1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ XÁC ĐỊNH KHÁCH QUAN HÌNH THẾ THỜI TIẾT TRONG
CÁC ĐỢT MƢA LỚN TRÊN KHU VỰC MIỀN TRUNG TỪ SỐ
LIÊU TÁI PHÂN TÍCH JRA25 Chuyên ngành: Khí tƣợng và Khí hậu học
Mã số: 62.44.87
Học viên: Nguyễn Văn Hƣởng
Khóa: 2009-2011
Ngƣời hƣớng dẫn
Tiến sĩ: Lê Đức HÀ NỘI, 04-2012 2
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi học viên cao học Nguyễn Văn Hưởng, xin được
gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thày cô trong khoa Khí tượng – Thuỷ văn –
Hải Dương Học đã chỉ bảo dạy dỗ tôi trong suốt 4 năm đại học và trong quá trình thực
4
I.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
8
CHƢƠNG II: SỐ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
15
II.1. Cơ sở số liệu.
15
II.2. Phương pháp nghiên cứu.
17
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH
20
III. 1. Phân tích các nhóm hình thế gây mưa lớn ở Bắc Trung Bộ.
21
III.2.Phân tích các nhóm hình thế gây mưa lớn ở Trung Trung Bộ.
33
III.3.Phân tích các nhóm hình thế gây mưa lớn ở ven biển Nam Trung Bộ.
44
III.4.Phân tích các nhóm hình thế gây mưa lớn ở Tây Nguyên.
54
KẾT LUẬN
62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
64
được đưa ra với mục đích bao gồm cả phương pháp xử lý trước có chứa cả các dữ liệu
đạt chuẩn về không gian được sử dụng cho phép phân tích PCA, một phương pháp
xấp xỉ luân phiên để quyết định trọng tâm và số lượng các nhóm cho việc xếp nhóm
K-means và việc loại bỏ tính lặp đi lặp lại cho thuật toán này. Phương pháp này có thể
phân loại hình thế synop cho các ngày có lượng mưa tuyết lớn và xây dựng các bản đồ
cho khí áp mực biển, độ cao địa thế vị 500hPa, độ dày 1000-500m (các đường dòng
5270m, 5400m, 5520m). các kết quả đưa ra 7 hình thế hoàn lưu, hầu hết là về thành
phần gió khu vực Đại Tây Dương, một số những hình thế khác với bình lưu khu vực
Địa Trung Hải có thể được kết hợp với khí quyển lục địa lạnh. Các kết quả, như các
bản đồ thời tiết, có thể trở thành một công cụ hữu ích trong việc giúp các mô hình khí
5
tượng dự báo các cơn mưa tuyết lớn, và việc phân loại những ngày xảy ra hiện tượng
này có thể mở ra một tương lai trong việc phân tích khí hậu và khí tượng một cách chi
tiết.
Còn với tác giả Koji Nishiyama và cộng sự (2007); Cũng đã tiến hành nghiên
cứu các hệ thống Synop và mối liên hệ giữa các trường Synop và các trường hợp mưa
lớn tại đảo Kyushu, thuộc tây nam Nhật Bản, trong suốt thời kỳ mùa mưa Baiu, các
trường synop này đã được phân loại sử dụng bản đồ tự thiết lập (SOM – self-
organizing map), để có thể biến đổi các đặc tính phi tuyến phức tạp thành các mối liên
quan 2 chiều đơn giản. giả thiết rằng các hình thế synop có thể được biểu diễn một
cách đơn giản bằng sự phân bố không gian của các thành phần gió ở mực 850hPa,
mưa tiềm năng (PW) được định nghĩa là lượng hơi nước được chứa trong một cột
thẳng đứng của khí quyển. bằng thuật toán SOM và phương pháp xếp nhóm của ma
trận U (U-matrix) và K-means, các trường synop được chia thành 8 loại hình thế
(nhóm). Một trong những nhóm có các đặc điểm không gian nổi bật được giới thiệu
bởi lượng mưa tiềm năng (PW) đi kèm với các thành phần gió mạnh được gọi là dòng
xiết mực thấp (LLJ). Các đặc tính của nhóm này chỉ ra một hình thế Synop điển hình
thường gây ra lượng mưa lớn tại Kyushu trong suốt thời kỳ mùa mưa.
