nghiên cứu lựa chọn giải pháp khai thác mỏ vàng sa khoáng na rì, tỉnh bắc kạn nhằm giảm thiểu tác động tới môi trường đất - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Nguyễn Thị Phương Thảo NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN GIẢI PHÁP KHAI THÁC
MỎ VÀNG SA KHOÁNG NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN NHẰM
GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TỚI MÔI TRƯỜNG ĐẤT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Nguyễn Thị Phương Thảo

1.1.1. Nguồn gốc, quá trình thành tạo và phân bố quặng vàng sa khoáng 3
1.1.2. Trữ lượng vàng sa khoáng trên Thế giới và ở Việt Nam 7
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG 10
1.2.1. Các phương pháp khai thác vàng sa khoáng trên Thế giới 10
1.2.2. Các phương pháp khai thác vàng sa khoáng tại Việt Nam 10
1.3. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC
KẠN 14
1.3.1. Đặc điểm và trữ lượng các mỏ vàng sa khoáng ở Bắc K
ạn 14
1.3.2. Tình hình khai thác vàng sa khoáng và các tác động đến môi trường 15
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1. Phương pháp tiếp thu kế thừa các nguồn tài liệu đã có 22
2.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 23
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn 23
2.2.4. Phương pháp phân tích mẫu 24
2.2.5. Phương pháp phân tích tổng hợp, tính toán lựa chọn công nghệ. 26
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1. ĐI
ỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN 27
3.1.1. Vị trí địa lý 27
3.1.2. Đặc điểm khí hậu, thủy văn 27
3.1.3. Điều kiện kinh tế, xã hội 28
3.2. ĐẶC ĐIỂM KHU MỎ VÀNG SA KHOÁNG NA RÌ 29
3.2.1. Đặc điểm địa chất khoáng sàng 29
3.2.2. Đặc điểm cấu tạo và phân bố các thân quặng vàng sa khoáng 33
3.2.3. Phân bố và trữ lượng các mỏ vàng sa khoáng ở Na Rì 35
iii


KHKT Khoa học kỹ thuật
KT-XH Kinh tế - Xã hội
Kts Kali tổng số
Nts Nitơ tổng số
MT Môi trường
MTĐ Môi trường đất
MTN Môi trường nước
pH Độ chua
Pts Phốt pho tổng số
TCVN Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam
QCVN Quy chuẩn môi trường Việt Nam
v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Trữ lượng vàng theo từng loại hình mỏ trên Thế giới 7

Bảng 1.2. Tổng hợp sản lượng vàng sa khoáng của từng vùng trên Thế giới 8
Bảng 1.3. Sản lượng khai thác vàng của các nước trên Thế giới (tấn) 8
Bảng 1.4. Trữ lượng vàng sa khoáng ở Việt Nam 9
Bảng 1.5. Hiện trạng ô nhiễm nước sông Ngân Sơn 16
Bảng 2.1. Chỉ tiêu và phương pháp phân tích chất lượng nước 26
Bảng 3.1. Kết quả phân tích mẫu nước thuộc khu vực nghiên cứu 28
Bảng 3.2. Tổng hợp trữ lượng vàng Lương Thượng- Na Rì - Bắc Kạn 36
Bảng 3.3. Hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải khai thác vàng sa khoáng
vào mùa khô năm 2012 39


trong nước thải mỏ (mg/l) 42
Hình 3.7. Hàm lượng trung bình của Nts trong nước thải mỏ (mg/l) 43
Hình 3.8. Hàm lượng trung bình của Pts trong nước thải mỏ (mg/l) 43
Hình 3.9. Hàm lượng trung bình của xyanua trong nước thải mỏ (mg/l) 44
Hình 3.10. Hàm lượng trung bình của thủy ngân trong nước thải mỏ (mg/l) 44
Hình 3.11. Sơ đồ nguyên tắc thu hồi vàng từ quặng vàng 57
Hình 3.12. Sơ đồ công nghệ tuyển luyện thu hồi vàng từ quặng vàng sa khoáng 58
Hình 3.13. Sơ đồ công nghệ khai thác bằng cơ giới 60
Hình 3.14. Sơ đồ công nghệ khai thác bằng sức nước sử dụng tàu hút bùn 65
Hình 3.16. Sơ đồ tường chắn trong bãi lắng bùn 70
Hình 3.17. Tăng chiều dài lắng bằng các đường dẫn dòng kiểu hình nêm 70
Hình 3.18. Sơ đồ tường chắn đặt song song với hướng dòng chảy 71
Hình 3.19. Sơ đồ tường lọc 72
1

MỞ ĐẦU

Vàng là kim loại quý hiếm, từ lâu đã được con người biết đến, khai thác và chế
biến phục vụ nhu cầu dân dụng và công nghiệp. Nhu cầu về sử dụng vàng trong các
ngành công nghiệp cũng như trong đời sống hàng ngày (trang sức, tích trữ, ) những
năm gần đây liên tục tăng. Do nhu cầu tăng kết hợp với nguồn tài nguyên ngày càng
khan hiếm đã đưa vàng trở thành kim loại ngày càng có giá trị và thúc đẩy ngành công
nghiệp khai thác vàng phát triển
ở trong nước cũng như trên toàn thế giới.
Khu vực phía Bắc Việt Nam vốn có tiềm năng lớn về khoáng sản, đa dạng với
các quy mô khác nhau, đây cũng là vùng có trữ lượng vàng lớn trong nước. Trong
nhiều năm trước đây, đa phần các mỏ vàng được nhân dân khai thác tự do bằng công
nghệ đãi vét thủ công, tập chung chủ yếu vào các điểm sa khoáng có hàm lượng cao.
Việc khai thác tự do bằng công nghệ lạc h
ậu, thiếu sự quản lý trong nhiều năm

Mục tiêu cụ thể của đề tài được xác định là đánh giá tình hình khai thác vàng sa
khoáng và ảnh hưởng của quá trình khai thác - tuyển quặng tới môi trường đất ở Na Rì
- Bắc Kạn. Trên cơ sở đó lựa chọn giải pháp công ngh
ệ hợp lý để khai thác đạt hiệu quả,
giảm thiểu các tác động đến môi trường đất do khai thác-tuyển quặng vàng gây ra.
3

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. SỰ THