NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TRỊNH THỊ MINH HẢI
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ
TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – NĂM 2011
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
TRỊNH THỊ MINH HẢI
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN NỘI BỘ
TẠI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM NGỌC PHONG
HÀ NỘI – NĂM 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các dữ liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Minh Hải
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
1.1. Những vấn đề cơ bản về kiểm toán 4
1.1.1. Khái niệm về kiểm toán 4
1.1.2. Vai trò của kiểm toán trong nền kinh tế 6
hàng Nhà nước Việt Nam 69
3.2.1. Hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động Kiểm toán nội bộ của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 69
3.2.2. Tăng cường kiểm soát chất lượng kiểm toán nội bộ 70
3.2.3. Áp dụng phương pháp kiểm toán theo định hướng rủi ro 71
3.2.4. Nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của đội
ngũ cán bộ kiểm toán viên 80
3.2.5. Tiếp tục hoàn thiện quy chế kiểm soát viên 82
3.2.6. Tăng cường mối quan hệ giữa Kiểm toán nội bộ với cơ quan Kiểm
toán Nhà nước, giữa Kiểm toán nội bộ và các đơn vị thuộc Ngân hàng
Nhà nước 85
3.2.7. Tăng cường ứng dụng công nghệ tin học trong hoạt động kiểm
toán nội bộ 86
3.3. Kiến nghị
86
3.3.1. Kiến nghị với Kiểm toán Nhà nước 86
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 87
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLĐ
Ban lãnh đạo
KTNN
Kiểm toán Nhà nước
KTNB
Kiểm toán nội bộ
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTW
Số lượng các đơn vị mua sắm tài sản sai quy trình từ
năm 2008 đến năm 2010
45
Biểu 2.4
Kết quả thực hiện kiểm toán xây dựng cơ bản từ năm
2008 đến năm 2010
47
Biểu 2.5
Kết quả thực hiện kiểm toán tuân thủ và hoạt động từ
năm 2008 đến năm 2010
49
Biểu 2.6
Kết quả thực hiện kiểm toán hoạt động tin học từ năm
2008 đến năm 2010
52
Biểu 2.7
Kết quả thực hiện kiểm toán hoạt động an toàn kho quỹ
từ năm 2008 đến năm 2010
56
Biểu 2.8
Số lượng các đơn vị có hệ thống trang thiết bị kho tiền
chưa đảm bảo quy định từ năm 2008 đến năm 2010
57
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng Trung ương ( NHTW) có vai trò hết sức quan trọng trong
nền kinh tế. Vì vậy, cơ chế quản trị điều hành hoạt động của NHTW đòi hỏi
phải nhanh nhạy, thích ứng theo những biến động vốn rất nhạy cảm của nền
kinh tế; đặc biệt là trong các nền kinh tế chuyển đổi, tính ổn định bền vững
chưa cao. Một NHTW hiện đại là một ngân hàng có đủ khả năng sử dụng linh
tại hạn chế để qua đó tìm ra các giải pháp có tính khả thi, nhằm hoàn thiện
hoạt động kiểm toán nội bộ NHNN, góp phần đảm bảo an toàn tài sản và nâng
cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu hoạt động của NHNN Việt Nam
trong giai đoạn mới.
Để thực hiện mục tiêu trên, tác giả đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu của
luận văn là:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về kiểm toán nói chung, đặc biệt là
kiểm toán nội bộ NHTW và những yêu cầu tất yếu của hoạt động kiểm toán
nội bộ NHTW. Nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động KTNB của NHTW các
nước để có thể vận dụng vào điều kiện Việt Nam.
- Phân tích đánh giá hoạt động kiểm toán nội bộ của Vụ Kiểm toán nội
bộ NHNN Việt Nam trong thời qua. Đặc biệt chú trọng phân tích những tồn
tại trong hoạt động, để tìm ra những giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm toán
nội bộ của hệ thống NHNN Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động,
đáp ứng yêu cầu hội nhập trong giai đoạn mới.
