ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN HÓA HỌC
************** ****************
Nguyễn Việt Dũng
NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH KHOÁNG SERICIT ỨNG DỤNG LÀM
CHẤT ĐỘN GIA CƯỜNG CHO VẬT LIỆU POLYME
Chuyên ngành: Hóa học Hữu cơ
Mã số: 60 44 27
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGÔ KẾ THẾ Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG i
DANH MỤC CÁC HÌNH ii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TÔ
̉
NG QUAN 2
1.1. Chấ t độn trong công nghiệp Vật liệu Polyme 2
2.3.3. Nghiên cứu quá trình lưu hoá của cao su 31
2.3.4. Khảo sát tính chất điện của vật liệu cao su 31
2.3.5. Nghiên cứu cấu trúc hình thái của vật liệu 32
2.3.6. Nghiên cứu các tính chất của sơn và màng sơn 32
Chương 3. KÊ
́
T QUA
̉
VÀ THA
̉
O LUẬN 34
3.1. Nghiên cứu biến đổi bề mặt sericit 34
3.1.1. Ảnh hưởng của môi trường phản ứng đến quá trình silan hóa bề mặt
sericit 34
3.1.2. Ảnh hưởng của nồng độ silan đến phản ứng silan hóa bề mặt sericit . 36
3.1.3. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến quá trình silan hóa bề mặt
sericit 37
3.1.4. Ảnh hưởng của quá trình polyme hóa silan đến độ bền của lớp bề mặt
biến đổi 38
3.1.5. Xác định mức độ silan hóa sericit bằng phân tích nhiệt 40
3.2. Nghiên cứu khả năng gia cường sericit biến đổi bề mặt cho vật liệu CSTN 41
3.2.1. Khả năng trộn hợp của bột khoáng sericit với CSTN 42
3.2.2. Ảnh hưởng của bột khoáng sericit đến quá trình lưu hóa CSTN 43
3.2.3. Ảnh hưởng của bột khoáng sericit đến tính chất của vật liệu CSTN 45
3.2.4. Ảnh hưởng của khoáng sericit đến độ cách điện của vật liệu cao su 47
3.2.5. Ảnh hưởng của khoáng sericit đến độ bền nhiệt của vật liệu 48
3.2.6. Ảnh hưởng của bột khoáng sericit biến đổi bề mặt đến cấu trúc hình
thái của vật liệu 49
3.3. Nghiên cứu ứng dụng sericit để tăng cường khả năng bảo vệ cho hệ sơn pek-
Khảo sát khả năng trộn hợp của CSTN với các chất gia cường khác nhau ở
50°C
Bảng 3.3
Khảo sát khả năng trộn hợp khoáng sericit với CSTN ở 60°C
Bảng 3.4
Khả năng lưu hoá của tổ hợp CSTN/Sericit
Bảng 3.5
Tính chất cơ lý của các mẫu vật liệu CSTN/sericit
Bảng 3.6
Tính chất điện của vật liệu CSTN/sericit
Bảng 3.7
Thành phần sơn nghiên cứu
Bảng 3.8
Tính chất của sơn
Bảng 3.9
Tính chất cơ lý màng sơn
Bảng 3.10
Độ bền hóa chất màng sơn
Bảng 3.11
Kết quả thử nghiệm mù muối sau 480 giờ
Bảng 3.12
Điện trở của màng sơn sau 56 ngày thử nghiệm trong dung dịch NaCl 3,5%
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình
đẳng hướng (A) và không đẳng hướng-mica (B)
Hình 2.1
Phân bố kích thước hạt sericit nghiên cứu
Hình 3.1
Phổ FT-IR của khoáng sericit biến đổi bề mặt bằng 3-APTMS 1% trong
ethanol ở môi trường phản ứng (a) sericit ban đầu, (b) môi trường trung
tính và (c) môi trường axit
Hình 3.2
Cơ chế thủy phân của các phân tử silan trong môi trường axit
Hình 3.3
Phổ FT-IR của khoáng sericit biến đổi bề mặt bằng 3-APTMS trong
ethanol (a) sericit ban đầu; (b) 0,5% 3-APTMS; (c) 1% 3-APTMS và (d)
4% 3-APTMS
Hình 3.4
Phổ FT-IR của khoáng sericit biến đổi bề mặt bằng 3-APTMS 1% trong
ethanol với thời gian phản ứng khác nhau (a) sericit không xử lý; (b) 1 giờ;
(c) 4 giờ và (d) 24 giờ
Hình 3.5
Phổ FT-IR của khoáng sericit biến đổi bề mặt bằng 3-APTMS 1% trong
ethanol trước và sau khi sấy ở 50°C (a) sericit ban đầu, (b) trước khi sấy,
