Luận văn thạc sỹ ngôn ngữ học Quán ngữ tình thái tiếng việt - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thị Yến Nga QUÁN NGỮ TÌNH THÁI TIẾNG VIỆT Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.DƯ NGỌC NGÂN Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ, bên cạnh đơn vị từ còn có
một số lượng lớn các loại đơn vị ngữ cố định được gọi là quán ngữ
(QN),… Chúng được dùng rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày
cũng như trong các bài nói, bài viết, trong sáng tác văn chương, trên đài
phát thanh, truyền hình, sân khấu, báo chí,… Vì vậy, việc nắm hiểu và
trau dồi khả năng sử dụng những ngữ cố định đó đã trở thành nhu cầu tự
nhiên của mỗi người.

Gần đây, cùng với khuynh hướng chú trọng hơn đến nhân tố con
người trong ngôn ngữ và trong hoạt động ngôn ngữ, giới nghiên cứu Việt
ngữ học ngày càng quan tâm đến vấn đề tính tình thái, ý nghĩa tình thái
của ngôn ngữ. Đó cũng là lẽ tất yếu bởi không có một nội dung nhận
thức và giao tiếp hiện thực nào lại có thể tách khỏi những nhân tố như
mục đích, nhu cầu, thái độ đánh giá… của người nói đối với điều được
nói ra xét trong mối quan hệ với hiện thực, với đối tượng giao tiếp và các
nhân tố khác của ngữ cảnh giao tiếp.
Như đã biết, một trong những mục đích chính của giao tiếp là trao
đổi thông t
in. Độ phức tạp trong việc xử lí thông tin và hiệu ứng m
à phát
ngôn tác động đến người nghe đòi hỏi người nói có những thao tác xử lí
nhất định về mặt ngôn ngữ. Việc sử dụng ngữ điệu hay các phương tiện
từ vựng không giống nhau giúp người nói thể hiện các thái độ khác nhau
đối với nội dung phát ngôn. Các thông tin liên nhân được truyền đạt bên
cạnh những thông tin ngôn liệu được gọi là thông tin tình thái nhận
thức.
Trong số những đơn vị từ vựng biểu đạt thông t
in tình thái nhận

gần 500 QN trong công trình từ điển giải thích hư từ tiếng Việt của tác
giả. Đỗ Thanh và các đồng sự đã bổ sung hàng trăm đơn vị nữa trong
công trình của họ [15]. Và như đã nói, chúng tôi lấy lớp từ này làm xuất
phát điểm nghiên cứu.
Một số tác giả khác đã khảo sát QN một cách gián tiếp như là
những phương tiện “hiện thực hoá” cho các đơn vị, hiện tượng ngôn ngữ
có liên quan trong từ pháp, ngữ pháp, lôgíc-cú pháp, Cụ thể, Đinh Văn
Đức đã xác lập khái niệm tình thái và miêu tả lớp tiểu từ tình thái trong
đó chúng có khả năng được hiện thực hoá
bằng QN [10]. Ngoài ra, trong
các thành phần câu, theo đa số tác giả ngữ pháp tiếng Việt, lớp từ này
xuất hiện dưới dạng là thành phần phụ tình thái, đề tình thái hoặc thuyết
tình thái trong câu. Các tác giả phân tích diễn ngôn thì phần nhiều quan
tâm đến đặc tính liên kết của QN. Vì thế, có thể thấy rằng QN, trong địa
hạt ngữ pháp, cũng đã từng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau, trong thế đối lập với trạng ngữ, liên ngữ và tình thái ngữ,… Thật
vậy, trên thực tế, các nhà nghiên cứu đã tỏ ra rất nỗ lực trong việc làm r
õ
vấn đề này. Nhiều tác giả đã thấy được bản chất của QN trong câu đơn
nhưng không thể xếp chúng vào một thành phần cú pháp nào cả về nên
đề nghị gọi là phụ chú ngữ (nói trộm bóng, có lẽ, kể ra ). (Nguyễn Kim
Thản) cho là gia tố (ấy thế, vả lại, mới chết chửa, có ai ngờ, ) (Lưu Vân
Lăng), hay thành phần xen kẽ (có lẽ, có ai ngờ, ) (Nguyễn Tài Cẩn).