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán nói
chung, đặc biệt tâp trung nghiên cứu lý luận kiểm toán nội bộ của NHTW, mô
hình kiểm toán nội bộ NHTW một số nước. Đồng thời, phân tích và đánh giá
thực trạng kiểm toán nội bộ tại NHNN Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2010,
để đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động này tại NHNN Việt Nam trong
giai đoạn tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ
yếu; đặc biệt là phương pháp tư duy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử;
áp dụng các phưong pháp thống kê, khảo sát, tổng hợp, phân tích, so sánh;
dùng các sơ đồ, nguồn số liệu và tình hình thực tế để minh hoạ, chứng minh
nhằm đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu nói trên.
5. Bố cục của luận văn
Lại có quan điểm khác cho rằng kiểm toán là quá trình do các chuyên gia
có trình độ nghiệp vụ thích hợp, được pháp luật thừa nhận, tiến hành để thu
thập, xét đoán các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được, liên
quan đến quá trình hoạt động của một đơn vị kinh tế, để xác định mức độ phù
hợp giữa các thông tin có thể định lượng được với các chuẩn mực đã thiết lập
và lập báo cáo kết luận về mức độ phù hợp này.
Tuy nhiên quan niệm về kiểm toán được chấp nhận phổ biến hiện nay là:
“ Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành
4
thu thập và đánh giá các bằng chứng về thông tin được kiểm toán, nhằm xác
nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn
mực đã được thiết lập”.[4, tr 5]
Các thuật ngữ trong định nghĩa này được hiểu như sau:
Các Kiểm toán viên độc lập và có năng lực: Là người có những yếu tố,
kỹ năng, phẩm chất về chuyên môn nghiệp vụ mà người kiểm toán viên cần
phải có, để tổ chức và thực hiện được các cuộc kiểm toán có hiệu quả. Kiểm
toán viên phải là người độc lập về chuyên môn, độc lập về kinh tế và độc lập
trong các mối quan hệ gia đình. Tuỳ theo nội dung và tính chất của mỗi loại
kiểm toán cụ thể khác nhau, mà mức độ độc lập có thể được đòi hỏi khác nhau.
Thu thập và đánh giá các bằng chứng: Bằng chứng kiểm toán là các loại
tài liệu, thông tin mà các Kiểm toán viên sử dụng để phân tích, xem xét và
đưa ra kết luận trên đó. Quá trình kiểm toán thực chất là quá trình các Kiểm
toán viên áp dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán, để thu thập và đánh
giá các bằng chứng kiểm toán, làm cơ sở cho các ý kiến nhận xét của họ.
Các thông tin được kiểm toán: Đó là những thông tin đã có sẵn nguồn
bằng chứng cho kiểm toán và có căn cứ, làm cơ sở cho việc đánh giá thông
tin. Thông tin được kiểm toán có thể là những thông tin được lượng hoá hoặc
những thông tin có thể so sánh, đối chiếu hay kiểm tra lại được; có thể là
những thông tin tài chính hoặc thông tin phi tài chính.
Các chuẩn mực đã được xây dựng và thiết lập: Là cơ sở, thước đo để
tượng kiểm toán. Báo cáo kết quả kiểm toán cung cấp các thông tin trung thực
giúp cho các cơ quan Nhà nước điều hành kinh tế vĩ mô. Các nhà quản trị
doanh nghiệp, nhà đầu tư coi kiểm toán là một công cụ hỗ trợ xây dựng chiến
6
lược hoạt động, đưa ra những quyết định đúng đắn trong quá trình quản lý, sử
dụng vốn hiệu quả.
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý.
Ngoài chức năng xác nhận thông tin tài chính, kiểm toán còn có chức năng tư
vấn cho các doanh nghiệp, đơn vị được kiểm toán nhằm kinh doanh hiệu quả,
hạn chế rủi ro. Chức năng này được phát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị
được kiểm toán thường xuyên.
1.1.3. Chức năng của kiểm toán
Thông qua định nghĩa nói chung về kiểm toán, ta có thể rút ra hai chức
năng cơ bản của kiểm toán như sau:
Thứ nhất, chức năng cơ bản đầu tiên của kiểm toán, đó là kiểm tra và
xác nhận hay còn gọi là chức năng xác minh.
