ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thị Thu Hà
ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI RẠN SAN HÔ
KHU VỰC ĐẢO BẠCH LONG VỸ, HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
HÀ NỘI - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
MỞ ĐẨU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
1. 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực đảo Bạch Long Vỹ 4
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 4
1.1.2. Đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển 12
1.1.3. Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội 15
1.1.4. Các hoạt động liên quan đến quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường vùng biển
đảo BLV 20
1. 2. Tổng quan về hệ sinh thái rạn san hô khu vực đảo Bạch Long Vỹ 20
1.2.1. Đa dạng thành phần loài san hô khu vực đảo Bạch Long Vỹ 20
1.2.2. Phân bố của san hô trong khu vực đảo Bạch Long Vỹ 22
1.2.3. Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hệ sinh thái rạn san hô 24
1.3. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái 26
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 26
1.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 28
CHƢƠNG 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 30
2.1.1. Phạm vi nghiên cứu 30
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu 32
2.1.3. Tài liệu sử dụng 32
2.2. Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1. Cách tiếp cận 32
2.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu 33
2.2.3. Phương pháp GIS (hệ thông tin địa lý) 34
2.2.4. Phương pháp nội suy 34
iii
2.2.5. Phương pháp đánh giá rủi ro 37
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI RẠN SAN HÔ
KHU VỰC ĐẢO BẠCH LONG VỸ 47
iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLV
Bạch Long Vỹ
BTB
Bảo tồn biển
ERA
Ecological Risk Assessment
GIS
Geographic information System
HST
Hệ sinh thái
PEMSEA
Partnerships in Environmental
Management for the Seas of East Asia
RSH
Rạn san hô
VBB
Vịnh Bắc Bộ vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ phân bố san hô và các chất đáy vùng biển đảo Bạch Long Vỹ 24
Hình 2.1. Sơ đồ các mặt cắt khảo sát khu vực đảo Bạch Long Vỹ 31
Hình 2.2. Sơ đồ đánh giá rủi ro sinh thái 38
Hình 2.3: Các dòng bằng chứng trong áp dụng trong phương pháp TRIAD 41
Hình 2.4. Sơ đồ các bước thực hiện đánh giá rủi ro hệ sinh thái san hô 46
Hình 3.1. Mô hình khái niệm đánh giá rủi ro sức khỏe hệ sinh thái rạn san hô khu vực đảo
Bạch Long Vỹ 48
Hình 3.2: Bản đồ phân vùng rủi ro dòng bằng chứng hóa học đối với rạn san hô khu vực
đảo Bạch Long Vỹ (lớp 1) 53
Hình 3.3: Bản đồ phân vùng rủi ro dòng bằng chứng hóa học và tai biến thiên nhiên đối với
rạn san hô khu vực đảo Bạch Long Vỹ ( lớp 2) 56
Hình 3.4: Bản đồ phân vùng rủi ro dòng bằng chứng sinh thái học đối với rạn san hô khu
vực đảo Bạch Long Vỹ (lớp 1). 58
Hình 3.5: Bản đồ phân vùng rủi ro dòng bằng chứng sinh thái học đối với rạn san hô khu
vực đảo Bạch Long Vỹ (lớp 2). 60
Hình 3.6: Bản đồ phân vùng rủi ro dòng bằng chứng kinh tế - xã hội đối với rạn san hô khu
vực đảo Bạch Long Vỹ (lớp 1) 64
Hình 3.7: Bản đồ phân vùng rủi ro dòng bằng chứng kinh tế - xã hội đối với rạn san hô khu
vực đảo Bạch Long Vỹ (lớp 2) 67
Hình 3.8: Bản đồ phân vùng rủi ro sinh thái tổng hợp (lớp 1) đối với san hô khu vực đảo
Bạch Long Vỹ 71
Hình 3.9: Bản đồ phân vùng rủi ro sinh thái tổng hợp đối với san hô khu vực đảo Bạch
Long Vỹ 74
loạt, giảm độ phủ san hô sống, suy giảm nguồn lợi sinh vật trên rạn, trong đó có cá
rạn và Thân mềm. Đây là hậu quả của các hoạt động kinh tế - xã hội và biến đổi môi
trường tự nhiên ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái rạn san hô trong vùng mà cần được
nghiên cứu đánh giá đầy đủ nhằm bảo vệ và phục hồi HST có giá trị này. Một trong
những nhiệm vụ hết sức thiết thực để đáp ứng mục tiêu trên là đánh giá rủi ro HST
san hô dưới các tác động trên. Hiện nay, có nhiều phương pháp để đánh giá rủi ro
sinh thái, hầu hết các nghiên cứu trước đây đều mô tả rủi ro bán định lượng, đây là
phương pháp được sử dụng rộng rãi trong các đánh giá rủi ro sinh thái. Vậy liệu
chúng ta có thể lượng hóa được những rủi ro đó theo không gian trong bối cảnh các
hệ sinh thái biển, đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô đã, đang và sẽ phải chịu sức ép
về sự gia tăng hoạt động kinh tế - xã hội và những biến đổi khó lường của thiên
2
nhiên? Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ, để góp phần làm sáng tỏ và tiếp cận
định lượng đánh giá các rủi ro, đề tài: “ Đánh giá rủi ro sinh thái đối với rạn san hô
khu vực đảo Bạch Long Vỹ” đã được thực hiện với mục tiêu đánh giá rủi ro sinh
thái đối với rạn san hô dưới các tác động tiêu cực chính gây ra bởi các hoạt động
của con người và các quá trình tự nhiên bất thường ở vùng bờ biển đảo Bạch Long
Vỹ.