Trong ngữ pháp chức năng, chúng là yếu tố tình thái làm thành Đề của
câu được đánh dấu bằng thì (theo ý tôi thì, nếu tôi không nhầm thì, thật
ra thì ); bằng la (quả là, nói thật là, miễn là ) (Cao Xuân Hạo). Trong
đó, Nguyễn Văn Hiệp [57] là tác giả đã quan tâm và đầu tư nhiều cho
việc kiến giải, phân biệt lớp từ này với trạng ngữ, “vị ngữ thứ yếu” (thuật
ngữ của các tác giả) mặc dù chỉ dưới góc nhìn của ngữ pháp câu và ngữ

nói, tạo ra một hành vi giao tiếp sao cho có hiệu quả…Ngữ nghĩa của n
ó
bị hư hóa nên mất tính TN và cấu trúc nội tại từ đó cũng rất lỏng lẻo”.
Chi tiết hơn là bài viết “Bàn về điều kiện sử dụng của một số
QNTT nhận thức dưới góc độ lí thuyết quan yếu” của Ngũ Thiện Hùng
[45]. Qua khảo sát cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt, tác giả đã khẳng định
“việc sử dụng các QNTT nhận thức không chỉ chịu sự chế định của các
yếu tố logic cú pháp mà còn phải tính đến các điều kiện như định hướng
nội dung hay định hướng quan hệ (động cơ vì người nghe/người nói)”.
Ngoài ra, các giáo trình về từ vựng học, các từ điển có nêu khái
niệm QN chẳng hạn:
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2001), N
xb Hà Nội có
nêu định nghĩa về QN như sau: “là những tổ hợp từ cố định dùng lâu
thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành (tr.84).
Nguyễn Thiện Giáp (1990) trong giáo trình “Từ vựng học tiếng
Việt”, Nxb GD cho rằng QN “là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại
trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc nhấn mạnh nội
dung cần diễn đạt nào đó”.
Đỗ Hữu Châu (1999) trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt” Nxb

GD lại xếp QN vào phần trung gian giữa ngữ cố định với cụm từ tự do.
Hoàng Trọng Phiến (2003), “Cách dùng của hư từ tiếng Việt hiện
đại” có nêu cách dùng của một số QN.
Cao Xuân Hạo (1991) trong “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức
năng" (quyển 1) dù không trực tiếp đề cập đến khái niệm
QN hay QNTT,
nhưng tác giả đã dành một phần trong chương II để mô tả phân tích đặc
điểm chức năng của các thành phần làm thành Đề tình thái, Thuyết tình
thái.

trực tiếp của những người tham gia giao tiếp. Nó cũng được liệt kê trong

một số từ điển tiếng Việt. Vì vậy để tìm ra được các đặc điểm chức năng
của lớp từ này, tư liệu chủ yếu của luận văn bao gồm:
- Các tác phẩm, các văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ văn
chương, chủ yếu là của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, tuyển tập truyện
ngắn, tạp chí Văn nghệ quân đội,…
- Từ điển tiếng Việt và Từ điển giải thích hư từ tiếng
Việt.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung gồm 2 chương như
sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Trong chương này, luận văn đã điểm qua vài nét về QN như: khái
niệm, phân biệt QN với TN, phân loại các QN tiếng Việt (QNTV). Ngoài
ra, chúng tôi còn đề cập đến một số vấn đề về tình thái trong ngôn ngữ
học. Theo đó, luận văn đã nêu ra một số đặc điểm bản chất của QNTT
tiếng Việt.
Chương 2: Đặc điểm của QNTT tiếng Việt
Ở chương 2, luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát đặc điểm cấu
tạo, các chức năng ngữ nghĩa cơ bản của QNTT tiếng Việt như chức
năng đánh giá, chức năng tham gia biểu thị mục đích phát ngôn và chức
năng biểu thị thái độ, tình cảm của người nói.
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. Vài nét về quán ngữ
1.1.1. Khái niệm quán ngữ
QN là đơn vị ngôn ngữ thuộc phạm vi quan tâm trước hết của các
nhà nghiên cứu từ vựng. Chính vì thế mà đơn vị này thường được gặp
trong công trình nghiên cứu về từ vựng hơn là trong các sách ngữ pháp.