Đây là chức năng được hình thành đầu tiên gắn liền với sự ra đời, hình
thành và phát triển của kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát
triển mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của xã hội loài người nói chung và
kiểm toán nói riêng; đồng thời chức năng này luôn thể hiện ở các mức độ
khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Chức năng này nhằm khẳng
định mức độ trung thực của số liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp
vụ hay việc lập các báo cáo tài chính.
Thứ hai, chức năng trình bày ý kiến hay chức năng tư vấn
Đây là chức năng phát sinh và hình thành sau chức năng xác minh. Chức
năng trình bày ý kiến cũng có quá trình phát sinh và phát triển riêng của nó.
Cùng với quá trình phát triển của kiểm toán, chỉ một chức năng xác minh,
kiểm toán không thể đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý. Chính từ yêu cầu
thực tiễn quản lý đặt ra, đã xuất hiện chức năng tư vấn. Ở thời kỳ ban đầu khi
mới hình thành, chức năng này biểu hiện dưới dạng thư quản lý. Trong quá
cho đến nay kiểm toán nhà nước ở các nước phát triển đều thực hiện chức
năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực công cộng. Kiểm toán nhà nước thường
tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các chính
sách, luật lệ và chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn là kinh phí
của Nhà nước và kiểm toán hoạt động các đơn vị nói trên.
b. Kiểm toán độc lập
Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán
viên độc lập thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp.
Kiểm toán độc lập là loại hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật thừa nhận
và bảo hộ, được quản lý chặt chẽ bởi các Hiệp hội chuyên ngành về kiểm toán
và là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường.
Hoạt động kiểm toán độc lập do các Kiểm toán viên chuyên nghiệp thực
hiện, tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, kiểm toán nhất định do
các cơ quan có thẩm quyền quy định. Các Kiểm toán viên độc lập là đội ngũ
hành nghề chuyên nghiệp, có đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, phải trải qua
các kỳ thi quốc gia và đạt được các tiêu chuẩn nhất định về bằng cấp và kinh
nghiệp.
Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo
tài chính. Ngoài ra còn tuỳ thuộc yêu cầu của khách hàng, kiểm toán viên độc
lập còn có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến
hành các dịch vụ tư vấn tài chính kế toán khác.
Hoạt động kiểm toán độc lập giúp các cơ quan chức năng và những
người sử dụng thông tin tài chính của các đơn vị được kiểm toán có những
căn cứ chắc chắn để khẳng định những thông tin mà họ đang sử dụng là trung
thực, khách quan và hợp pháp. Từ đó, họ có thể đưa ra những quyết định
đúng đắn trong công tác quản lý, cũng như trong hoạt động kinh doanh.
9
Hoạt động kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị được kiểm toán phát
hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai sót, do vô tình hay cố ý; kiểm soát các rủi
ro trong kinh doanh. Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu của Kiểm toán độc lập là
Báo cáo kiểm toán nội bộ được Thủ trưởng đơn vị tin tưởng, nhưng chỉ
có giá trị nội bộ, giá trị pháp lý không cao. Báo cáo kiểm toán nội bộ cũng là
tài liệu tham khảo cho Kiểm toán Nhà nước hoặc Kiểm toán độc lập, trước
khi tiến hành kiểm toán tại đơn vị đó. Chất lượng báo cáo kiểm toán nội bộ
tốt, sẽ giảm khả năng kiểm toán bên ngoài, tiết kiệm chi phí cho kiểm toán.
Kiểm toán nội bộ do các Kiểm toán viên nội bộ thực hiện, tuân theo các
nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán do Ban lãnh đạo của cơ quan đơn vị đó quy
định. Đồng thời những nguyên tắc, chuẩn mực đó phải phù hợp với thông lệ
quốc tế về nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán.
Kiểm toán nội bộ có mối quan hệ rất chặt chẽ với kiểm toán bên ngoài về
chương trình, tài liệu kiểm toán, nội dung kiểm toán, báo cáo kiểm toán và
việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán. Cụ
thể như sau : kiểm toán bên ngoài sử dụng kết quả, tài liệu của kiểm toán nội
bộ để làm căn cứ xây dựng kế hoạch, chương trình kiểm toán; kiểm toán bên
ngoài đánh giá chất lượng hoạt động của kiểm toán nội bộ, xác định rủi ro để
xây dựng nội dung kiểm toán; khai thác sử dụng báo cáo của kiểm toán nội bộ
trong quá trình kiểm toán; qua kết quả của kiểm toán nội bộ để quyết định lựa
chọn phương pháp, kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp.