Còn với một số tác giả như P. Seibert và cộng sự (2007), cũng đã tiến hành
gian là 6h, với 12 mực tại tầng đối lưu (1000, 925, 850, 700, 600, 500, 400, 300, 250,
200, 150, và 100 hPa). Nghiên cứu này cũng sử dụng số liệu lượng mưa hàng ngày tại
các trạm của khu vực phía đông miền Trung Việt Nam với số liệu được thu thập liên
tục bởi phòng khí tượng thủy văn Lào (8 trạm), phòng khí tượng Campuchia (4 trạm)
và Trung tâm khí tượng - Thủy văn quốc gia Việt Nam (52 trạm). Thêm vào đó, giá
trị nội suy trung bình ngày của số liệu bức xạ sóng dài phát ra (OLR) được cung câp
bởi trung tâm khí quyển và hải dương quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) và số liệu thám sát
khí quyển được quan trắc liên tục bởi trạm Xisha Dao (16.83
0
N, 112.33
0
E).
Tác giả đã xác nhận rằng sự cùng tồn tại của sóng lạnh và áp thấp nhiệt đới là
khá quan trọng đối với sự xuất hiện của mưa lớn tại miền trung Việt Nam. Thêm vào
đó, các quan trắc cho thấy các sóng lạnh không có áp thấp nhiệt đới không dẫn đến
lượng mưa lớn.
Theo Matsumoto tìm các nhiễu động qui mô synop và qui mô lớn gây ra những
biến đổi về giáng thủy tại miền Trung trong suốt mùa gió mùa mùa hè với một khoảng
thời gian dài từ vài ngày cho tới vài tuần. Các nhiễu động cũng đóng vai trò quan
trọng đối với những biến đổi về giáng thủy tại các khu vực ven biển phía đông trong
7
suốt pha chuyển tiếp gió mùa có 2 nhiễu động khí quyển đóng vai trò quan trong trong
trận mưa lớn này.
Thứ nhất: Sóng lạnh (Cold surge) dị thường gió phía bắc tại mực thấp của tầng
đối lưu, hình thành tại bắc Trung Quốc gần 40
0
N, lan truyền theo hướng nam tiến về
phía bắc biển Đông và sau đó tĩnh lại tại đó trong khoảng 2 ngày, gây ra gió đông bắc
mạnh thổi liên tục về phía bán đảo bán đảo Đông Dương, bị cản lại bởi dãy dãy
Nam trở nên ẩm ướt hơn khi SSTs trên vùng NINO3.4 trở lên lạnh đi.
Điều này cũng được nhận ra từ các phân tích trường vận tải ẩm khi một hoàn
lưu xoáy thuận (xoáy nghịch) trên khu vực nam Á kết hợp với hoàn lưu xoáy nghịch
trên khu vực tây bắc Thái Bình Dương trong pha lạnh (pha nóng). Lượng ẩm được hội
tụ (phân kỳ) bởi hai hoàn lưu này hướng về biển Đông Việt Nam và Biển Philipin
ngoài 150
0
E trong những năm ấm (lạnh). Các hoàn lưu này đã làm tăng cường hoặc
suy giảm lượng ẩm vận tải đến Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Cùng
với các cặp hoàn lưu này, lượng ẩm được hội tụ về phía Đông Nam Á trong pha lạnh
đã gây nên mưa lớn ở khu vực Đông Nam Á trong khi phân kỳ ẩm trong pha ấm đã
gây nên tình trạng khô hanh ở khu vực này.