ra từ nghĩa của
những yếu tố cấu thành. [58, tr. 1364].
Tuy nhiên từ điển này không cho ví dụ minh hoạ. Từ định nghĩa của
hai từ điển, chúng tôi vẫn rút ra được một kết luận rất có ích cho việc
phân biệt QN với TN, đó là: QN, đứng về mặt từ vựng học, không c
ó
nghĩa bóng.
Cho đến bây giờ, những định nghĩa mà chúng tôi có được đa phần
tập trung ở địa hạt này. Đỗ Hữu Châu phát biểu:
QN là những cách nói, cách diễn đạt cần thiết để đưa đẩy
, để
chuyển ý
hay dẫn ý, để nhập đề chứ không có tác dụng nêu bật một sắc
thái của những cái đã có tên hoặc nêu bật ra các sự vật, hiện tượng, tính
chất, chưa có tên gọi. Ngoài các thí dụ đã nêu, có thể dẫn thêm các QN
khác như : “ai cũng biết rằng”, “rõ ràng là”, “chắc chắn là”,…[12,
tr.74]
Ông cho rằng TN trung
gian với từ ghép và QN trung gian với cụm
từ tự do. Dựa vào đó, chúng tôi đưa ra lược đồ sau đây:
Ngữ cố định Quán ngữ
Thành ngữ
(Gần gũi cụm từ tự do)
Theo lược đồ, QN là đơn vị phân biệt với TN và qua định nghĩa của
tác giả, phân biệt ở đây không chỉ là hình thức của QN mang tính chất
của cụm từ tự do cao mà còn là về mặt nghĩa học. Trong khi TN có nghĩa
định danh và tính biểu trưng thì QN, như quan niệm của Đỗ Hữu Châu,

[67, tr.101]:
Có tính nhất thể
về nghĩa
Không có tính
nhất thể về nghĩa

Ngữ láy
đơn nhất
Ngữ láy
mô hình

Chức năng
biểu hiện
gợi tả
Thành ngữ
hoà kết
Thành ngữ
hợp kết
Cấu tạo
bằng
phương
thức láy
Chức năng
định danh
Ngữ định danh
hoà kết
Ngữ định danh
hợp kết
Cấu tạo
bằng

(discourse) thuộc các phong cách khác nhau. Chức năng của chúng là
đưa đẩy, rào đón, để nhấn mạnh,
hoặc để liên kết trong diễn từ. Ví dụ:
“của đáng tội”, “nói bỏ ngoài tai”, “nói tóm lại”, “kết cục là”, “nói
cách khác”, [90, tr.161]
Ví dụ :
(2) Tự nhiên
, Trường không muốn về nhà nữa. (Thạch Lam, Sợi
tóc)
“Tự nhiên” chỉ ra một hệ quả đột ngột, xuất phát từ một nguyên
nhân nào đó đã xảy ra rồi, nó gắn bó với toàn bộ cấu trúc phát ngôn
(PN). Nó hoàn toàn không phải là trạng ngữ “tự nhiên” của một PN đại
loại như:
(3) Trường cười nói rất tự nhiên.

Hoặc:
(4) Cứ tự nhiên
như ở nhà.
Vũ Đức Nghiệu đã đưa ra một lược đồ để minh họa cho định nghĩa
của mình [90, tr.161]: CỤM TỪ CỐ ĐỊNH Ngữ cố định Thành ngữ
(Mẹ tròn con vuông)

quát thì QN là loại ngữ cố định được quen dùng nhưng ít hoặc không có
tính hình tượng. [29, tr. 77]
Ý kiến trên bổ sung cho phần nhận định về QN là chúng có ít hoặc
không có tính hình tượng. Thật vậy, với tư cách là đơn vị ngôn ngữ
không có nghĩa thực mà chỉ có nghĩa chuyên dụng thì việc đặt ra vấn đề
“hình tượng” hoặc “biểu trưng” là vừa rất khó và cũng không thực tế.
Quan niệm này cũng không khác gì với các từ điển tiếng Việt mà chúng
tôi tổng hợp được rằng, khác với TN, QN có ý nghĩa có thể suy ra từ các

