hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ ngân hàng nhà nước việt nam - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TRẦN THỊ NGỌC TÚ

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.TRỊNH THỊ HOA MAI

Hà Nội – 2008

Phân loại kiểm toán
9
1.2.

Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương 16
1.2.1.

Khái niệm kiểm toán nội bộ NHTW
16
1.2.2.

Vai trò của kiểm toán nội bộ NHTW
17
1.2.3.

Nguyên tắc hoạt động
19
1.2.4.

Quy trình kiểm toán nội bộ NHTW
20
1.2.5.

Nội dung kiểm toán nội bộ NHTW
25
1.3.

Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương một số nước và kinh
nghiệm cho Việt Nam
28

Nam
42
2.2.2.

Nội dung kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam thời gian qua
56
2.3.

Đánh giá chung 68
2.3.1.

Những kết quả đạt được
68
2.3.2.

Những hạn chế và nguyên nhân
71
CHƯƠNG 3

ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT
ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT
NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI
79
3.1.

Định hướng hoàn thiện hoạt động kiểm toán nội bộ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
79
3.1.1.



Hoàn thiện nội dung và phương pháp kiểm toán tuân thủ, kiểm
toán hoạt động
86
3.2.4.

Nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của
đội ngũ kiểm toán viên
88
3.2.5.

Tiếp tục hoàn thiện Quy chế kiểm soát viên
90
3.2.6.

Mở rộng quan hệ hợp tác trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ
93
3.3.

Một số kiến nghị 94
3.3.1.

Kiến nghị với Quốc hội
94
3.3.2.

Kiến nghị với Kiểm toán Nhà nước
95
3.3.3.


TCTD
Tổ chức tín dụng
XDCB
Xây dựng cơ bản

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU

Thứ tự Tên sơ đồ và bảng biểu Trang
Sơ đồ 2.1

Cơ cấu tổ chức Kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam
45
Sơ đồ 2.2
Quy trình kiểm toán nội bộ NHNN VN
52
Sơ đồ 3.1
Mô hình đánh giá rủi ro do Vụ Kiểm toán nội bộ sử
dụng khi lập kế hoạch kiểm toán
85
Biểu 2.1

67
Biểu 2.9
Số lượng các đơn vị có hệ thống thiết bị kho tiền chưa
đảm bảo quy định từ năm 2003 đến quý II/2008
67
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong gần 20 năm đổi mới, từ khi chuyển đổi cơ chế hoạt động từ 1 cấp
sang 2 cấp, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh
mẽ góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, duy trì sự ổn
định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tạo môi trường thuậ
n lợi cho hoạt
động kinh doanh và đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đưa kinh tế Việt
Nam phát triển, hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới.
Với vai trò là NHTW, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát
hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền
tệ cho Chính phủ; hoạch định các cơ
chế chính sách quản lý kinh tế vĩ mô
trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; tổ chức
thực hiện và thực thi chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền trong nước,
kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ. Hoạt
động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mang tính đặc thù, vừa thực hiện
chức năng quản lý của Bộ chuyên ngành v
ừa thực hiện các hoạt động có tính
chất kinh doanh được sử dụng như là phương tiện nâng cao hiệu lực quản lý.

“Giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ trong các nghiệp vụ chủ
yếu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, luận văn thạc sỹ
- Vũ Anh Tuấn,
Học viện Ngân hàng, năm 2006.
Các đề tài này đã phản ánh được một phần thực trạng của hoạt động
kiểm toán, kiểm soát nội bộ NHTW và đưa ra được một số giải pháp nâng cao
hiệu quả cho hoạt động kiểm toán nội bộ NHNN Việt Nam trong những năm
qua.
Tuy nhiên, những thay đổi trong môi trường quản lý do tác động của
hội nhập kinh tế quốc tế
đã đặt ra những yêu cầu mới cho công tác quản trị
điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói chung và hoạt động kiểm
toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nói riêng. Vì thế, hoạt động kiểm
3
toán nội bộ NHNN cần phải được tiếp tục nghiên cứu nhằm đề ra những giải
pháp phù hợp, nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN trong giai đoạn tới.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là phân tích thực trạng của hoạt động kiểm toán
nội bộ NHNN Việt Nam trong những năm qua, nhìn nhận những điểm mạnh,
những tồn tạ
i hạn chế để qua đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt
động kiểm toán nội bộ NHNN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả luận văn đã đề ra nhiệm vụ nghiên
cứu của luận văn là:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về kiểm toán, kiểm toán nội bộ
NHTW và yêu cầu t
ất yếu của hoạt động kiểm toán nội bộ NHTW. Nghiên
cứu kinh nghiệm hoạt động KTNB của NHTW các nước.
- Phân tích đánh giá hoạt động kiểm toán nội bộ của Vụ Tổng kiểm soát
NHNN Việt Nam trong thời qua. Đặc biệt chú trọng phân tích những tồn tại