I.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, khu vực nhiệt đới gió mùa, ngay từ khi thành lập cục Dự báo
mưa lớn đã được xếp mưa lớn là một trong những hiện tượng thời tiết nguy hiểm và
việc nghiên cứu mưa lớn đã được tiến hành, tiêu biểu là các công trình của Phạm
Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc trong cuốn Khí hậu Việt Nam (1993); mặc dù không chỉ
ra chi tiết tác động của từng hình thế thời tiết gây mưa lớn ở miền Trung, nhưng trong
phần thứ hai, nói về các quy luật khí hậu thì tác giả cũng đã đề cập tới sự tác động của
các khối khí ảnh hưởng đến Việt Nam trong các giai đoạn và trong phần thứ 3, khi đề
cập tới khí hậu từng vùng (tác giả đã chia làm 4 vùng, trong đó có 3 vùng đất liền,
gồm miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu Đông Trường Sơn, miền khí hậu phía Nam
và một vùng miền khí hậu biển Đông), trong quá trình miêu tả các miền khí hậu theo
mùa, tác giả cũng đã đề cập một cách cơ bản về những nguyên nhân, hình thế gây mưa
lớn ở Trung Bộ, cụ thể là miền khí hậu ở Đông Trường Sơn bao gồm phần phía Đông
Trường Sơn, kéo dài từ phía nam Hoành Sơn (Đèo Ngang) đên xấp xỉ vĩ tuyến 12
0
N;
tương tự như vậy khi đề cập đến miền khí hậu phía Nam, bao gồm phần lãnh thổ
Trung Bộ thuộc sườn Tây Trường Sơn (Tây Nguyên) và đồng bằng Nam Bộ, khi phân
hành thống kê các hình thế mưa lớn ở khu vực này và đã chỉ ra có tất cả 7 loại hình
thế có khả năng gây mưa lớn ở miền Trung bao gồm: là Xoáy thuận nhiệt đới đơn
thuần (XTNĐ); XTNĐ kết hợp với gió đông nam (SE) tác động; XTNĐ kết hợp với
không khí lạnh (KKL) tác động trước; XTNĐ kết hợp với KKL tác động đồng thời
10
hoặc 12 – 24h; Dải hội tụ nhiệt đới (ITCZ) có XTNĐ từ thấp lên cao 4 – 5km; ITCZ
có KKL tác động; KKL hội tụ với tín phong. Đối với từng hình thế tác giả đã có
những nghiên cứu khá chi tiết, chỉ ra sự ảnh hưởng của nó với miền Trung như thế
nào, khi nó tác động đơn lẻ thì tạo ra hệ quả thời tiết ra sao, khi nó tương tác với các
hình thế khác hoặc một tổ hợp các hình thế khác thì sự ảnh hưởng của nó đối với từng
khu vực sẽ diễn ra như thế nào, như với hình thế mưa lớn do XTNĐ tác giả đã phân
tích chi tiết, mưa lớn do XTNĐ đơn thuần, mưa lớn do XTNĐ đổ bộ kết hợp với KKL
tác động trước, Mưa lớn do XTNĐ đổ bộ có KKL kết hợp tác động đồng thời hoặc 12
– 24h sau; Mưa lớn do XTNĐ đổ bộ có kết hợp với KKL tác động 12 – 24h sau; Mưa
lớn do ITCZ có XTNĐ từ thấp lên cao 4 – 5km; Mưa lớn do XTNĐ sau khi đổ bộ kết
hợp với SE tác động.
Với từng hình thế tác giả cũng đã đánh giá xác xuất % của từng hình thế, ảnh
hưởng của nó đến từng vùng miền, khu vực ra sao, lượng mưa mà của từng hình thế
đối với các vùng sẽ như thế nào, tác giả cũng đã đưa ra những nhận xét về sự giống
nhau, khác nhau giữa thời gian kéo dài, phân bố không gian, lượng mưa ngày, tổng
lượng mưa, do từng loại hình thế cơ bản và tổ hợp gây ra; Nhưng với ngay từ đầu với
tên đề tài là “ Phân loại hình thế Synop gây mưa lớn khu vực Quảng Nam – Đà Nẵng
đến Khánh Hòa, trong các tháng 9, 10, 11 giai đoạn 1976 - 1990”, thì người đọc đã
hình dung ra đây là một đề tài mang tính thống kê thuần túy, dựa trên kinh nghiệm
làm dự báo nhiều năm của mình, tác giả đã trăn trở, trao đổi với đồng nghiệp và đưa
ra những tổng kết, phân tích trên, ngoài ra tác giả cũng đã có những nhận xét làm chỉ
tiêu dự báo mưa lớn do XTNĐ có KKL tác động.
Đối với dự báo viên ở các khu vực miền Trung và Trung tâm Dự báo trung
ương thì đây có thể coi là cẩm nang, cho các dự báo mưa lớn sau này, nhưng dù sao
số lần KKL tác động đồng thời 12 – 24h hoặc ATNĐ đi vào đất liền tháng 10 và tháng
11, dựa trên thống kê hiệu các giá trị khí áp trạm 902, trạm Hà Nội, trạm 758 phía
Đông Lôi Châu với trạm Đà Nẵng tác giả đã đưa ra xác suất dự báo (chỉ tiêu dự báo)
cho trường hợp KKL với hoạt động của bão hoặc ATNĐ; Tuy nhiên tất cả những chỉ
tiêu, thậm chí là cách tiếp cận của tác giả cũng không có nhiều điểm khác so với
Nguyễn Ngọc Thục vẫn thuần túy dựa vào kinh nghiệm và thống kê Synop trong một
giai đoạn nào đó, ngoài ra với bảng chỉ tiêu dự báo thì trong trường hợp nếu di chuyển
12
của bão thay đổi theo hướng lệch Băc và tốc độ di chuyển của bão hoặc ATNĐ chậm
dưới 20km thì chỉ tiêu này lại không áp dụng được.
Ngoài hai tác giả trên còn có Phạm Thị Thanh Ngà (2007) cũng đã tiến hành
phân tích một số trường hợp mưa lớn dựa trên các sản phẩm mô hình số, nhưng tất cả
đều là tiến hành phân tích các trường hợp đã qua và không đưa ra được nhận dạng
hình thế chung một cách khách quan. Đặc điểm chung của các nghiên cứu này là sử
dụng bản đồ synop trong phân loại, phương pháp phân loại chưa có tiêu chí rõ ràng,
chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dự báo.
Như thế có thể thấy rõ 2 hạn chế trong các công trình nghiên cứu nêu trên. Thứ
nhất các bản đồ synop dựa trên tập số liệu cao không và synop toàn cầu với chất lượng
số liệu không có được độ tin cậy cao. Kiểm tra chất lượng số liệu duy nhất được thực
hiện trên tập dữ liệu này đều được thực hiện bởi các dự báo viên trong quá trình vẽ
bản đồ. Ngoài ra số trạm cao không hay synop trong những năm trước đây phân bố
thưa hơn so với hiện tại rõ ràng cũng ảnh hưởng đến chất lượng của bản đồ synop.
Đặc biệt việc phân tích bản đồ trước và sau khi có ảnh mây vệ tinh có ảnh hưởng lớn
đến bản đồ synop bởi các quan trắc synop hay cao không không thể thực hiện trên
biển vì số liệu thưa thớt này thường được bù đắp gián tiếp thông qua ảnh mây vệ tinh.
Vì vậy, bản đồ synop trước khi có ảnh mây vệ tính khác với sau khi có ảnh mây vệ
tinh
Thứ hai mặc dù kinh nghiệm của dự báo viên là rất quý giá trong việc phân loại
các hình thế synop, công việc này sẽ trở thành một công việc thủ công nặng nhọc khi
Roe, 2010)
Vẫn theo hướng nghiên cứu trên quy mô synop với các hình thế thuận lợi cho
mưa lớn gây lũ trên khu vực miền Trung nhưng theo một hướng nghiên cứu mới dựa
trên phương pháp CA và PCA trên tập số liệu tái phân tích thay vì hướng nghiên cứu
trước đây tại Việt Nam, chúng tôi đề xuất đề tài “Xác định khách quan hình thế
thời tiết trong các đợt mƣa lớn trên khu vực miền Trung từ số liệu tái phân tích
JRA25”
Qua đó có thể xác định đặc trưng các hình thế thời tiết thuận lợi cho sự hình
thành mưa lớn gây lũ lụt tại miền Trung một cách khách quan dựa trên tập số liệu tái
phân tích JRA25.