Để hoàn thành mục tiêu trên, các nội dung và nhiệm vụ sau đã được thực
hiện:
- Thu thập dữ liệu về hàm lượng các chất ô nhiễm , các yếu tố kinh tế - xã
hội, môi trường nước, tai biến thiên nhiên có ảnh hưởng đến hệ sinh thái san hô khu
vực nghiên cứu.
- Thu thập số liệu các loài san hô, động vật đáy, số lượng các loài nguồn
giống cá trong rạn phân bố quanh đảo BLV.
- Phân tích rủi ro do các chất ô nhiễm, các yếu tố tác động đến rạn san hô.
- Ước tính rủi ro, mô tả rủi ro của các yếu tố tác động tới rạn san hô.
- Xây dựng các bản đồ phân vùng rủi ro sinh thái đối với rạn san hô.
Nghiên cứu này lần đầu tiên áp dụng phương pháp Triad trong đánh giá rủi
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực đảo Bạch Long
Vỹ
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Đặc điểm địa hình đáy biển quanh đảo Bạch Long Vỹ
Vùng triều:
So với toàn đảo BLV tính từ đường mực nước thấp nhất, diện tích vùng triều
xung quanh đảo chiếm tỷ lệ khá lớn, tập trung chủ yếu ở phía Đông Nam – rộng tới
400 m, mũi Đông và sườn Đông Bắc 350 m, Tây Nam 250 m và ở ven bờ Tây Bắc
100 m. Vùng triều quanh đảo BLV không xuất hiện các dạng địa hình xâm thực hay
tích tụ do triều mà chỉ có mặt các dạng địa hình thành tạo chủ yếu do sóng, trong đó
thềm mài mòn hiện đại chiếm 70%, còn lại là các dạng địa hình xuất hiện không
liên tục như bãi cát, bãi cuội, sỏi, roi cát, đá sót. Từ mực nước trung bình trở xuống,
vùng triều có mặt chủ yếu là thềm mài mòn hiện đại, bãi cuối, đá sót và từ mực
nước trung bình trở lên còn có thêm bãi cát như ở phần tây nam và mũi phía Tây
đảo [2].
Sườn bờ ngầm:
Xung quanh đảo BLV đến độ sâu 5-6m, không xuất hiện các bậc thềm ngầm,
đáy biển dốc đều. Bề mặt đáy còn bị chia cắt bởi nhiều rãnh ngầm vuông góc với
đường bờ. Ngoài ra bề mặt đáy còn bị gồ ghề bởi các vật liệu thô như cuội, tảng
hoặc ít cát sạn hoặc lộ đá gốc. Sinh vật chủ yếu là san hô và thân mềm, cũng đóng
cuối Holocen giữa [3].
- Thềm biển bậc III tích tụ - mài mòn: thềm có độ cao 10-15m, dạng đồi thấp
ở phía đông, đông bắc đảo và dải viền quanh đồi ở phía nam và tây nam đảo. Bề
6
mặt nghiêng 3-8
o
, hoặc lượn sóng. Cấu tạo bề mặt là cuội, sỏi, cát, bột, dày 0,5-1m.
Thềm được thành tạo vào cuối Plextosen muộn [3].
Thuộc hai nhóm địa hình nguồn gốc gió và bóc mòn – tích tụ, có các dạng
phân bố ở phần đảo nổi, gồm: địa hình thổi mòn - tích tụ đụn cát, địa hình thổi mòn
- tích tụ trảng cát, địa hình thổi mòn - tích tụ sườn cát, sườn tích tụ deluvi – coluvi,
sườn bóc mòn tổng hợp, bề mặt xâm thực - bóc mòn [3].
1.1.1.3. Địa chất
Địa tầng và cấu trúc địa chất
- Trầm tích Đệ tam: Đảo BLV cấu tạo từ các đá trầm tích vụn lục nguyên.
Việc định tuổi các trầm tích này đã qua nhiều ý kiến khác nhau, từ Paleozoi tới
Kainozoi - tuổi Cacbon (Fromaget,1937), Mioxen - Pleistocen sớm (Saurin,1956),
Neogen (Dovjikov, 1965), Mioxen - Pleistocen sớm (Phan Huy Quýnh, 1975),
Mioxen (Đỗ Bạt và Phan Huy Quýnh, 1977), Mioxen muộn - Plioxen sớm [22],
Neogen (Phan Cự Tiến, 1988), Mioxen (Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao và
nnk, 1988), Oligoxen (Phạm Quang Trung và nnk, 1996).
- Trầm tích Đệ tứ: Trầm tích Đệ tứ trên đảo BLV có bề dày thường 0,5 -
1,5m, chủ yếu gồm cát nguồn gốc biển. Trầm tích biển gồm cát, cuội, sỏi, mảnh vụn
sinh vật, là sản phẩm quan trọng tạo nên các thềm biển cao 10m, 5m và 2 - 3m, và
bãi biển hiện đại. Ngoài ra còn có eluvi (trên đỉnh đồi), deluvi (sườn đồi).
Các thành tạo Đệ tam, tuổi Oligoxen và Mioxen - Plioxen gồm các trầm tích
lục nguyên phân lớp, xen nhịp cát kết, bột kết và sét kết, nghiêng oằn về phía bắc -
tây bắc 300 - 320
O
dưới 0,1% trong mẫu ở cấp hạt 0,2 - 0,55 mm [10].
Trầm tích hiện đại sườn bờ ngầm đảo gồm chủ yếu là cát, xen lẫn cuội tảng
kích thước lớn phân bố không liên tục, chủ yếu tập trung ở các rãnh xâm thực cổ.
Đặc biệt, ở sườn bờ ngầm ít nhất tới độ sâu 10m gặp trầm tích vỏ sinh ở sườn tây
bắc (phần bắc) và ở phần nam sườn tây bắc và sườn tây nam. Thành phần trầm tích
bở rời thể hiện ưu thế của các mảnh vụn san hô, thân mềm, foraminifera [11].
8
1.1.1.4. Đặc trưng động lực bờ
Các bãi cát được hình thành nhờ sóng và dòng bồi tích dọc bờ xuất hiện theo
mùa và phân bố chủ yếu ở bờ Tây Bắc và Tây Nam. Về mùa Đông, dòng bồi tích
dọc bờ Tây Bắc di chuyển về phía mũi Tây Nam đảo và tham gia tạo bãi, rộng 23m.
Về mùa Hè, dòng bồi tích dọc bờ Đông Nam và di chuyển về hướng Đông Bắc,
cùng với sóng Đông Nam tham gia tạo bãi. Hiện tượng bồi tụ phân pha tạo bãi chỉ
thể hiện ở hai đầu phía tây nam và phía đông bắc của bờ Đông Nam. Tại bờ Nam,
kể từ khi có âu tàu vào năm 2000, động lực sóng ít làm biến đổi bãi.
Sóng biển là tác nhân chính gây ra xói lở bờ đảo theo mùa và tạo vách trong
quá trình xâm thực, phá huỷ bờ đảo. Vách cát tạo ra do xói lở thềm trẻ nhất cao đến
0,3-0, 5m viền quanh đảo. Ở bờ Tây Bắc, đoạn từ giữa bờ về phía mũi Đông Bắc và
bờ Đông Nam, độ cao của vách đạt 0,5-0, 8m và chân vách ứng với mực nước cao
nhất; đoạn từ giữa bờ về phía mũi Tây Nam, độ cao vách đạt tới 1,0-1, 2m và chân
vách chỉ cao hơn mực nước trung bình 1,0-1, 5m tiếp liền với thềm mài mòn hiện
đại. ở phía Bắc -Tây Bắc, Đông -Đông Nam đảo, bờ bị phá huỷ mạnh, nhưng ở
chân vách đã xuất hiện các đê cuội và chính nó làm hạn chế quá trình xói lở bờ [3]
Căn cứ vào tổng thể các yếu tố tác động ưu thế theo mùa ở từng giai đoạn
khác nhau, có thể ghi nhận 3 trạng thái bờ đảo BLV như sau [3]
- Bờ xói lở mạnh dài 1 200m tính từ mũi Đông Bắc trên đoạn bờ Tây Bắc về
mùa Đông và đoạn dài 2 400m của bờ Đông Nam về mùa Hè. Tốc độ xói lở trung
bình khoảng 5-7 cm/năm.
- Bờ bồi tụ yếu theo mùa (chỉ bồi tụ nổi cao) trên đoạn bờ dài 400m ở phía
Hàng năm khu vực đảo BLV có khoảng 1 600-1 900 giờ nắng và phân bố khá
đều, nhưng nhiều hơn vào cuối hè, đầu thu và ít vào các tháng 2 và 3. Tổng lượng
bức xạ hàng năm ở BLV cao, đạt 132,5 Kcal/cm
2
và cao hơn hẳn so với các đảo ven
bờ (Cát Bà - 108,49 Kcal/cm
2
). Cân bằng bức xạ năm đạt 65-85 Kcal/cm
2
(tương
đương các tỉnh Bắc Trung Bộ). Bức xạ cao trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 10,
đều đạt trên 10 Kcal /cm
2
, cao nhất vào tháng 5 (15,98 Kcal/cm
2
) trong khi các
tháng còn lại đều dưới 10 Kcal /cm
2
, thấp nhất 7,18 Kcal/cm
2
vào tháng 3 [2]
10
Lượng mây trung bình năm, kể cả mây tầng cao và thấp khoảng 7/10 bầu trời,
riêng mây thấp đạt 5/10 bầu trời. Mây nhiều vào cuối mùa đông, ít vào cuối mùa hè,
đầu mùa đông.
- Mưa và bốc hơi
Lượng mưa trên đảo BLV rất thấp so với vùng ven bờ tây vịnh Bắc bộ, trung
bình năm chỉ đạt 1 050 mm và phân bố không đều trong năm. Trong thời gian từ
tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa trung bình tháng đều trên 90 mm, cao nhất vào
mỗi tháng. So với thuỷ triều Hòn Dấu, độ lớn triều BLV nhỏ hơn 0, 1m và lệch pha
nước lớn và nước ròng là 40 phút sớm hơn.
Dòng chảy
Dòng chảy vùng biển BLV chịu ảnh hưởng chung của hệ thống hoàn lưu VBB
thay đổi theo mùa. Dòng triều trong VBB chủ yếu là thuận nghịch hoặc gần thuận
nghịch, hướng cơ bản song song với đường bờ. Tốc độ lớn nhất của dòng triều đạt
tới hơn 5 hải lí /giờ ở eo Hải Nam, trên 3 hải lí /giờ ở bờ đông nam, 1-2 hải lí /giờ ở
phía tây và bắc vịnh, và 2-3 hải lí /giờ ở khu vực giữa vịnh.
Dòng chảy ven bờ đảo có thể được đánh giá dựa trên kết quả đo đạc vào tháng
10/1995. Kết quả cho thấy hướng và tốc độ dòng chảy ở 2 tầng đo gần tương đương
và đồng pha. Tốc độ dòng chảy lớn nhất đo được 65 cm /s ở ven bờ Đông Nam,
trung bình đạt 28 cm /s, trong khi tốc độ cực đại và trung bình ở ven bờ Tây Nam và
đông bắc lần lượt là 20 cm /s, 5,8 cm/s và 25 cm /s, 13 cm/s [3].
