góp phần nghiên cứu một vài phương pháp ứng dụng trong tổng hợp pregnan từ phytostrerol thông qua androstendion - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN HOÁ HỌC

Lƣu Thị Kim Nhung GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU MỘT VÀI PHƢƠNG PHÁP ỨNG DỤNG TRONG TỔNG
HỢP PREGNAN TỪ PHYTOSTEROL THÔNG QUA ANDROSTENDION LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN


1.2 Phương pháp acetylen tổng hợp mạch bên pregnan 7
1.2.1 Ngưng tụ 17-cetoandrosten với acetylen 8
1.2.2 Chuyển hoá 17-etynylcacbinol đến dẫn xuất 17-etynylsteroid tương ứng `11
1.3 Tổng hợp mạch bên corticoid 16
1.3.1 Chuyển hoá nhóm 17-etynyl đến mạch bên corticoid 16
1.3.2 Chuyển hóa 20-cetopregnan đến mạch bên corticoid 20
1. 4 Tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan 21
1.4.1 Đưa mảnh 17α-hydroxy-16β-metyl vào 20-cetopregnan 21
1.4.2 Đưa nhóm metyl vào vị trí 16β phân tử corticosteroid 23
Chương 2: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
2.1 Tổng hợp mạch bên pregnan áp dụng phương pháp cyanhydrin 30
2. 2 Tạo mạch bên corticoid sử dụng hợp chất đa hóa trị của iod PhI(OAc)
2
42
2. 3 Nghiên cứu chọn lựa lập thể tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan 50
Chương 3: THỰC NGHIỆM 55
3. 1. Tổng hợp 17α-hydroxy-17β-cyanandrost-4-en-3-on (2) 55
3. 2. Tổng hợp 17α-hydroxy-3,3 (2,2-dimetyl propylen dioxy)-androst-5 -en-17β-
carbonitril (3) 55
3. 3. Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-17β-cyanandrost-5 ,16(17)-dien (4) 56
3. 4. Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-pregn-5, 16(17)-dien-20-one (5) 56
3. 5. Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-16α,17α-epoxy-pregn-5-en-20-one (6) . 57

2

3. 6. Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)-16α,17α-epoxy-20,20-dimetyl acetal-
21-hydroxy- pregn-5-en
(7) 57
3. 7. Tổng hợp 16α,17α-epoxy-21-hydroxy –pregn-4-en- 3,20-dion ( 8 ) 57
3. 8. Tổng hợp 3,3-(2,2-dimetyl propylen dioxy)- 17α-hydroxy -pregn-5-en -20-one (10) 58

Hiện nay Việt Nam phải nhập khẩu tới 90% hoạt chất làm thuốc, 100% các
thuốc có gốc steroid và nền công nghiệp Hóa dược gần như là chưa có, do vậy giá
thuốc rất cao so với mức thu nhập của người dân.
Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chương trình trọng
điểm quốc gia về Hoá - Dược từ 2007 đến 2015 có tính đến 2020, nhằm thúc đẩy
và tạo ra cú huých cho công nghiệp Hoá - Dược nước nhà phát triển. Tháng
10/2007, Đại hội Hoá - Dược diễn ra ở Hà Nội, Hội Hoá - Dược được thành lập, và
bàn bạc rất sôi nổi, hưởng ứng “Chương trình trọng điểm Hoá- Dược quốc gia”.
Phần lớn các ý kiến đều đồng nhất quan điểm cho rằng: Hiện nay, chương trình
Hoá - Dược Việt Nam muốn thành công vẫn phải ưu tiên đi vào các nguồn hợp chất
thiên nhiên như sterol đậu tương, flavonoid….[10].
Trước đây diosgenin và solasodin là nguyên liệu số 1 cho tổng hợp các loại
thuốc steroid. Tuy nhiên chúng phải gieo trồng trên đất nông nghiệp nhiều năm mới
có thu hoạch, do vậy giá thành cao. Từ lâu người ta đã ra sức tìm kiếm các nguồn
nguyên liệu rẻ tiền hơn. Các sterol thực vật (phytosterol) được chú ý đến nhiều nhất
vì chúng có trữ lượng rất lớn và có thể thu hồi được từ phế phụ thải công nghiệp
giấy, công nghiệp mía đường và công nghiệp dầu đậu tương. Điều này đã trở thành
hiện thực sau khi phát minh ra một số chủng vi sinh phân cắt chọn lựa mạch bên
các sterol đến các 17-cetosteroid: androstendion (AD), androstadiendion (ADD) và
9-hydroxyandrostendion (9-OH AD) [3, 4, 23, 99].
Một số công ty dược lớn trên thế giới “Apdzon’’ [60] và “Serl”[18] của Mỹ,
“Sering” [73] của LB Đức, “Mitsubisi” [49] của Nhật đã đưa ra thị trường một vài
dược phẩm đầu tiên được bán tổng hợp từ sterol thông qua 17-cetosteroid trung
gian [2].
Ở Việt Nam, từ những năm 1978-1980 đã có một số lượng lớn cán bộ khoa
học Viện Hoá học