14
So sánh kết quả nhận được với kết quả từ các tác giả trước đây khi thực hiện
đánh giá, phân loại dựa trên các bản đồ synop.
bình hàng năm ở miền Trung và Tây Nguyên có khoảng từ 13- 15 đợt mưa lớn. Như
vậy trong khoảng 17 năm, chúng tôi đã thống kê được trên 200 đợt mưa lớn diện rộng,
trong đó chỉ riêng 10 năm gần đây, giai đoạn từ 2001 đến 2010 đã có 142 đợt mưa lớn
diện rộng.
Mặc dù nhiễu động khí quyển này đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới cũng
như ở Việt Nam như trong các giới thiệu trước đây, các nhiễu động xảy ra vẫn chưa
được mô tả một cách chi tiết, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào phân tích hình
16
thế Synốp hoặc các sóng lạnh trong thời kì gió mùa mùa đông chính thống. Tuy nhiên,
để hiểu biết về các cơ chế ngẫu nhiên của các trường hợp mưa lớn tại miền Trung -
Tây Nguyên Việt Nam, điều cần thiết là phải nghiên cứu kiểu tác động của các nhiễu
động trong suốt một quá trình dài, để mô tả các trạng thái khí quyển qui mô Synop và
các nhiễu động trong suốt thời gian xảy ra mưa lớn một cách chi tiết, và thảo luận về
cơ chế gây ra mưa lớn tại miền Trung – Tây Nguyên Việt Nam. Để xác nhận các cơ
chế này, chúng tôi cũng sẽ tiến hành các phân tích tổng hợp sử dụng số liệu tái phân
tích trong khoảng thời gian 25 năm (1979-2010) và số liệu về lượng mưa.
So với NNRP2 hay ERA40, JRA25 có độ phân giải cao hơn (1.250 so với 2.50)
với tập số liệu quan trắc trên khu vực châu Á phong phú hơn. Các đánh giá cũng chỉ ra
JRA25 có chất lượng tốt hơn so với 2 tập dữ liệu tái phân tích còn lại. Dự án kế tiếp
JRA25 là JRA55 với phương pháp 4DVAR sẽ kết thúc vào năm 2013 với một số kết
quả ban đầu cho thấy 1 trường tái phân tích với chất lượng cao hơn JRA25. Với các
yếu tố này, đề tài sẽ sử dụng số liệu JRA25 trong phân loại và thay thế bởi JRA55
trong tương lai. Thời gian của tập dữ liệu JRA25 tương ứng với thời gian của tập số
liệu mưa lớn đã nêu trên: 1994-2010.
Hình 1: Phân bố các đợt mưa lớn ở miền Trung – Tây Nguyên trong khoảng 10
năm gần đây 2001 – 2010.
0
các dao động ngày đêm. Miền phân nhóm được xác định có tọa độ 90 – 130
0
E và 0-
35
0
N tương ứng với 33x29 điểm nút lưới trên lưới kinh vĩ 1.25x1.25 độ.
Hình 2: Miền phân tích
Nhân tố phân nhóm được lựa chọn bao gồm áp suất mực biển pmsl và độ cao
địa thế vị tại mực 500mb (h500). Một số yếu tố khác cũng đã được đề tài thử nghiệm
như tổng lượng ẩm trong khí quyển hay gió tại mực 850mb. Tuy nhiên các yếu tố này
thể hiện khả năng phân loại không rõ ràng so với 2 yếu tố pmsl và h500. Do 2 yếu tố
18
này khác nhau về thứ nguyên cũng như phạm vi biến đổi, trước khi phân nhóm, 2 yếu
tố này sẽ được chuẩn hóa dựa trên giá trị trung bình và độ lệch chuẩn.