Sóng
Sóng phụ thuộc chủ yếu vào gió thay đổi theo mùa và địa hình. Về mùa Đông,
sóng thịnh hành hướng Đông Bắc, độ cao trung bình 0,6-0,9m, cực đại 4, 0m. Sóng
Đông Bắc ở khoảng độ cao 0,4-0, 6m chiếm tần suất trên 50%. Về mùa Hè, sóng
12
hướng Nam và Đông Nam thịnh hành với độ cao trung bình 0,65-0,92m, độ cao lớn
nhất đạt 4, 5m. Sóng hướng Nam ở khoảng độ cao 0,4-0, 6m đạt tần suất lớn nhất,
47,4% (tháng 5), 55,8% (tháng 6) và 60,7% (tháng 7). Sóng lớn đều suất hiện ở các
hướng. Kết quả phân tích số liệu trong 15 năm (1978-1992) tại BLV cho thấy,
hướng sóng thịnh hành là ĐB, BĐB và N, khoảng độ cao sóng 0,25-0, 75m chiếm
tần suất lớn nhất (30,2%) [3].
1.1.2. Đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển
1.1.2.1. Đa dạng sinh học
- Đa dạng hệ sinh thái
Ở vùng nước quanh đảo có mặt nhiều HST khác nhau, đáng chú ý là HST
RSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì tài nguyên và môi trường khu vực
Số loài
Số giống
Số họ
1
Thực vật ngập mặn
17
17
14
2
Cỏ biển
1
1
1
3
Rong biển
46
28
17
4
Thực vật phù du
210
47
5
Động vật phù du
110
57
6
San hô
(Clypemorus spp), v.v. Tổng lượng sinh vật đáy riêng ở vùng triều có thể đạt trên 1
500 tấn. Chúng tạo thành những bãi hải sản quan trọng.
- Nguồn lợi ngư trường quanh đảo
Vùng biển quanh đảo có gần 400 loài cá biển trong tổng số 960 loài thuộc
VBB, trong đó có 49 loài cá có giá trị kinh tế cao, hầu hết thuộc loài cá nhiệt đới
biển nông, một số ít thuộc loại xa bờ [8]
Ngư trường BLV rộng khoảng 1 500 hải lý vuông, được coi là tốt nhất VBB.
Tại đây có thể khai thác nhiều loài cá kinh tế với mật độ cao, sản lượng đánh bắt đạt
250 kg /h. Trong ngư trường có 4 nhóm cá chủ yếu: cá nổi, cá tầng đáy, cá đáy và
cá RSH. Các loài cá đặc biệt có ý nghĩa kinh tế gồm: cá Trích (2 loài), cá Mối (3
loài), cá Song, cá Khế, cá Hồng, cá Lượng, cá Phèn, cá Thu ngừ. Đặc biệt, cá Song
đang là đối tượng tập trung khai thác của tàu thuyền các tỉnh khác đến. Giá trị của
cá Song lớn gấp nhiều lần các nhóm cá tạp và được khai thác gần như quanh năm,
nhưng chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 1.
Mực xung quanh đảo BLV có 12 loài, trữ lượng ước tính 4 959 tấn, khả năng
khai thác 2 477 tấn. Riêng mực Xanh trữ lượng đạt 2 919 tấn, khả năng khai thác 1
168 tấn [7]. 15
1.1.3. Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Tổ chức bộ máy
Ngày 9/12/1992, Chính phủ ra Nghị định số 15/NĐ/CP về việc thành lập
huyện BLV, thuộc thành phố Hải Phòng và ngày 26/3/1993, Đảng bộ và chính
quyền huyện chính thức ra mắt. Do huyện nhỏ, không có đơn vị hành chính cấp xã,
tổ chức bộ máy gọn nhẹ và cán bộ kiêm nhiệm. Bộ máy tổ chức của huyện hiện có,
Huyện ủy, HĐND, UBND, và khối nội chính. Các phòng, ban chuyên môn chính
gồm phòng Tài chính, phòng Kinh tế - Kế hoạch, phòng Văn hoá - Thông tin, phòng
Thể dục thể thao, phòng Tư pháp và phòng Thống kê, Ban xây dựng Đảng. Khối
nội chính gồm có các bộ phận Công an, Toà án, Viện Kiểm sát và Đội Thi hành án,
0,7 ha
0,30%
(5). Đất chưa sử dụng (gồm đất hoang và bãi ngập triều cao)
112,8 ha
48,39%
Tổng cộng:
233,1 ha
= 100%
(Nguồn: Viện Tài nguyên và Môi trường biển, 2006)
1.1.3.4. Cơ sở hạ tầng
Từ khi thành lập huyện, cơ sở hạ tầng trên đảo dần được cải thiện tới mức
đáng kể.