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động kiểm toán và kiểm
toán nội bộ Ngân hàng Trung ương.
Chương 2: Hoạt động Kiểm toán nội bộ của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam trong những năm qua.
Chương 3: Định hướng và một s
ố giải pháp hoàn thiện hoạt động
Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn tới.

5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN VÀ
KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG

1.1. Những vấn đề cơ bản về kiểm toán
1.1.1. Khái niệm về kiểm toán
Kiểm toán có gốc từ Latinh “Audit”, nguyên bản Auditing gắn liền với
nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại. Từ “Audit” có nguồn gốc từ động từ
Latinh “Audire” nghĩa là “nghe”. Hình ảnh ban đầu của kiể
m toán cổ điển là
việc kiểm tra được thực hiện bằng cách người soạn thảo báo cáo đọc to lên
cho một bên độc lập nghe rồi chấp nhận. Kiểm toán dần hình thành và gắn
liền với quá trình phát triển của kế toán.
Ở nước ta, thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và được sử dụng
từ hơn chục năm cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên, cho đế

hành chính sự nghiệp, còn kiểm toán được thực hiện với các đơn vị sản xuất
kinh doanh. Nhưng phạm vi kiểm toán ở đây đã được mở rộng hơn, nó liên
quan đến cả lĩnh vực tài chính và lĩnh vự
c phi tài chính. Chủ thể thực hiện
kiểm toán có thể là kiểm toán viên độc lập và cũng có thể là những cán bộ
thuộc chính đơn vị được kiểm toán.
Theo xu hướng phát triển, quan điểm hiện đại về kiểm toán cho rằng
kiểm toán không chỉ giới hạn ở kiểm toán báo cáo tài chính hay tài liệu kế
toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả của hoạt
động kinh tế, hiệ
u năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý
trong từng hoạt động,…
Qua các quan điểm khác nhau về kiểm toán, ta có thể thấy quan điểm
đúng nhất về kiểm toán qua khái niệm sau: "Kiểm toán là một chức năng của
quản lý, là một quá trình các kiểm toán viên có thẩm quyền, những người
được đào tạo để có trình độ thích hợp tiến hành một cách độc lập việc thu
thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng liên quan
đến các hoạt động kinh tế - tài chính của một đơn vị và tổ chức kinh tế nhằm
7
xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin số lượng đó với các
chuẩn mực về kinh tế, về tài chính và kế toán đã được thiết lập và được pháp
luật thừa nhận. Qua đó, kiểm toán còn đánh giá tính kinh tế, tính hiệu lực và
hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính cũng như hiệu năng quản lý của cá
nhân, tổ chức." [5,tr 24]
Theo khái niệm này thì kiểm toán được áp dụng
đối với cả các đơn vị
sản xuất kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp. Phạm vi của kiểm
toán cũng rất rộng, bao trùm cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính vì nó đánh
giá tính kinh tế và tính hiệu quả hoạt động của một tổ chức hay một đơn vị.
Chủ thể thực hiện kiểm toán có thể là cả Kiểm toán viên độc lập và có thể cả