Như vậy tương ứng với 1 ngày mưa lớn với 2 yếu tố pmsl và h500 trên lưới, ta
sẽ có 2x33x29 = 1914 biến (mỗi biến tương ứng với chuỗi thời gian của các đợt mưa
lớn trong 17 năm) được đưa vào thuật toán phân nhóm. Số biến quá lớn sẽ làm thời
gian tính toán tăng lên đáng kể. Tuy nhiên điều cần lưu ý ở đây là các điểm kề nhau
trên lưới sẽ có 1 tương quan nhất định do đó sử dụng cả 1914 biến thực tế tạo ra sự dư
thừa dữ liệu. Để giảm thiểu dư thừa dữ liệu cũng như thời gian tính toán, chúng tôi sẽ
không sử dụng trực tiếp giá trị của các biến này trên lưới mà trước hết chuyển các
trường pmsl và h500 trên lưới thành chuỗi thời gian các thành phần chính PCn với kỹ
thuật PCA. Thuật toán được thực hiện như sau:
- Từ các trường pmsl và h500 tương ứng với các đợt mưa lớn, các hàm trực
giao tự nhiên EOFn sẽ được xác định. Các hàm này chỉ được xác định tới
95% độ biến thiên của yếu tố đang xét.Với chỉ tiêu 95%, tổng số EOF được
xác định thông thường có giá trị 14.
- Chuỗi thời gian PCn tương ứng với các EOFn sẽ được xác định và thay thế
diện cho mỗi nhóm thay vì sử dụng từng biến X trong mỗi nhóm. Trung bình hóa
tương tự như 1 phép làm trơn sẽ loại bỏ các biến động nhỏ giữa các thanh phần và làm
nổi rõ những đặc điểm chung nhất giữa các thành phần của cùng 1 nhóm. Kỹ thuật
này cũng giúp cho quá trình phân tích từng hình thế dễ dàng hơn.
20
CHƢƠNG III: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH
Chúng tôi nhận thấy phân bố mưa ở các tỉnh miền Trung có thể chia làm 3 vùng
chính, khu vực bắc miền Trung chịu ảnh hưởng nhiều của các hình thế từ phía bắc
xuống, với các tỉnh Trung và Nam Trung Bộ (các tỉnh từ Quảng Bình trở vào đến
Bình Thuận) ngoài các hình thế từ phía bắc xuống thì những hình thế gây mưa từ phía
Đông vào đóng góp chủ yếu; với khu vực Tây Nguyên thì những nguyên nhân phía
bắc cũng có, từ phía đông vào cũng xuất hiện, nhưng mưa vừa, mưa to ở Tây Nguyên
chủ yếu bắt nguồn từ sự mạnh lên của gió mùa tây nam, vì thế giữa khu vực trung và
nam Trung Bộ các hình thế gây mưa lớn là tương đối đồng nhất do vậy, chúng tôi đã
chia miền Trung ra làm 3 vùng có các hình thế gây mưa giống nhau nhất đó là khu
vực Bắc Trung Bộ, Trung và Nam Trung Bộ (các tỉnh từ Quảng Bình đến Ninh
Thuận); khu vực Tây Nguyên.
Đối với khu vực bắc Trung Bộ chúng tôi khi lấy trung bình một cách khách
quan chúng tôi chia ra được 6 nhóm có thể gây mưa cho khu vực Bắc Trung Bộ:
III.1: PHÂN TÍCH VÀ CÁC HÌNH THẾ THỜI TIẾT Ở KHU VỰC BẮC
TRUNG BỘ.