- Giao thông đường bộ. Hiện có 5 km đường nhựa (4 km ở độ cao 20m và 1
km trong khu dịch vụ) và khoảng 10 km đường bê tông rộng 3, 5m vòng quanh đảo,
tiêu chuẩn đường cấp 5 miền núi, gồm các tuyến đường 5A, 5B và 5C. Ngoài ra,
còn có 15 km đường đất ở phía bắc, phía đông, phía tây đảo và hệ thống đường nối
các tuyến dân cư. Các tuyến đường 6, 7, 8 nối tuyến đường 5 vào trung tâm đảo đã
được thiết kế.
- Cảng và giao thông thuỷ. Cảng có hệ thống đê chính dài 648m, đê phụ
514m, 3 bến cập tầu (bến chính có thể cập tầu 400T, bến tầu cá dài 100m và bến
nghiêng phục vụ quốc phòng). Âu cảng nông, diện tích hữu ích neo đậu tầu thuyền
17
chỉ còn khoảng 7, 4 ha lúc triều kiệt. Cửa và luồng vào hướng về phía Tây Nam,
nên khi có gió Đông Nam mạnh, tầu thuyền không vào được.
Tàu khách cao tốc Bạch Long, vỏ hợp kim nhôm đi biển có sức chở 80 - 120
hành khách, tốc độ 18 - 20 hải lý /giờ, chạy tuyến Hải Phòng ra đảo đã được đóng
mới. Tàu này hoạt động từ tháng 1/2002 với hành trình hơn 5 giờ. Ngoài ra, còn có
1 tàu vận tải kết hợp chở khách do UBND huyện quản lý thường xuyên hoạt động.
- Điện. Trên đảo hiện có hơn 40 máy phát điện diezen công suất 1-200 KVA,
18
trình xây dựng trên đều được bố trí khá hợp lý, nhưng cơ sở hạ tầng còn ở mức thấp
và chưa đồng bộ
1.1.3.5. Các hoạt động kinh tế
Ngư nghiệp
Ngư nghiệp ở đảo chủ yếu là các nghề lặn Bào ngư và đánh cá ven bờ, ngoài
ra còn bắt Hải sâm. Trước năm 1988, mỗi năm có thể khai thác khoảng 40 - 50 tấn
cá song, 30 - 40 tấn Bào ngư. Do khai thác quá mức, nguồn lợi Bào ngư giảm hẳn,
hiện chỉ phân bố ở độ sâu 3 - 5 m nước trở vào với mật độ không lớn.
Nghề cá của dân chưa phát triển, phương tiện thô sơ. Chỉ có 8 hộ có thuyền máy
với 12 máy (6-15CV), tổng công suất 78 CV. Khoảng 20 hộ chỉ sắm được thuyền nan
nhỏ đánh bắt hải sản sát ven đảo. Doanh thu hàng năm ước tính trên 1 tỷ đồng (1 440
triệu đồng năm 2004, trong đó: câu mực khoảng 10 tấn, trị giá 380 triệu đồng; khai
thác Bào ngư khoảng 3 tấn, trị giá 900 triệu đồng và đánh cá 16 tấn trị giá khoảng
160 triệu đồng).
Các tầu khai thác ngư trường Bạch Long Vỹ đến từ các tỉnh từ Quảng Ninh
đến Bình Định với các nghề vây rút chì, giã, câu cá, câu mực, chụp mực. Nghề vây
rút chì có số lượng tàu và công suất lớn (300 CV), trong đó Bình Định có khoảng
300 chiếc, Thanh Hóa có 200 chiếc, Quảng Trị có khoảng 100 chiếc và các tỉnh
khác từ 100 – 200 chiếc. Năm 2006 số lượng tàu công suất lớn hoạt động ở ngư
trường Bạch Long Vỹ giảm 60%, nhưng số lượng tàu nhỏ tăng như tàu giã loại 45
CV của Quảng Ngãi, tàu câu 15 CV- 45CV của Thanh Hóa.
Nông lâm nghiệp
Do thiếu nước tưới, lương thực và thực phẩm dùng trên đảo chủ yếu từ đất
liền. Trước năm 1965, trên đảo có 22 ha đất lúa, cao lương, dưa hấu, bí đỏ, bí đao,
v.v nhưng sản lượng thấp: lúa dưới 2 tấn /ha/năm, cao lương 0, 75 tấn/ha/năm, dưa
hấu 0, 7 tấn/ha/năm. Hiện nay, tổng diện tích rau quả đạt 8 500 m
2
, thu hoạch hàng