Viện Khoa học và Công nghệ Việt nam (Viện KHVN

Năm 2006, lần đầu tiên Lưu Đức Huy và cộng sự Cuba đã công bố kết quả
chuyển hoá vi sinh rất hiệu quả phytosterol, nguyên liệu Việt Nam đến
androstendion (AD) và androstadiendion (ADD) [88].
Năm 2007, Bộ Khoa học  Công nghệ đã phê duyệt nhiệm vụ nghị định thư
hợp tác với Liên bang Nga “Nghiên cứu công nghệ vi sinh chuyển hoá phytosterol
đến androstendion (AD) và 9-hydroxy AD sử dụng trong công nghiệp Hoá-Dược”
do Lưu Đức Huy làm chủ nhiệm .
Vừa mới đây, Lưu Đức Huy và cộng sự Nga đã có công bố về công nghệ
chuyển hóa vi sinh phytosterol của Việt Nam đến AD và 9α-OH AD với hiệu suất
trung bình đạt 70% và 75÷80% tương ứng [98]. Công nghệ còn được nghiên cứu
cải tiến, nâng cấp nhờ áp dụng phương pháp xúc tác Immobil [38].

5

Về nguyên tắc khi nguyên liệu đầu là diosgenin hay solasodin, sau khi phân
cắt chọn lọc mạch nhánh ta đã có được mạch bên pregnan; khi chuyển sang sterol
ta nhận được 17-cetosteroid, tức là chưa có mạch bên pregnan. Như vậy, một trong
số các nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng mạch bên pregnan. Trong số nhiều
phương pháp xây dựng mạch bên pregnan chúng tôi trình bày trong phần tổng
quan, phương pháp cyanhydrin và phương pháp acetylen tỏ ra có triển vọng ứng
dụng nhất.
Từ phytosterol trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi hạn chế nghiên
cứu các phương pháp chính sau:
1. Phương pháp cyanhydrin tạo mạch bên pregnan.
2. Phương pháp tạo mạch bên corticoid sử dụng hợp chất đa hóa trị của iod
PhI(OAc)
2
.

3. Phương pháp chọn lựa lập thể tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan.

17
=C
20
.
4. Ứng dụng phản ứng Reformatxki: tương tác 17-cetosteroid với este của axit
cacboxylic thế -halogen có mặt Zn và sau đó oxy hoá liên kết đôi C
17
=C
20
.
5. Phương pháp acetylen, tức là 17-cetosteroit được ngưng tụ với acetylen; 17-
etynyl-17-hydroxy-androsten tạo ra sẽ được chuyển hoá đến pregnan bằng những
phương pháp khác nhau. Con đường acetylen bắt đầu phát triển chỉ vào những năm
gần đây khi có được khả năng rõ ràng 17-etynyl hoá định hướng lập thể 17-
cetosteroid hay là epime hoá hiệu quả trung tâm C
17
của 17-etynyl-17-
hydrocyandrosten nhận được ban đầu trong phản ứng ngưng tụ acetylen. Điều đó
đã kích thích mối quan tâm ứng dụng phương pháp này vào thực tiễn và cần thiết
tổng kết lại các tư liệu tham khảo mà cho đến nay trong các tổng quan mới chỉ
được đề cập rời rạc ở phạm vi tổng hợp mạch bên pregnan [4, 6, 7, 9]. Trong tổng
quan này chúng tôi sắp xếp bố cục theo thời gian phát triển của phương pháp
chuyển hoá 17-cetoandrosten đến 20-cetopregnan, đặc biệt lưu ý tới các công trình
gần đây nhất.
1.1 Phương pháp cyanhydrin tổng hợp mạch bên pregnan
Phương pháp rất có ý nghĩa thực tiễn tổng hợp mạch bên pregnan là phương
pháp cyanhydrin, bao gồm tương tác của các hợp chất 17-cetosteroid với
acetocyanhydrin (hay HCN) và ankyl hoá tiếp theo hợp chất 17α-hydroxy-17β-