Sự khác biệt cơ bản giữa Kiểm toán nội bộ với Kiểm toán Nhà nước và
kiểm toán độc lập là: Kiểm toán nội bộ có chức năng kiểm tra, đánh giá và
giám sát tính hiệu lực và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
11
soát nội bộ. Kiểm toán nội bộ thường liên quan đến các hệ thống trong một
đơn vị ( ví dụ: hệ thống tiền mặt, hệ thống kế toán, hệ thống tin học )
1.1.4.2. Theo nội dung kiểm toán
Tuỳ theo mục đích của người sử dụng thông tin, một cuộc kiểm toán có
thể tiến hành đồng thời hoặc một trong ba loại kiểm toán sau:
a. Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán nhằm để xem xét và đánh giá về
tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động được kiểm toán.
chuẩn, chuẩn mực để đánh giá thông tin ở loại kiểm toán này, không phức tạp
như kiểm toán hoạt động, chúng thường được xác định một cách dễ dàng gắn
liền với các thủ tục, quy tắc được kiểm toán. Thông thường, loại kiểm toán
này được thực hiện để phục vụ cho nhu cầu của bản thân các đơn vị, hoặc nhu
cầu của cơ quan quản lý cấp trên, nên kết quả của kiểm toán tuân thủ, nói
chung được báo cáo cho người có trách nhiệm trong đơn vị được kiểm toán
hoặc cơ quan quản lý cấp trên, hơn là cho một phạm vi rộng người sử dụng.
Kiểm toán tuân thủ được thực hiện bởi cả Kiểm toán Nhà nước, Kiểm
toán nội bộ và Kiểm toán độc lập.
c. Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là loại kiểm toán, mà các Kiểm toán viên có
thẩm quyền thực hiện kiểm tra một cách độc lập, các thông tin liên quan đến
báo cáo tài chính của một đơn vị, tổ chức để xác nhận tính trung thực, hợp
pháp và phù hợp với các nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán kế toán
của các thông tin đó.
Theo khái niệm trên ta thấy, kiểm toán báo cáo tài chính không chỉ xác
nhận tính trung thực của các thông tin trong báo cáo tài chính, mà còn xác
13
nhận cả tính chính xác, hợp pháp và phù hợp của các loại thông tin. Do đó,
khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, là chúng ta đã thực hiện kiểm toán
tuân thủ dưới một giác độ nhất định.
Báo cáo tài chính được kiểm toán thường là bảng cân đối kế toán, báo
cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo
cáo tài chính…
Tiêu chuẩn, chuẩn mực cho việc đánh giá thông tin của loại kiểm toán
này thường là các chuẩn mực kế toán, các quy định pháp lý về kế toán và
những quy định khác có liên quan.
1.1.5. Quy trình kiểm toán
Đối với hoạt động kiểm toán, bên cạnh việc xây dựng hệ thống chuẩn
mực kế toán làm cơ sở, thì một vấn đề quan trọng mang tính cấp bách đối với
Lập báo cáo kiểm toán là giai đoạn cuối của quá trình kiểm toán, là sản
phẩm của một cuộc kiểm toán.
Báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng của một cuộc kiểm toán, thể
hiện ý kiến nhận xét, đánh giá và kết luận của Đoàn kiểm toán rút ra từ các
bằng chứng kiểm toán ( đã được thu thập làm căn cứ cho việc diễn đạt các ý
kiến nhận xét, đánh giá của mình) về các thông tin tài chính và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của đơn vị; đồng thời đưa ra các khuyến nghị đơn
vị cần phát huy hoặc khắc phục, cũng như kiến nghị của các cơ quan quản lý
Nhà nước xem xét để hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý kinh tế tài chính.