(c) sau khi sấy
Hình 3.6
Giản đồ phân tích nhiệt (a) Sericit ban đầu (b) Sericit được xử lý trong 4
giờ ở dung dịch 1% silan, môi trường axít
Hình 3.7
Giản đồ phân tích nhiệt của CSTN/sericit
Hình 3.8
Ảnh SEM mẫu CSTN có sericit ban đầu
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Hình 3.23
Phổ tổng trở Mẫu EP3 sau 56 ngày thử nghiệm trong dung dịch NaCl 3,5%
Hình 3.24
Phổ tổng trở Mẫu EP4 sau 56 ngày thử nghiệm trong dung dịch NaCl 3,5%
Hình 3.25
Phổ tổng trở Mẫu EP5 sau 56 ngày thử nghiệm trong dung dịch NaCl 3,5%
Hình 3.26
Ảnh SEM mẫu sơn có sericit chưa biến đổi bề mặt a: 10 % sericit; b: 20 %
sericit
Hình 3.27
Ảnh SEM mẫu sơn có 20 % sericit đã biến đổi bề mặt Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
iv
CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
CSTN : Cao su thiên nhiên
3-APTMS : 3 – Aminopropyltrimetoxysilan
VTMS : Vinyltrimetoxysilan
HDPE : polyetylen tỷ trọng cao
M
min
: momen xoắn cực tiểu
M
min
: momen xoắn cực đại
TC90 : Thời gian lưu hóa ở 90%
ASTM : Tiêu chuẩn đo lường vật liệu Hoa Kỳ
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
1
MỞ ĐẦU
Sericit được biết đến là một khoáng chất công nghiệp có những tính năng đặc
biệt, nên đã trở thành một mặt hàng thương mại có giá trị kinh tế cao trên thế giới từ
hàng trăm năm nay. Tuy vậy ở Việt Nam, mặc dù có trữ lượng khá lớn nhưng nó
mới chỉ được quan tâm dưới dạng tiềm năng khai thác, các nghiên cứu ứng dụng
khoáng sericit trong các lĩnh vực khác nhau còn rất hạn chế.
Vừa qua, Viện Khoa học Vật liệu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam đã chủ trì một đề tài cấp nhà nước về nghiên cứu công nghệ chế biến khoáng
sản sericit tại mỏ Sơn Bình, Hà Tĩnh. Việc nghiên cứu ứng dụng khoáng vật sericit
là sản phẩm của đề tài này trong các loại vật liệu polyme là một vấn đề hết sức mới
mẻ ở Việt Nam nhưng vô cùng cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng thực
tiễn cao.
Xuất phát từ những quan điểm nêu trên, em đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu
biến tính khoáng sericit ứng dụng làm chất độn gia cường cho vật liệu polyme” để
thực hiện luận văn thạc sĩ khoa học của mình. Trong khuân khổ của một luận văn
thạc sĩ, em đã đề ra những mục tiêu nghiên cứu cho đề tài như sau:
Xác định được cơ chế của phản ứng biến đổi bề mặt khoáng sericit bằng
hợp chất silan
Xác định khả năng gia cường cho vật liệu polyme trên cơ sở cao su thiên
nhiên và sơn epoxy.
Luận văn là một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước
KC.02.24/06-10 do Viện Khoa học Vật liệu chủ trì. Quá trình nghiên cứu được thực
hiện chủ yếu tại phòng nghiên cứu Vật liệu Polyme & Compozit, Viện Khoa học
Vật liệu. Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần khẳng định cũng như
nâng cao giá trị sử dụng của khoáng sericit. Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
một số tính chất đặc trưng của vật liệu đã được cải thiện như sự kháng rách, tính
mềm mại, kháng mài mòn, cách nhiệt, tăng độ cứng, môđun, tích nhiệt thấp, tính
đàn hồi cao và màu sắc không rõ rệt. Kết hợp với sự thay đổi trong quá trình sản
xuất, cần phải thích nghi với các quá trình xử lý bề mặt chất độn như xử lý nhiệt
trong quá trình trộn hợp với cao su, xử lý nhiệt với sự có mặt của các chất hoạt hóa
hay việc sử dụng các tác nhân ghép nối (titanat, silan).