7

phân epime 17β-cyan-17α-hydroxy xuất phát từ ∆
9
-AD với hiệu suất 93% trong
môi trường rượu /nước khi sử dụng phương pháp epime hoá mà bản chất của
phương pháp này là kết tủa dần dần đồng phân epime 17β-cyan bằng cách thay đổi
nồng độ nước.
O
O
O
H
O
C
N
O
H
C
N
O
8

Chuyển hoá xa hơn hợp chất 17β-cyan-17α-hydroxy- đến 20-cetopregnan đã
được thực hiện bằng tương tác các cyanhydrin tương ứng với các nhóm 3-ceto- và
17α-hydroxy đã được bảo vệ với metyl liti hay metyl magie bromua [37, 44, 74,
86].
Để tạo ra hợp chất ∆
16
- có thể sử dụng dẫn xuất 17α-cyan-17β-hydroxy

CH
3
HO
BR
2
R
S
S (CH
2
)
3
R
O
R
R
9

Áp dụng có kết quả tốt phương pháp “tác nhân che chắn acyl” đối với
trường hợp 9-hydroxy steroid có vòng D chứa nhóm “X” là oxygen hoặc sulfua,
“R” là nhóm ankyl (1-6C) hoặc aryl; sau khi xử lý với axit nhận được 17-acetyl-
17β-hydroxy steroid tương ứng.
Để nhận được đồng phân epime 17-acetyl mong muốn có thể dehydrat hóa
nó đến 16,17-dehydro steroid tương ứng.
Các hợp chất 9α-hydroxy- steroid với nhóm chức 3-ceto và 17-hydroxy đã
được bảo vệ, nhóm 17β-cyano có thể được chuyển hóa tới hợp chất 17-(1-imio
etyl) mà không cần tách ra, được chuyển hóa tiếp theo tới các hợp chất 17β-acetyl
tương ứng [77].


10

1.2.1 Ngưng tụ 17-cetoandrosten với acetylen
Etynyl hoá 17-cetosteroid ở điều kiện khống chế nhiệt động xảy ra từ phía 
của phân tử, tạo thành dẫn xuất 17-etynyl-17-hydroxy. Thông báo đầu tiên 17-
etynyl hoá 3-hydrocyandrostenon-17 bằng acetylen trong amoniac lỏng xuất hiện
vào năm 1937 [31, 32, 75, 77], cho đến những năm 1970 đã được xem như là sự
khẳng định vô luận về tính chất đặc thù lập thể của quá trình này, không phụ thuộc
vào điều kiện ngưng tụ acetylen. Theo một phương pháp cổ điển (Favorski) 17-
cetosteroid được xử lý bằng acetylen, có mặt bazơ (ancolat kali, liti diizopropylamit
v.v ); đồng thời các phản ứng với androstendion, androstandiendion xảy ra mà
không đụng chạm đến nhóm chức 3-ceto, cho hiệu suất cao (95



96%) 17-
etynylcacbinol [44, 50]. O
O
AD , ADD
CH CH ,
OH
95%
O
OH
C
CH

chế trực tiếp 17-etynylcacbinol bằng cách etynyl hoá trực tiếp 17-cetosteroid.
Trong trường hợp ngưng tụ ete-3-metylic estron với acetylen trong N-
metylpirolidon

/

KOH đã nhận được cùng với 17-etynylcacbinol như dự đoán
(mestranol), epime 17-etynylcacbinol (epimestranol) (87% và 13% tương ứng
theo đánh giá bằng sắc ký bản mỏng hay 7% epimestranol đã được tách ra bằng sắc
ký điều chế).
O
O
O
O
H
3
PO
4
OH
OH
HC
CH
C CH
O
O
O
O
OH
OH
HC

+
+
+
+

12

O
MeO
C CH
+
C CH
OH
OH
87%
13%
CH CH

Năm 1984, hãng Apdzon (Mỹ) đã “trình làng” phương pháp tổng hợp 17-
etinylcacbinol như sau [56]: 17-cetosteroid được ngưng tụ với nguồn acetylen
(C
2
H
2
, cacbuacanxi, kali hay những tác nhân khác sinh ra acetylen in situ), có mặt
bazơ mạnh (KOH, t-BuOK v.v ) và dung môi amin epime hoá (etylendiamin; 1,3-
propylendiamin; 1,2-diaminopropan; 1,2-diaminoxiclohexan v.v không dưới 5%);
đồng dung môi là THF, ete Et
2
O, dioxan đã khẳng định chắc chắn rằng vắng mặt

(dioxan), do vậy hiệu suất rất cao (92%) là chi tiết quan trọng của sáng chế này mà
các tác giả đã không đặc biệt lưu ý đến.