cụ thể của bày tỏ ý kiến thấy rõ nhất là ở cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên, cách
thức thực hiện chức năng bày tỏ ý kiến về trách nhiệm và tư vấn cũng rất khác
biệt giữa các khách thể kiểm toán và giữa các nước có cơ sở kinh tế và pháp
lý khác nhau.
Ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp hay các cơ
quan hưởng lương từ ngân sách đều đặt dướ
i sự kiểm soát của Kiểm toán Nhà
nước. Trong quan hệ này, chức năng xác minh và kết luận về chất lượng
thông tin của kiểm toán được thực hiện tương tự nhau. Tuy nhiên, chức năng
“bày tỏ ý kiến” về pháp lý và tư vấn kiểm toán lại rất khác nhau. Ở mức độ
cao của chức năng này là sự phán quyết như các quan tòa, ta có thể thấy thể
hiện rõ nhất ở các nước Tây Âu. Đối vớ
i nhiều nước ở khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương, chức năng “bày tỏ ý kiến” lại được thực hiện bằng phương
thức tư vấn. Chức năng tư vấn còn bao trùm cả việc phác thảo và xem xét
những dự kiến về luật trước khi đưa ra Quốc hội.
Ở khu vực kinh doanh, chức năng bày tỏ ý kiến cũng được thực hiện
qua phương thức tư vấ
n. Tuy nhiên, do khách thể chủ yếu là các doanh nghiệp
nên chức năng tư vấn chủ yếu được biểu hiện dưới hình thức các lời khuyên
9
hoặc các đề án. Do đó, trong trường hợp này, nếu sản phẩm của bày tỏ ý kiến
kết quả xác minh về độ tin cậy của thông tin là “Báo cáo kiểm toán” thì sản
phẩm của bày tỏ ý kiến dạng tư vấn là “Thư quản lý”.
Trong kiểm toán nội bộ, trước những năm 1960, phạm vi kiểm toán còn
giới hạn chủ yếu trong lĩnh vực kế toán – tài vụ. Khoảng 3 thập niên gần đ
ây,
kiểm toán nội bộ đi sâu vào các lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả của hoạt động.
Từ đó chức năng tư vấn cho quản lý của kiểm toán có điều kiện phát huy đầy
đủ tác dụng trong thực tiễn.

nướ
c; Báo cáo quyết toán của các chương trình, các dự án, các công trình đầu
tư của nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước.
Theo Luật Kiểm toán Nhà nước có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006, Kiểm
toán Nhà nước chính thức là một cơ quan của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam. Với tư cách là cơ quan kiểm tra tài chính công tối cao,
KTNN thực hiện 4 nhiệm vụ quan trọng:
Mộ
t là, KTNN phải báo cáo và tư vấn cho Quốc hội về những vấn đề có
liên quan trong quá trình ra các quyết định của Quốc hội, không những ở
chừng mực Quốc hội là cơ quan giám sát cơ quan hành pháp mà cả trong việc
thực hiện nhiệm vụ của mình với tư cách là cơ
quan ban hành Luật Ngân sách
nhà nước và các đạo luật chuyên môn có hiệu lực tài chính.
Hai là, KTNN phải báo cáo, tư vấn và giải toả trách nhiệm cho Chính
phủ, cụ thể là cho các cấp quản lý hành chính Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành
trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cũng như v
ề tác động tài chính của
những biện pháp đề ra.
Ba là, KTNN thực hiện chức năng phòng ngừa và răn đe những biểu hiện
tham nhũng, lãng phí và những hành vi lạm dụng nguồn lực tài chính của Nhà
nước.
Bốn là, KTNN cần thông báo công khai trước công luận về việc sử dụng
các nguồn lực tài chính của Nhà nước.
11
Qua hơn 10 năm hoạt động, Kiểm toán Nhà nước đã bước đầu ổn định
về tổ chức và cơ chế hoạt động. Kiểm toán Nhà nước đã trở thành một công
cụ quan trọng nhằm tăng cường chức năng kiểm tra giám sát việc chi tiêu, sử
dụng tài nguyên, công sản quốc gia. Hoạt động của KTNN đã góp phần tiết
kiệm và tăng thu cho ngân sánh Nhà nước hàng ngàn tỷ đồng, góp phầ

người sử dụng thông tin tài chính của các đơn vị được kiểm toán có những
căn cứ chắc chắn để khẳng định những thông tin mà họ đang sử dụng là trung
thực, khách quan và hợp pháp. Từ đó h
ọ có thể đưa ra những quyết định quản
lý, kinh doanh phù hợp.
Hoạt động kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị được kiểm toán phát
hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót do vô tình hay cố ý, kiểm soát các rủi
ro trong kinh doanh.
Hoạt động Kiểm toán độc lập do các Kiểm toán viên chuyên nghiệp
thực hiện, tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, kiểm toán nhất định
do các cơ quan có thẩm quyền quy định. Các kiểm toán viên độc l
ập là đội
ngũ hành nghề chuyên nghiệp, có đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, phải trải
qua các kỳ thi quốc gia và đạt được các tiêu chuần nhất định về bằng cấp và
kinh nghiệm.
Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo
tài chính. Ngoài ra còn tuỳ thuộc yêu cầu của khách hàng, kiểm toán viên độc
lập còn có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiể
m toán tuân thủ hoặc tiến
hành các dịch vụ tư vấn tài chính kế toán khác.
c. Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn
vị tiến hành. Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tùy thuộc vào quy
mô, cơ cấu của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị.
Nhiệm vụ của kiểm toán n
ội bộ:
13
- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên
quan, giám sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng như tham gia hoàn
thiện chúng.