Tuy nhiên, việc sử dụng oxit silic đã làm tăng giá thành sản phẩm, trong
nhiều trường hợp, giá thành của sản phẩm tăng lên đáng kể, do đó người ta phải kết
hợp sử dụng các chất độn khoáng khác như sét, đá vôi (CaCO
3
). Điều này lại làm
giảm các tính năng kỹ thuật của sản phẩm.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
3
Sericit là khoáng vật tự nhiên, trong đó hàm lượng oxit silic chiếm thành phần
chủ yếu. Cùng với các đặc trưng về hình dạng, khoáng vật này ngày càng trở nên
quan trọng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sử dụng làm chất độn gia cường trong
công nghiệp cao su và chất dẻo. Sericit trong các vật liệu polyme đã có nhiều ảnh
hưởng tích cực đến các tính chất của vật liệu.
1.2. Khong sericit
Sericit là dạng thù hình ẩn tinh (vi tinh thể), công thức hoá học của sericit là
KAl
2
(OH)
2
(AlSi
3
O
cách điện tốt (độ bền điện 200kV/mm).
- Bền hóa chất, trơ với dung dịch kiềm và axit.
- Không thấm nước.
- Chống tia UV tốt.
Sericit có thành phần và cấu trúc tương tự kaolinit nên nó có một số tính chất
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
4
của sét như dễ phân tán trong nước và trong dung môi hữu cơ.
Sericit bắt đầu được khai thác và sử dụng nhiều từ giữa thế kỷ 19. Sericit tự
nhiên nói chung được khai thác, chế biến và sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở những
nước công nghiệp phát triển. Lĩnh vực sử dụng sericit rất rộng, trong công nghiệp
điện tử, công nghiệp điện, xây dựng, chế tạo sơn và các chất phủ, chất độn trong
công nghiệp nhựa, cao su, trong công nghiệp dầu khí và cả trong công nghiệp hóa
mỹ phẩm….
Tổng sản lượng sản phẩm sericit năm 2006 là 342 000 tấn. Những nước khai
thác hàng đầu thế giới phải kể đến là Mỹ, Nga, Hàn Quốc, Canada, Pháp, Đài Loan,
Malysia, Brazin. Giá trị của các sản phẩm sericit phụ thuộc vào độ sạch, độ mịn, độ
trắng và nhất là hàm lượng các kim loại nặng còn lại trong sản phẩm. Giá trung bình
của bột sericit chế biến theo phương pháp khô là 237 USD/tấn, theo phương pháp
ướt là 784 USD/tấn. Sericit thương mại sach, đã được sử lý bề mặt có thể lên tới 15
000 đến 40 000 USD/tấn [28].
Theo thông tin của USGS, nhu cầu về các sản phẩm sericit tăng 1-3% mỗi
năm, chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp sơn phủ, gia cường cho các vật liệu
polyme, nhựa đặc chủng trong ô tô, và công nghiệp hóa mỹ phẩm.
Sericit tự nhiên có dạng bột mịn, được sử dụng trong công nghiệp chế tạo
sơn cao cấp, dung dịch khoan, dung dịch bôi trơn động cơ Ngày nay, khi khoa
học và công nghệ đã phát triển, cùng với nhu cầu ngày càng cao của các ngành kinh
tế quốc dân, người ta đã tìm thấy những tính năng đặc biệt và công dụng rất nhiều
dạng kim và dạng sợi có những ảnh hưởng sâu sắc bởi tỷ lệ bề mặt của chúng.
Sericit thuộc nhóm mica muscovit – một trong hai loại khoáng chủ yếu của
nhóm mica được đặc trưng bởi hình dạng phiến, dẹt và có thể bóc tách dễ dàng
(hình 1.1). Điều này cho phép có thể phân chia hay bóc tách thành các hạt có tỷ lệ
bề mặt cao từ mỏng đến rất mỏng, bền chắc và mềm dẻo. Các mảnh thủy tinh cũng
có hình dạng dẹt với tỷ lệ bề mặt cao. Nhưng với bản chất dễ vỡ, các mảnh thủy
tinh rất khó có thể tạo hình và trộn hợp với polyme như sericit.