13 Ở đây chúng tôi xét thấy có sự tương tự với phương pháp cyanhydrin tổng
hợp corticosteroid, khi đó 17-cyan hoá đặc thù lập thể 17-cetosteroid đạt được
bằng cách kết tinh chọn lựa trực tiếp 17-nitril epime từ môi trường phản ứng trong
điều kiện cân bằng nhiệt động [14, 45, 58-62]. Phương pháp điều chế chọn lựa 17-
cyanhydrin này đã được công bố 48 năm trước đây [21], nhưng chỉ những năm gần
đây mới được quan tâm thoả đáng vì các sản phẩm trung gian có thể được sử dụng
trong tổng hợp corticoid. Xem xét tính chất tương tự rõ ràng giữa phương pháp
cyanhydrin và ví dụ duy nhất hiện nay được dẫn ra ở trên 17-etynyl hoá 17-
cetosteroid, có thể giả thiết rằng hướng này có thể phát triển trong thời gian tới.
1.2.2 Chuyển hoá 17α-etynylcacbinol đến dẫn xuất 17β-etynylsteroid tương
ứng
Chuyển hoá 17-etynylcacbinol đến các hợp chất với nhóm 17-etynyl, là
nhóm chức hai nguyên tử C cần thiết để xây dựng mạch bên pregnan được thực
hiện nhờ hai con đường sau

: con đường thứ nhất bao gồm quá trình đề hydrat hoá
nhóm 17-hydroxy, tạo ra 
16
-enin; con đường thứ hai là epime hoá 17-
etynylcacbinol qua 17-este của chúng.
Trước nghiên cứu của Lưu Đức Huy và cộng sự [2], chưa được biết các thử
nghiệm epime hoá trực tiếp 17-etynylcacbinol đến 17-etynylcacbinol bỏ qua giai
đoạn 17-este hoá. Chỉ có bằng sáng chế chuyển hoá rượu 17-etynylic thành 17-
epime của nó trong điều kiện tổng hợp acetylen được thực hiện trong dung môi

C CH
C CH
14

14

nhóm 17-etynyl; đồng thời trong một số trường hợp cả hai giai đoạn này được kết
hợp làm một. Hướng này bắt đầu phát triển vào những năm 1970 từ những nghiên
cứu ít có ý nghĩa thực tiễn epime hoá 17-acetat-17-etynylcacbinol trên xúc tác
Al
2
O
3
, tuy nhiên cho ta khả năng có tính nguyên tắc thực hiện quá trình này [34,
35, 63, 65]. Ví dụ, mestranol acetat chỉ bị epime hoá 5% đến epimestranol, trong
khi đó cần lưu ý rằng 
4
-3-ceto-17-etynyl-17-acetat không bị đồng phân hoá và
sản phẩm chính là enin [35].

C
CH
OAc
MeO
Al
2
O
3
C CH
+

Ag
+
, HCO
2
H
O
Hal
O
Hal
KHCO
3
MeOH
C CH
OAc
OH
CH
3
A
B
C CH
C CH C CH
C CH
C CH
CH
C
C
CHO
H

15

trifloacetat-17-etynylcacbinol sau khi điều chế in situ, được đun nóng có mặt
O
O
O
OCOH
C CH
Hg
2+
,HCO
2
H
OCOH
O
NO
2
Ag
+
,HCO
2
H
OH
+
C
CH

16

muối thuỷ ngân và axit muravic hay acetic, dung môi là bazơ lưỡng cực hay là
không có proton [66]. Các tác giả xác nhận vắng mặt quá trình C
17

nói

đến



trên

bằng 0,1



0,2 mol
AgNO
3
và HCO
2
H trong dung môi bazơ N-metylpyrolidon ở 20
0
C, sau đó khi cần
thiết người ta thuỷ phân 17-formiat vừa tạo thành. Ở đây, este nitro tỏ ra ưu việt
hơn; thử nghiệm không thành công khi chuyển hoá tương tự dẫn xuất benzoat.