viên khoảng 50.000 Kiểm toán viên nội bộ.
1.1.3.2. Theo nội dung kiểm toán
Tuỳ theo mục đích của người sử dụng thông tin, một cuộc kiể
m toán có
thể tiến hành đồng thời hoặc một trong ba loại kiểm toán sau:
a. Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động là quá trình kiểm toán nhằm đánh giá tính kinh tế,
hiệu quả và hiệu lực của việc sử dụng các nguồn lực trong hoạt động của đơn
vị. Đồng thời Kiểm toán hoạt động cũng đánh giá hiệu quả hoạt động của các
bộ phận ch
ức năng trong việc thực các mục tiêu kinh doanh của đơn vị.
Kiểm toán hoạt động quan tâm đến những hoạt động quản lý và kinh
doanh đang tiếp diễn để lượng đoán một kết quả trong tương lai. Nó liên quan
đến toàn bộ cơ cấu tổ chức của một đơn vị, bao gồm rất nhiều các lĩnh vực,
các yếu tố (bao gồm cả những lĩnh vực phi tài chính).
Báo cáo kiể
m toán hoạt động chủ yếu đánh giá tiềm năng nên không
mang tính công khai. Vì vậy các tổ chức Kiểm toán độc lập thường không
thực hiện loại kiểm toán này. Nhưng kiểm toán hoạt động thường lại là những
nội dung không thể thiếu được trong kế hoạch kiểm toán nội bộ.
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán khó lượng hoá. Chúng ta có thể
lượng hoá được các tiêu thức về tính hiệu lực và hiệ
u quả của việc sử dụng
các nguồn lực. Nhưng đối với mối quan hệ giữa các chức năng và hiệu quả
hoạt động của từng chức năng thì lại rất trừu tượng, khó lượng hoá. Vì vậy,
hiện nay các cuộc kiểm toán hoạt động chưa được thực hiện thường xuyên. 15
b. Kiểm toán tuân thủ

chúng ta đã thực hiện cả kiểm toán tuân thủ dưới một góc độ nhất định.
1.2. Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương
1.2.1. Khái niệm Kiểm toán nội bộ NHTW
Kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương là loại hình kiểm toán nội bộ,
ra đời từ sự đòi hỏi khách quan trong hoạt động của Ngân hàng Trung ương.
Thuật ngữ “nội bộ” là
để nói rõ đó là công việc kiểm toán do một tổ
chức và nhân viên của tổ chức đó tiến hành. Như vậy, công việc kiểm toán
nội bộ NHTW khác với công việc kiểm toán của các tổ chức và nhân viên bên
ngoài NHTW tiến hành như Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập.
Tính độc lập của kiểm toán nội bộ NHTW được xác định bởi các công
việc của kiểm toán viên không bị những ràng buộc có thể hạn ch
ế đáng kể
phạm vi và hiệu quả của việc thẩm tra hoặc làm chậm trễ việc báo cáo những
phát hiện và kết luận. Kiểm toán nội bộ NHTW có vai trò xem xét, đánh giá
và xác nhận, phát hiện sự việc. Phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ
NHTW là tất cả các hoạt động nghiệp vụ của NHTW, đồng thời giúp đỡ và hỗ
trợ cho hoạt động của NHTW và các thành viên của NHTW.
Kiểm toán nội bộ NHTW là quá trình các Kiểm toán viên nội bộ có
thẩm quyền kiểm tra, đánh giá một cách độc lập về tính đúng đắn, trung thực,
hợp pháp của các thông tin trên báo cáo tài chính hoặc đánh giá tính tuân thủ,
tính kinh tế và tính hiệu quả hoạt động của một NHTW.
Nhiệm vụ mà Kiểm toán nội bộ NHTW phải tiến hành:
- Đánh giá độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Kiểm tra hệ
thống kế toán (mà dựa vào đó người ta lập các báo cáo kế
toán) để đánh giá tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của các thông tin trên
báo cáo tài chính.
17
- Kiểm tra việc tuân thủ luật pháp, tuân thủ các chính sách thủ tục của

