm của chế độ mưa tháng 10 - 11 có thể được
mô tả rõ bởi hàm trực giao kinh nghiệm, khi phân tích số liệu mưa 29 năm từ
APHRODITE. Biến động thời gian của kiểu mưa nhiều năm này không cùng
18
bản về những nguyên nhân, hình thế gây mưa lớn ở Trung Bộ, cụ thể là miền
khí hậu ở Đông Trường Sơn bao gồm phần phía Đông Trường Sơn, kéo dài từ
phía nam Hoành Sơn (Đèo Ngang) đến xấp xỉ vĩ tuyến 12
0
N. Tương tự như
vậy khi đề cập đến miền khí hậu phía Nam, bao gồm phần lãnh thổ Trung Bộ
thuộc sườn Tây Trường Sơn (Tây Nguyên) và đồng bằng Nam Bộ, khi phân
19
chia mùa khô và mùa mưa, tác giả cũng đã đề cập đến một số hình thế gây
mưa lớn ở các khu vực này.
Tuy nhiên do đây là cuốn „”Đặc điểm khí hậu Việt Nam” nên các tác
giả chỉ tập trung vào việc phân tích các điều kiện hình thành khí hậu và mối
tương quan giữa hoàn lưu gió mùa và cấu trúc địa mạo, ngoài ra các tác giả
cũng xét đến các quy luật cơ bản chi phối diễn biến thời tiết và cấu trúc khí
hậu, nhấn mạnh những tính độc đáo trong quy luật phân mùa, trong sự biến
động và phân hóa khí hậu địa phương, đồng thời cũng thử nghiệm giải thích
các quy luật đó bằng các phân tích Synop thống kê.
Nhưng các tác giả nói trên đã không nêu rõ những hình thế thời tiết nào
gây mưa ở miền Trung, các hình thế mà các tác giả đề cập là khá chung
chung, chủ yếu để người đọc có hình dung về khí hậu của các vùng miền Việt
Nam, chứ không đề cập chi tiết vào các hình thế gây mưa lớn ở Trung Bộ.
Sau Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc còn có nhiều tác giả nữa nghiên
cứu về mưa lớn ở Việt Nam nói chung và khu vực miền Trung nói riêng,
nhưng đáng lưu ý nhất là tác giả Nguyễn Ngọc Thục (1992) với nghiên cứu “
Phương pháp Synop dự báo mưa lớn cho khu vực Nghệ An đến Thừa Thiên
Huế” và một công trình nữa nối tiếp đó là “ Phân loại hình thế Synop gây mưa
lớn, đặc biệt lớn thuộc các tỉnh Nghệ An – Thừa Thiên Huế, phân tích và dự
báo”.
Với Nguyễn Ngọc Thục (1992): Khi phân loại các dạng hình thế Synop
Quảng Nam – Đà Nẵng đến Khánh Hòa, trong các tháng 9, 10, 11 giai đoạn
1976 - 1990”, thì người đọc đã hình dung ra đây là một đề tài mang tính thống
kê thuần túy, dựa trên kinh nghiệm làm dự báo nhiều năm của mình, tác giả
đã trăn trở, trao đổi với đồng nghiệp và đưa ra những tổng kết, phân tích trên,
ngoài ra tác giả cũng đã có những nhận xét làm chỉ tiêu dự báo mưa lớn do
XTNĐ có KKL tác động.
Đối với dự báo viên ở các khu vực miền Trung và Trung tâm Dự báo
Trung ương thì đây có thể coi là cẩm nang, cho các dự báo mưa lớn sau này,
nhưng dù sao đây cũng chỉ là những nhận định chủ quan, phần nhiều dựa vào
kinh nghiệm của người viết, vì thế tính khánh quan, sẽ bị giảm đi đáng kể,
nhất là những hình thế chuẩn mà tác giả đưa ra chủ yếu dựa vào các đợt mưa
lớn thực tế, chưa bao hàm được tính khánh quan chung. Trong các bản đồ
phân loại hình thế tác giả thường vẽ lại một cách chủ quan, ít có những phần
biểu hiện giá trị thực tế cũng như phân bố gió, khí áp, như thế nào, vì thế khi
21
người Dự báo viên tiếp xúc với những hình thế này thường bị phân vân, để
không áp dụng những hình thế này một cách máy móc thì người dự báo viên
phải có nhiều kinh nghiệm và ít nhất cũng đã trải nghiệm được một lần những
hình thế mà tác giả đã nêu, như vậy thì khoảng thời gian hiểu và nắm rõ được
là rất lâu.
Với Trần Gia Khánh (1993) trong đề tài nghiên cứu “Dự án: Mưa lũ
miền Trung do Cục dự báo (nay là Trung tâm Dự báo Khí tượng – Thủy văn
Trung Ương) với đề tài “ Phân loại hình thế Synop gây mưa lớn khu vực
Quảng Nam – Đà Nẵng đến Khánh Hòa, trong các tháng 9, 10, 11 giai đoạn
1976 - 1990””.