Hình cầu
Hình Khối lập phương
Hình kim
Hình khối hộp
Hình phiến (tấm)
Hình sợi
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
6
Hình 1.1: Ảnh SEM khoáng sericit
Hình dạng dẹt độc đáo của sericit rất có lợi khi đưa chúng vào trong các vật
liệu khác nhau. Do kích thước chiều dài và chiều rộng là tương đương, chiều dày rất
nhỏ nên sericit là chất gia cường nhị phương giúp cho độ co ngót của sản phẩm về
cơ bản không thay đổi khi tạo hình. Sợi thủy tinh và vật liệu dạng sợi giống như
wollastonit có sự khác nhau rất lớn về kích thước chiều dài và chiều rộng. Vì thế,
các sợi có xu hướng sắp xếp theo hướng song song với nhau cùng với quá trình chế
tạo vật liệu. Sự định hướng này gây ra sự khác nhau đáng kể về độ co ngót theo
chiều ngang và chiều dọc dẫn đến sự cong vênh của sản phẩm. Khi thêm sericit vào
trong vật liệu polypropylen độn sợi thủy tinh đã làm giảm đáng kể phần sản phẩm
cong vênh. Có mặt sericit sản phẩm co ngót đồng đều hơn, tổng sự co ngót giảm đi
và được xác định bởi hệ số giãn nở nhiệt tuyến tính (CLTE). Điều này khá quan
8
này có tỷ lệ bề mặt cao (các hạt dạng kim, sợi hoặc phiến), chúng sẽ che chắn tốt
hơn và lan truyền độ cứng dọc qua chất nền.
Với các khoáng sericit, tỷ lệ bề mặt được định nghĩa là tỷ lệ trung bình của
đường kính trung bình của tất cả các hạt tới độ dày trung bình của tất cả các hạt.
Cho đến gần đây vẫn chưa thể xác định chính xác tỷ lệ bề mặt của các sản phẩm
khác nhau. Người ta có thể dự đoán tỷ lệ bề mặt bằng phương pháp kính hiển vi
điện tử quét khi đo đường kính và độ dày của các hạt riêng rẽ. Ngày nay có thể thực
hiện được việc xác định này với thiết bị xác định kích thước hạt hiện đại.
Sericit trong tự nhiên có dạng hạt mịn và cấu trúc lớp của mica muscovit. Tỷ
lệ bề mặt cao tạo ra liên kết giữa các lớp riêng rẽ với lực vừa phải. Điều này làm
cho nó có thể bóc tách dễ dàng giữa các lớp để tạo ra các phiến mỏng hơn. Đây là
một lợi thế của sericit so với các khoáng mica cùng loại, các khoáng mà có tỷ lệ bề
mặt thấp hơn nên khó có thể tách lớp với bề mặt cao. Tỷ lệ bề mặt cao sẽ có ảnh
hưởng quan trọng đến môđun giãn dài của vật liệu.
1.3.3. Màu sắc và các ảnh hưởng
Muội than có màu đen, chính điều này đã làm hạn chế nhiều ứng dụng của
chúng. Các khoáng mica có nhiều màu sắc khác nhau, muscovit mica có màu trắng
bạc đến trắng nhạt, phlogopit mica có màu đồng đến nâu sẫm hoặc đen. Sericit
thuộc loại muscovit mica có màu sáng, chính điều này cũng làm tăng lợi thế sử
dụng của sericit trong các ứng dụng mang mầu.
Hình 1.2: Bột khoáng sericit
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
9
Có thể thêm các chất mầu vào vật liệu có chứa sericit để tạo ra các vật liệu có
màu.
1.3.4. Các tính chất quan trọng khác của sericit
được sử dụng phổ biến hiện nay là phương pháp sử dụng các tác nhân ghép nối
silan.
Các tác nhân ghép silan là các hợp chất hóa học trên cơ sở silic có chứa hai
nhóm hoạt động chính là nhóm vô cơ và hữu cơ trên cùng một phân tử. Hầu hết các
tác nhân ghép silan được sử dụng rộng rãi gồm có một thành phần hữu cơ và ba
thành phần vô cơ có khả năng thủy phân với cấu trúc điển hình của nó là [15]:
(RO)
3
SiCH
2
CH
2
CH-X
Trong đó RO là nhóm có khả năng thủy phân như: metoxy, etoxy hay
axetoxy và X là nhóm hữu cơ chứa các nhóm chức như amin, metacryloxy,
epoxy,…
Một tác nhân ghép silan sẽ hoạt động ở bề mặt phân cách pha giữa chất độn
vô cơ (như thủy tinh, kim loại hay khoáng chất) và vật liệu hữu cơ (như polyme hữu
cơ, lớp phủ hay chất kết dính) để liên kết hay ghép nối hai loại vật liệu ít tương
thích này [4].