18
hàng NHTW. Kiểm toán nội bộ do một bộ phận của NHTW thực hiện. Bộ
phận này độc lập với các hoạt động quản lý và điều hành của NHTW và tuân
theo những nguyên tắc, chuẩn mực mà NHTW quy định phù hợp với thông lệ
quốc tế và có vai trò đặc biệt quan trọng:
- Kiểm toán nội bộ NHTW giúp ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử
lý nghiệp vụ: các thủ tục kiểm soát ph
ải được thiết kế sao cho có thể hướng
các nghiệp vụ kinh tế được thực hiện đúng nguyên tắc quy định nhằm ngăn
chặn kịp thời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay có thể cố ý gây thất thoát tiền
bạc hoặc tài sản của ngân hàng. Ví dụ: để ngăn chặn thất thoát tiền bạc, ngân
hàng quy định mọi khoản thu chi trước khi thủ quỹ thực hiện đều phải qua xét
duyệt c
ủa kế toán, kiểm soát viên, kế toán trưởng…
- Kiểm toán nội bộ NHTW giúp bảo vệ ngân hàng trước những thất
thoát tài sản có thể tránh. NHTW phải giữ gìn một lượng tiền mặt lớn đủ loại,
bao gồm tiền mặt, các phương tiện chuyển nhượng và chứng từ, đòi hỏi phải
được bảo quản trong khâu lưu trữ cũng như khi chuyển tiền. Vì lý do này,
NHTW cần thiết phải lậ
p các quy trình hoạt động, xác định rõ giới hạn cho cá
nhân và lập ra một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ.
- Kiểm toán nội bộ cung cấp cho nhà quản lý NHTW thông tin trung
thực thông qua báo cáo kiểm toán các đơn vị trong hệ thống từ đó góp phần
trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật hay chính sách
kinh tế nói chung. Kiểm toán nội bộ có vai trò là thông qua kiểm toán để cải
tiến và hoàn thi
ện hoạt động ở các đơn vị, góp phần nâng cao hiệu quả cuối
cùng, khắc phục những khâu yếu, giúp thủ trưởng đơn vị phát hiện, ngăn chặn
và xử lý các gian lận, sai sót trong hoạt động của đơn vị. Kiểm toán nội bộ
giúp NHTW đảm bảo việc chấp hành chính sách chế độ của pháp luật.

tình hình công tác kiểm toán mang tính độc lập là một yêu cầu của quản lý
kinh tế song còn mang bản chấ
t kinh tế và tính lịch sử của nó. Nguyên tắc
trung thực quy định khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên được đề nghị các
cơ quan thẩm quyền giám định về mặt chuyên môn hoặc tư vấn khi cần thiết.
20
Kiểm toán viên có quyền được đề nghị các cơ quan thẩm quyền giám định về
mặt chuyên môn hoặc làm tư vấn khi cần thiết. Nguyên tắc này chỉ ra kiểm
toán viên và các cơ quan kiểm toán phải có trình độ và khả năng đáp ứng yêu
cầu để đảm bảo thực hiện một cách khách quan, công bằng, có hiệu quả các
trách nhiệm đối với các báo cáo kiểm toán.
1.2.3.3. Nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật
Để đảm bảo tính
độc lập, trung thực và khách quan của kiểm toán, vấn
đề quan trọng và cần thiết là dù đặt ở đâu cũng phải đảm bảo nguyên tắc chỉ
tuân theo pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Bản thân ngành kiểm
toán cũng là một khách thể tồn tại trong xã hội, là kết quả của một quá trình
phát triển của loài người trước hết là lịch sử của hoàn thiện quá trình quản lý.
Kiểm toán đượ
c pháp luật thừa nhận và bảo hộ nên việc tuân theo quy luật,
luật pháp là điều tất yếu. Bất kỳ một Công ty kiểm toán nào có sự vi phạm
pháp luật cũng sẽ bị xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Mọi tổ chức
kiểm toán và kiểm toán viên đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về
những đánh giá nhận xét của mình.
Chính hoạt động kiểm toán có bản chấ
t và chức năng là kiểm tra nên mọi
hoạt động của kiểm toán đều xuất phát từ nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật.
Nguyên tắc tuân thủ pháp luật quy định rằng, mọi chủ thể, khách thể đều
tham gia vào các hoạt động kiểm toán đều phải tuân thủ các quy định của
pháp luật. Đó là thẩm quyền, là chức năng, là nhiệm vụ, là trách nhiệm của cả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status