R

=


H
O
OCOR
OCOCF
3
O
82 95%

C
CH

17 Không thể không nhấn mạnh các phương pháp thành công nhất epime hoá
17-etynylcacbinol đến 17-etynylcacbinol qua 17-sulphonat và 17-nitrat [45],
[69, 99]. Chẳng hạn, 17-sulphonat mestranol bị epime hoá xúc tác muối Ag
+

trong THF ẩm thành epimestranol với hiệu suất cao lạ thường (95%) [99]. Quá
trình 
16
- tách loại không mong muốn metalsulphoaxit thực tế không đáng kể
(5%). Trong các điều kiện tương tự este 17-nitro-17-etynyl-
1,4
-androstadienon
cho 89% hiệu suất 17-hydroxy-17-etynylandrostenon [45]. Vai trò xúc tác epime
hoá có thể dùng các muối đồng hoá trị một [69].
Có hai quan điểm giải thích cơ chế nghịch đảo xúc tác kim loại trung tâm
C

Lưu Đức Huy và cộng sự [29] lần đầu tiên đã áp dụng thành công phản ứng
Nicholas [43] để epime hoá trực tiếp 17-etynylcacbinol bỏ qua giai đoạn este hoá.
Phương pháp tỏ ra là một phương pháp chung trong tổng hợp một lớp chất bất kỳ
O
O
OH
M
C CH
-
+
O
N
+
ONO
2
ONO
2
OH
+
C CH
C CH
C
CH
M
+
O
O
SO
2
O

2
(CO)
6
HBF
4
.Et
2
O
-78
o
C
C
CH
Co
2
(CO)
6
BF
4
HX
C
CH
Co
2
(CO)
6
OH(X)
C
CH
OH(X)




70%, bằng cách đun nóng với KOAc trong dung môi phân
cực không có proton [42].
Các phương pháp hoàn chỉnh và thành công đã được thảo luận ở trên tổng
hợp 17-etynylandrosten thúc đẩy chúng ta tìm kiếm những phương pháp mới có
khả năng chuyển hoá nhóm 17-etynyl đến mạch bên corticoid. Vào năm 1985 đã
xuất hiện hai hướng nghiên cứu và cả hai đều dự kiến sử dụng các hợp chất hữu cơ
iod đa hoá trị [45, 71, 97]. Ở hướng nghiên cứu thứ nhất, 17-acetoxy-17-
etynylandrost-1,4-dien-3-on được chuyển hoá thành 17,21-diacetoxypregn-1,4-
dien-3,20-dion [45]. Giai đoạn chìa khoá là phản ứng xảy ra định lượng tạo thành
21,21-diiodua khi tương tác 17-etynyl-17-acetat với hỗn hợp iod

/ axit peracetic;
trong khi đó dẫn xuất 17-hydroxy của nó không phản ứng. Tuy nhiên, thế iod
bằng nhóm acetoxy trong 21,21-diiodua và monoiodua xảy ra khó khăn và có thể

19

đạt được chỉ khi xử lý tetrametyl amoniacetat

/ N-metylpyrolidon. Cần lưu ý rằng
sự tạo thành 21,21-diiodua trong các điều kiện này là ngoài dự đoán đối với các tác
giả có ý định áp dụng phản ứng được phát minh năm 1971 cho các steroid (Ogata
và Urasaki) [47].


2
H. Vic-acetoxyiodua tạo thành dễ
dàng bị thuỷ phân đến -oxyceton [100, 101]. Tiếc rằng hướng nghiên cứu đó
không có ý nghĩa thực tiễn trong trường hợp steroid. Ở đây, phản ứng xảy ra mà
không có sự tham gia của AcOI (tốc độ tạo thành nó từ CH
3
CO
3
H và I
2
có thể nhỏ)
và nhóm 17-acetat tham gia làm bền hoá điện tích dương ở trung tâm cacbocation.
C CH
O
OAc
i
ii
CH
3
CONHBr
HOAc
CHBr
2
OAc
(MeO)
3
P
O
OAc
95%

CO
2
H [100, 101]) khi
tương tác 17-epime-17-etynylandrost-4-en-17-ol-3-on và 17-acetat của chúng
không làm thay đổi tiến trình phản ứng, đồng thời trong trường hợp sau dẫn tới C
17

epime 21,21-dibromua tương ứng (17-etynylcacbinol trơ trong các điều kiện này).
Vắng mặt quá trình epime hoá vào C
17
trong cả hai dãy hoá lập thể gây nên
nghi ngờ đã được nêu lên ở [93] cơ chế tham gia của nhóm 17-acetat đòi hỏi khi
thừa nhận trạng thái chuyển tiếp A nghịch đảo một phần hay toàn bộ hoá lập thể
trung tâm C
17
trong phản ứng với 17-acetoxy-17-etynylandrost-4-en-3-on. Có
thể giả thiết nhóm acetat bên cạnh hoạt hoá liên kết acetylen quyết định nhanh hơn
ảnh hưởng điện tử của nhóm acetat còn lại. Cộng hợp nhanh chọn lựa vùng hai
phân tử AcOI vào liên kết ba và sau đó vào liên kết đôi trong hợp chất trung gian
kiểu B (với hoá lập thể ban đầu trung tâm C
17
, tạo ra 21,21-diiodua [102].
Ph
I
(OAc)
2
I