Hình 1.3: Cầu nối silic các chất vô cơ với chất nền hữu cơ
Hợp chất silan trước hết được biết đến như là tác nhân làm cho quá trình tạo
mẫu các vật liệu polyme có chứa các chất độn rắn vô cơ và chất màu trở nên dễ
dàng và ổn định, các chất phân tán tốt hơn.
Bề mặt của chất độn được chức hóa để cải thiện khả năng tương tác pha với
chất nền polyme thông qua các tương tác hay các phản ứng hóa học giữa polyme và
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
Đối với các hệ nhựa nhiệt dẻo, việc cải thiện khả năng phân tán sẽ dẫn đến
các kết quả:
Nồng độ chất độn hay chất màu đưa vào hệ cao hơn
Độ nhớt của vật liệu thấp hơn
Khuyết tật trên bề mặt vật liệu thấp hơn
Tính chất cơ lý tốt hơn
Tính chắn sáng của các chất màu tốt hơn (ví dụ: TiO
2
)
Với các hệ nhựa rắn, khả năng phân tán của chất độn tốt hơn thường đưa đến
kết quả làm giảm khả năng tạo bọt không khí trong sản phẩm, độ nhớt ở trạng thái
lỏng thấp hơn. Cho phép chảy dễ dàng hơn trong quá trình tạo mẫu và làm tăng khả
năng sử dụng tỷ lệ các chất độn giá rẻ.
b. Giảm độ nhớt
Quá trình đưa chất độn vào trong polyme nóng chảy làm tăng độ chảy nhớt
của chất hỗn hợp. Độ nhớt tăng phụ thuộc vào nhiều thông số như:
Độ nhớt của polyme nóng chảy
Nồng độ chất độn
Khả năng kết dính giữa polyme và chất độn
Phân bố kích thước hạt chất độn
Xử lý các hạt chất độn với silan làm cho khả năng của chất độn với polyme
tốt hơn, giúp cho các chất độn phân tán tốt hơn và làm cho hỗn hợp có độ nhớt thấp
hơn so với chất độn không được xử lý. Điều này làm cho quá trình gia công trở nên
dễ dàng hơn, độ đồng nhất cao hơn, phẩm chất bề mặt sản phẩm tốt hơn, nồng độ
chất độn đưa vào cao hơn.
Hình dưới cho biết ảnh hưởng của việc xử lý bề mặt bằng hợp chất silan đến
nhiệt độ nóng chảy và phần trăm mômen xoắn trong quá trình tạo bán thành phẩm
PE/TiO
2
ở nồng độ 80% TiO
Bảng 1.1: Cải thiện tính chất điện với tác nhân phân tán silan xử lý thạch anh gia
cường cho nhựa epoxy
Hệ
Hằng số điện môi
Hệ số tiêu hao
Khô
Ướt*
Khô
Ướt*
Nhựa không có thạch anh
3.44
3.43
0.007
0.005
Thạch anh không xử lý
3.39
14.60
0.017
0.305
Thạch anh xử lý bằng Z-6040
3.40
3.44
0.016
0.024
Thạch anh xử lý bằng Z-6011
3.46
3.47
0.013
0.023
* sau 72h ngâm trong nước sôi
một nguyên tử được thay thế bằng một nguyên tử Al hóa trị 3 làm mất cân bằng
điện tích ở mặt này. Điện tích âm của lớp này được cân bằng bởi 1 lớp các ion K
+
[20].
Hình 1.8: Cấu trúc tinh thể sericit
Các ion K
+
nằm ở các hốc trống vòng sáu cạnh oxy trên bề mặt cơ sở của tứ
diện Si
3
Al. Sericit có thể bóc tách dọc theo mặt phẳng của lớp ion K
+
. Điều này là
do các liên kết hóa trị trong các lớp của nhôm silicat bền vững hơn các liên kết ion
Lớp bát diện
diện
Lớp tứ diện
Lớp tứ diện
Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nguyễn Việt Dũng
Trường ĐH Khoa học Tự Nhiên Lớp K21 - Hóa học Hữu cơ
16
giữa các lớp. Chính vì vậy, sericit có thể bóc tách dễ dàng giữa các lớp có bề mặt
nhẵn bóng.
Bề mặt của sericit bao gồm các nguyên tử oxy được liên kết cộng hóa trị với
các nguyên tử silic (75%) và các nguyên tử nhôm (25%) [24]. Không có nhóm
hydroxyl nào trên bề mặt. Các nguyên tử oxy được sắp xếp tạo thành các hốc trống
với diện tích vào khoảng 0,18 nm