thành tố tạo nên nó một cách trực tiếp. Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với ý
kiến này, ví dụ thật khó hình dung được đâu là nghĩa TN của các QN
như Tôi thiết nghĩ, nói tóm lại, ấy thế mà,
Ngoài các định nghĩa về thuật ngữ QN mà theo chúng tôi, còn có
chỗ mơ hồ về các ví dụ minh hoạ, hai công trình từ điển tiếng Việt giải
thích các QN cụ thể
trong mục từ của mình là “cách dùng khẩu ngữ”,
hoặc “dùng ở đầu câu
”, hoặc “dùng làm thành phần phụ câu”. Ví dụ từ
điển tiếng Việt [19, tr.240) đã giải thích QN (nói) của đáng tội là khẩu
ngữ, dùng làm phần chêm trong câu
. Tổ hợp biểu thị sự chuyển ý để
nhằm thanh minh hoặc làm rõ thêm cho điều ít nhiều không hay vừa nói
đến ở trên; và các ví dụ là nói cho đúng ra, cho thoả đáng, thực ra thì.”
Ví dụ :
(5) Nhiều người cho rằng nó keo kiệt, nhưng của đáng tộ
i, nó không
có thế. [19, tr.40]
Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với quan điểm này, đặc biệt là nhận
định đặc trưng vị trí cú pháp của QN thường là “ở đầu câu
”.


Cũng như TN, QN là tổ hợp hai từ trở lên, mang tính cố định (tương đối)
về mặt kết cấu, tính TN về mặt nghĩa, có chức năng cấu tạo câu.
Nhưng khác với TN, QN không mang tính biểu trưng, tính hình
tượng. Cấu tạo QN thông thường theo cơ chế ẩn dụ, hoán dụ, so sánh
như TN. Phần lớn nghĩa của QN đều là nghĩa chức năng, được nhận ra
bằng việc lí giải từng cách dùng của nó. Cụ thể, ta phải xem
thử QN
đang xét có bao nhiêu cách dùng. Trong mỗi cách dùng, nó có công dụng
ngữ pháp, nghĩa học, dụng học hay liên kết văn bản/ hội thoại như thế
nào; xuất hiện ở vị trí ngữ pháp nào trong kiểu câu chứa nó, xuất hiện
trong tình huống điều kiện như thế nào? Ta thử tìm hiểu nghĩa của QN
“không biết”. Trước hết, cần phân biệt QN không biết với tổ hợp từ tự do
gồm p
hụ từ phủ định không cộng với vị từ biết làm trung tâm vị ngữ chỉ
định tình trạng nhận thức của chủ thể nêu ở chủ ngữ. QN “không biết”
thường ở đầu/cuối câu làm thành phần phụ tình thái.
QN không biết có cách dùng thông thường:
- Cách dùng 1: Trong kiểu cấu trúc: không biết + câu nghi vấn ?(a)
Ví dụ: (6) Không biết dạo này Hải có còn làm
ở công ti cũ nữa
không?
Khi nói ra phát ngôn có kiểu cấu trúc (a), người nói đang có vấn đề
khúc mắt cần phải suy nghĩ để tìm ra lời giải. Và, QN không biết biểu lộ
tâm trạng của người nói đang băn khoăn, trăn trở vì chưa tìm ra lời giải.
- Cách dùng 2: Trong kiểu cấu trúc: P+ thế + không biết ! (b)
Ví dụ: (7) Ồ, vẫn chưa tạnh à? Mưa lâu thế không biết !
Cấu trúc (b) thường được dùng trong tì
nh huống: xuất hiện một
trạng thái/ thuộc tính P ở mức độ cao khác thường, vượt ra ngoài mức độ

đi, không còn được hiểu là TN hay không để nhường chỗ cho một cái
quan trọng hơn; ngữ nghĩa chức năng mà chúng ta tạo ra cho phát ngôn.

Một đặc điểm lớn để phân biệt TN và QN là mức độ chặt chẽ về kết
cấu. TN thường có cấu trúc chặt chẽ, tuân thủ nhiều quy luật. Chẳng hạn,
TN tiếng Việt thường có cấu trúc đối xứng, là loại TN chiếm tỉ lệ cao
nhất (thường có bốn thành tố, hai thành tố đầu đối với hai thành tố sau,
ví dụ: mẹ tròn – con vuông, ăn chắc – mặc bền,…) trong đó có đối xứng
vần điệu. Loại phổ biến thứ hai là TN so sánh thường xuất hiện quan hệ
từ như (lạnh như
tiền, rẻ như bèo,…). Trong khi đó với QN ta lại có thể
thêm vào, bớt đi hoặc thay thế trong cấu trúc nội tại của chúng một đơn
vị hay một kết cấu tương đương khác cũng không ảnh hưởng đến ý nghĩa
chức năng mà nó đảm đương. Vấn đề là sao cho đạt được hiệu lực giao
tiếp chứ không phải là sự chuẩn xác về khái niệm như khi dùng TN. Đến
đây, chúng tôi có thể khái lược một số điểm
khác nhau cơ bản giữa TN
với QN như sau:
Tiêu
chí
so
sánh
THÀNH NGỮ QUÁN NGỮ