HC C R
HO
O
OAc
OAc OAc
C
C
H
+
CH
C
O
O
+
C
C
OAc
H
H
O
O
OAc
OMe
C
C
hay lµ
A
B
C
I

deoxy-16,17-epoxy corticosterol (43%). Tuy nhiên, có mặt các nhóm thế có thể
tích lớn ở vị trí 17- (ví dụ: -OMe) hay các nhóm chức khác nhau trong vòng C đều
ảnh hưởng âm lên hiệu quả của quá trình.
1.3.2 Chuyển hóa 20-cetopregnan đến mạch bên corticoid
Các hợp chất 20-cetopregnan nhận được từ phản ứng metyl hóa dẫn xuất
17- cetosteroid với HCN theo phương pháp cyanhidrin hoặc nhờ phản ứng hydrat
RO
OH
FiFA
CH
2
Cl
2
/CH
3
CN/H
2
O
80
0
C ,19h
OH
C
O
OH
R=Ac (53%)
R=Ts (60%)
C CH
H
2

O
H
OH
R
C C
R
Ph
I
(OCOCF
3
)
2
I
Ph CF
3
CO
2
+
-
I
Ph CF
3
CO
2
+
-
I
Ph CF
3
CO

O
OH

-Phương pháp mới thứ 2: sử dụng hệ oxi hóa Ph(IOAc)
2
/KOH/MeOH [40,
41]:

X
Y
O
X
Y
O
OH
Ph(IOAc)
2
/KOH/MeOH

Lưu Đức Huy và cộng sự [2] cũng đã thử nghiệm áp dụng thành công phản
ứng Moriarty [40, 41] để tiến hành 21-hydroxyl hoá trực tiếp một vài 17-
acetylsteroid sử dụng hệ xúc tác PhI(OAc)
2
/

KOH

/

MeOH. Cơ chế phản ứng được

0
C; 1,5h

23 Hiện nay nhóm nghiên cứu này vẫn đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện
phản ứng Moriarty.
1. 4 Tổng hợp 16β-metyl-17α-hydroxy pregnan
1.4.1 Đưa mảnh 17α-hydroxy-16β-metyl vào 20-cetopregnan
Phương pháp bao gồm quá trình epoxit hoá bằng hydroperoxit trong môi
trường kiềm hợp chất ∆
16
-20-ceto pregnan, sau đó mở vòng chọn lựa lập thể bằng
metylmagiebromua là ưa dùng nhất cho phép đồng thời đưa các nhóm 17α-
hydroxy- và 16β-metyl vào phân tử 20-cetopregnan.
Dehydrat hoá nhóm 17α-hydroxy- đến sản phẩm 16(17)-dehydro tương ứng
có thể được thực hiện, ví dụ bằng hỗn hợp oxyclorua phospho và pyridin. Phương
pháp với việc este hoá sơ bộ nhóm 17-hydroxy bằng axit metyl sulfonic và xử lí
tiếp theo bằng kolidin là phương pháp lựa chọn. Khi đó trong cả hai trường hợp
nhóm 9α-hydroxy được bảo tồn. Tuy nhiên các điều kiện tiến hành phản ứng có thể
được thay đổi như sau, sẽ đồng thời tách loại cả hai nhóm hydroxy ở C-9 và C-17.
Phối kết hợp các phản ứng là phương án được ưu tiên trong trường hợp khi phản
ứng dehydrat hoá đến ∆
9(11)
. Giải phóng các nhóm bảo vệ C-3 và C-17 xảy ra đồng
thời với giai đoạn tổng hợp tiếp theo. Ví dụ xử lí bằng axit sulfuric 9α-hydroxy-
steroid đã bảo vệ các nhóm 3,3-etylendioxy và 17α-tetrahydropyranyloxy, chỉ một
giai đoạn cho hợp chất 17α-hydroxy-3-ceto-∆
9(11)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status