Đối với khu vực bắc Trung Bộ chúng tôi khi lấy trung bình một cách khách
quan chúng tôi chia ra được 6 nhóm có thể gây mưa cho khu vực bắc Trung Bộ:
Nhóm 1: KKL tương tác với vùng xoáy thấp phát triển đến độ cao khoảng
3000m trên biển Đông; Nhóm 2: Rãnh thấp Tây Bắc – Đông Nam; Nhóm 3: Hội tụ
kinh hướng; Nhóm 4: Các đợt không khí lạnh mạnh; Nhóm 5: Dải hội tụ nhiệt đới;
Nhóm 6: Xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) đơn thuần. Để thấy rõ tác động của từng
nhóm (từng hình thế) đối với khu vực bắc Trung Bộ chúng tôi phân tích kỹ các đợt
mưa lớn do các hình thế này gây ra.
IV.1. Hình thế 1: Không khí lạnh mạnh tƣơng tác với hoạt động của xoáy thuận
nhiệt đới phát triển đến độ cao khoảng 3000m trên biển Đông.
Trước tiên với hình thế không khí lạnh tương tác với hoạt động của vùng xoáy
thuận nhiệt đới phát triển lên tới độ cao khoảng 3000m trên biển Đông, với hình thế
này khi phân tích hình 3: Biểu diễn trường khí áp mặt đất ta cho thấy ở khu vực Đông
Bắc Trung Quốc tồn tại một trung tâm áp cao tạo ra một lưỡi lạnh, với những sóng
22
lạnh di chuyển xuống khu vực phía nam và ảnh hưởng đến Việt Nam, trong khi ở khu
vực Trung Trung Bộ, vĩ tuyến 10
0
N – 15
0
N lại tồn tại một vùng xoáy thấp nằm ngay
trên khu vực biển giữa của Trung và nam Trung Bộ.
Hình 3: Bản đồ trung bình khí áp mực
mặt đất của hình thế không khí lạnh tương
tác với xoáy thuận nhiệt đới phát triển lên tới
độ cao khoảng 3000m trên biển Đông gây
IV.2. Hình thế 2: Rãnh áp thấp Tây Bắc – Đông Nam có trục đi qua Bắc
Trung Bộ (thực tế là phần quá độ giữa ITCZ và rãnh gió mùa).
Rãnh áp thấp trục Tây Bắc – Đông Nam cũng là một trong những hình thế có
khả năng gây mưa lớn cho khu vực bắc miền Trung. Đây cũng là một hình thế khá
điển hình xảy ra ở khu vực miền Trung, thể hiện khá rõ ở mực mặt đất đến mực
1500m, với một rãnh thấp có trục đi qua khu vực bắc miền Trung, trên bản đồ phân bố
khí áp mặt đất thể hiện bằng một trục rãnh chạy chéo qua khu vực bắc miền Trung có
thể nối với một vùng xoáy ở khu vực giữa, hoặc phần phía Đông của quần đảo
Philipin.
24 Hình 6: Bản đồ trung bình khí áp
mực mặt đất và phân bố gió của hình thế
Rãnh thấp trục Tây Bắc – Đông Nam qua
Bắc Trung Bộ. Hình 7: Bản đồ trung bình
khí áp mực850mb của hình thế
Rãnh thấp trục tây Bắc – Đông
Nam qua bắc Trung Bộ.
Đối với hình thế này khi xem xét các bản đồ trên cao ta có thể thấy sự lấn rõ
của lưỡi áp cao cận nhiệt đới từ phía Đông vào, trong khi ở phía nam gió mùa tây nam
phát triển, sự hội tụ của hai đới gió tây nam từ Nam di chuyển lên và thành phần gío
đông ở phía Bắc là nguyên nhân tạo ra trục rãnh này, sự hình thành của rãnh thấp này
cũng tương đối phù hợp với các giai đoạn phát triển của lưỡi áp cao cận nhiệt đới, vì
mực 500mb ta có thể thấy sự khác biệt, trước tiên khi xem xét mực 700mb ta có thể
thấy bao trùm lên toàn Bắc Bộ và các tỉnh miền Trung là một vùng xoáy âm, với trị số
vào khoảng 0.6 – 1,4x10
-5/s
trở lên