Cấu
tạo
Quan hệ cú pháp nội tại
Ngữ
nghĩa
TN có nghĩa khái niệm. Và
nghĩa của nó toát lên từ nghĩa
của toàn bộ tổ hợp, khác hơn,
mới hơn so với tổng số nghĩa
của các yếu tố trong tổ hợp.
Như vậy, ở TN, nghĩa thống
nhất thành một khối, có
tính biểu trưng, tính hình
tượng, bóng bẩy về mặt ý
nghĩa. TN Cá nằm trên thớt
nói lên tình trạng nguy hiểm
có thể de dọa sự sống còn.
Nghĩa của phần lớn QN đều là
nghĩa chức năng,
nghĩa tình
thái. Một số QN có tính thành
ngữ thấp, đã bị mờ đi, không còn
được hiểu là tính thành ngữ. Cách
hiểu QN thường không theo cơ
chế ẩn dụ, hoán dụ, so sánh như
TN mà gắn liền với từng cách
dùng của nó.
Chức
năng
TN mang chức năng định
danh hoặc chức năng miêu tả

(I) Là những QN thường chỉ là tên gọi bổ sung, không phải là tên
gọi chính thức của hiện thực khách quan được biểu thị như thực từ hay tổ
hợp từ tự do. Những cái tên gọi bổ sung này, trong một số ngữ cảnh cụ
thể, lại tỏ ra đắc dụng hơn là t
ên gọi chính thức bởi tính có cấu trúc và
tính khẩu ngữ tự nhiên của nó.
Ví dụ: ba xây, ba chống, hai tốt, ba đảm đang, ba sôi hai lạnh, bằng
được, phải lòng,…
Quán ngữ tiếng Việt
(I)
Quán ngữ
dùng chủ yếu
trong chức
năng NGHĨA
HỌC (II)
Quán ngữ
dùng chủ yếu
trong chức
năng DỤNG
HỌC


Nhìn chung, tác giả khá tỉ mỉ, chi tiết khi phân ra 4 tiểu l
oại QN
như trên. Và theo khảo sát chúng tôi, QNTT (QN chủ yếu dùng trong
chức năng dụng học) chiếm đa số (hơn 80%) trong các loại QN. Một số
QNTT cũng đa chức năng; có thể dùng trong cả chức năng ngữ nghĩa
học, dụng học hay liên kết văn bản. Loại QN này gần đây đã thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Chúng tôi sẽ đi sâu vào đề tài này ở
những chương sau.
1.2. Vấn đề tình thái trong ngôn ngữ học
1.2.1. Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ
Trong ngôn ngữ, vấn đề tình thái cũng đã được các nhà nghiên cứu
quan tâm từ rất lâu. Các công trình nghiên cứu về tình thái chủ yếu xoay
quanh những nội dung như: phạm trù tình thái, các loại hình tình thái,
những ý nghĩa tình thái được phản ánh trong các ngôn ngữ, các phương
tiện diễn đạt ý nghĩa tình thái,… Xét về phạm vi ý nghĩa tình thái, các
tác giả có sự khác biệt như:
John Lyons(1977, Semantics) cho rằng tình thái là “thái độ của
người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tính trạng m
à
mệnh đề đó miêu tả” (tr.452) và “tình thái đạo nghĩa liên quan đến tính
tất yếu hay tính có thể của hành vi được thực hiện bởi một chủ thể có
trách nhiệm về đạo đức và xem xét tình thái theo nội dung về tính nghĩa
vụ, sự cho phép và cấm đoán” (tr.822, 833).
Theo Palmer (1986, Mood and Modality), tình thái là thông tin ngữ
nghĩa của câu thể hiện thái độ hay ý kiến của người nói đối với điều
được nói ra và phân biệt tình thái nhận thức với tình thái đạo nghĩa. Theo

ông “Tình thái nhận thức liên quan đến tính khả năng, tính cần thiết và
mức độ cam kết của người nói đối với điều mà anh ta nói ra (tr.51), tình
thái đạo nghĩa lại liên quan đến tính hợp thức về đạo lí của hành động do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status