Trần Gia Khánh (1993) cũng đã tiến hành nghiên cứu và phân loại các
hình thế synop gây mưa lớn ở khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng đến Khánh
Hòa trong các tháng 9, 10 và 11, có thể nói đây là công trình làm lại những gì
mà KS Nguyễn Ngọc Thục đã tiến hành, vì cách tiếp cận vấn đề cũng như
tiến hành phân tích các trường hợp đã qua và không đưa ra được nhận dạng
hình thế chung một cách khách quan. Đặc điểm chung của các nghiên cứu này
là sử dụng bản đồ synop trong phân loại, phương pháp phân loại chưa có tiêu
chí rõ ràng, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dự báo.
Như thế có thể thấy rõ hai hạn chế trong các công trình nghiên cứu nêu
trên.
Thứ nhất: Các bản đồ synop dựa trên tập số liệu cao không và synop
toàn cầu với chất lượng số liệu không có được độ tin cậy cao (chưa thông qua
quá trình chỉnh lý số liệu). Kiểm tra chất lượng số liệu duy nhất được thực
hiện trên tập dữ liệu này đều được thực hiện bởi các dự báo viên trong quá
trình vẽ bản đồ. Ngoài ra số trạm cao không hay synop trong những năm
trước đây phân bố thưa hơn so với hiện tại rõ ràng cũng ảnh hưởng đến chất
lượng của bản đồ synop. Đặc biệt việc phân tích bản đồ trước và sau khi có
ảnh mây vệ tinh có ảnh hưởng lớn đến bản đồ synop bởi các quan trắc synop
hay cao không không thể thực hiện trên biển vì số liệu thưa thớt này thường
được bù đắp gián tiếp thông qua ảnh mây vệ tinh. Vì vậy, bản đồ synop trước
khi có ảnh mây vệ tính khác với sau khi có ảnh mây vệ tinh.
Thứ hai: Mặc dù kinh nghiệm của dự báo viên là rất quý giá trong việc
phân loại các hình thế synop, công việc này sẽ trở thành một công việc thủ
công nặng nhọc khi phải quan sát khoảng 300 bản đồ synop tương ứng với
150 đợt mưa lớn trong 10 năm (giả định có 2 bản đồ synop mỗi ngày vào thời
điểm 00 và 12 UTC). Để nghiên cứu có ý nghĩa hơn về mặt khí hậu con số 10
23
năm này cần được tăng thêm. Hơn nữa với những đợt mưa kéo dài 2 đến 3
ngày số bản đồ synop cũng tăng lên tương ứng. Như vậy, một nghiên cứu có ý
nghĩa cần phân loại thủ công cỡ 500 bản đồ synop. Quá trình này có thể dẫn
đến những sai sót, ảnh hưởng đến kết quả phân loại.
Hạn chế đầu tiên có thể được giải quyết thông qua sử dụng tập số liệu
tái phân tích. Sử dụng các hệ thống đồng hóa số liệu kết hợp giữa ưu điểm của
vực miền Trung từ số liệu tái phân tích JRA25”
Qua đó có thể xác định đặc trưng các hình thế thời tiết thuận lợi cho sự
hình thành mưa lớn gây lũ lụt tại miền Trung một cách khách quan dựa trên
tập số liệu tái phân tích JRA25.
So sánh kết quả nhận được với kết quả từ các tác giả trước đây khi thực
hiện đánh giá, phân loại dựa trên các bản đồ synop.
25
CHƢƠNG 2: SỐ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
2.1. Số liệu.
Để nghiên cứu về các đợt mưa lớn, chúng tôi đã tiến hành thống kê
mưa lớn ở các tỉnh miền Trung trong vòng 17 năm trở lại đây (từ năm 1994 –
2010), ở 4 khu vực của miền Trung và Tây Nguyên với tiêu chí. Mưa lớn diện
rộng có thể xảy ra một hay nhiều ngày, liên tục hay ngắt quãng, một hay
nhiều trận mưa và không phân biệt dạng mưa. Căn cứ vào lượng mưa thực tế
đo được 12 hoặc 24 giờ tại các trạm quan trắc khí tượng bề mặt, trạm đo mưa
trong mạng lướ ịnh các cấp mưa khác nhau.
Theo quy định của Tổ chứ (WMO), mưa lớn được chia
làm 3 cấp:
- Mưa to: Lượng mưa đo được từ 51 đế 26 đến
50mm/12h.
- Mưa rất to: Lượng mưa đo đượ > 50
mm/12h.
Mưa lớn diện rộng là mưa lớ ở một hay nhiều khu vực dự báo
liền kề với tổng số trạm quan trắc được mưa lớn theo quy định sau đây:
- Một khu vự ớn diện rộng khi mưa lớn
xảy ra ở quá một nửa số trạm trong toàn bộ số trạm quan trắc của
khu vực đó.
- Mưa lớn xảy ra ở 2 hoặc 3 khu vự ền kề nhau, thì khi