Chất lượng của Báo cáo kiểm toán phụ thuộc vào chất lượng của bằng
chứng kiểm toán và các căn cứ kiểm toán. Bởi vì chất lượng của cuộc kiểm
toán, phụ thuộc vào việc giải trình có sức thuyết phục về kết quả hoạt động
15
của Đoàn kiểm toán đối với sự việc được phân tích, đánh giá trên cơ sở những
chuẩn mực kiểm toán và những kết luận rút ra từ phân tích, đánh giá đó cùng
những khuyến nghị nhằm giúp đơn vị phát huy những mặt tốt; đồng thời khắc
phục những khiếm khuyết được phát hiện qua kiểm toán.
Giai đoạn kiểm tra thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán:
Nếu chúng ta quan niệm quy trình kiểm toán của một cuộc kiểm toán,
chỉ dừng lại ở báo cáo kết quả kiểm toán, thì bản báo cáo kiểm toán chỉ là tài
liệu có tính chất lịch sử để lưu trữ và khai thác, nó mang tính chất tư vấn cho
việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo, thì chưa thể hiện đầy đủ bản chất của
một cuộc kiểm toán. Điều đó cũng có nghĩa là cuộc kiểm toán đó thực chất
chưa đi vào hoạt động thực tiễn của đơn vị được kiểm toán trên cả hai lĩnh
vực, quản lý tại các cơ quan quản lý và tại đơn vị được kiểm toán. Không biết
được đơn vị có thực hiện hoặc thực hiện ở mức độ nào về kết luận của Đoàn
kiểm toán, cũng không nắm được kiến nghị của Đoàn có được các Bộ, ngành
nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện những chính sách, cơ chế, chế độ
đã ban hành.
Xét về mặt logic phát triển, thì quy trình kiểm toán của một cuộc kiểm
đảm bảo cho hoạt động của Ngân hàng Trung ương an toàn và hiệu quả. Bên
cạnh đó, Kiểm toán nội bộ là người tư vấn, trợ giúp cho nhà quản lý đánh giá
hệ thống kiểm soát, chỉ ra những rủi ro có thể xảy ra trong các hoạt động
nghiệp vụ, qua đó hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất. Thông qua hoạt động của
mình, Kiểm toán nội bộ cũng có những đề xuất, kiến nghị với các cấp quản lý
để có thể sửa đổi, bổ sung chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm nâng cao
hiệu quả, an toàn cho hệ thống Ngân hàng Trung ương.
17
Phạm vi của kiểm toán nội bộ Ngân hàng Trung ương là tất cả các hoạt
động nghiệp vụ của Ngân hàng Trung ương. Do đó, đòi hỏi các kiểm toán
viên nội bộ Ngân hàng Trung ương phải có trình độ, am hiểu các nghiệp vụ
của Ngân hàng Trung ương, bao gồm về tiền tệ, tín dụng, thanh toán…
1.2.2. Vai trò của kiểm toán nội bộ NHTW
Hoạt động tài chính – ngân hàng, bản thân nó đã chứa đựng nhiều rủi
ro có ảnh hưởng lớn tới nhiều mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của
mọi quốc gia. Chỉ cần một biến động nhỏ trong chính sách lãi suất, tỷ giá
cũng tạo ra một hiệu ứng không nhỏ trong các hoạt động kinh tế và đời
sống dân cư. Hơn thế nữa, trong xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển như
vũ bão của khoa học công nghệ, khủng hoảng tài chính – tiền tệ của một
quốc gia hay khu vực nào đó, dù lớn dù nhỏ, đều có sức ảnh hưởng không
nhỏ tới nền kinh tế của những quốc gia, khu vực còn lại trên thế giới, gây
ra những hậu quả nặng nề về chính trị, kinh tế xã hội cho quốc gia. Vì vậy,
việc kiểm soát, ngăn ngừa rủi ro cho hệ thống Ngân hàng Trung ương là
hết sức cần thiết, tất yếu dẫn đến việc ra đời và phát triển kiểm toán nội bộ
Ngân hàng Trung ương.
Kiểm toán nội bộ NHTW giúp ngăn ngừa thiếu sót trong hệ thống xử lý
nghiệp vụ: các thủ tục kiểm soát phải được thiết kế sao cho có thể hướng các
nghiệp vụ kinh tế được thực hiện đúng nguyên tắc quy định nhằm ngăn chặn
kịp thời các sai sót, nhầm lẫn vô tình hay có thể cố ý gây thất thoát tiền bạc
hoặc tài sản của ngân hàng.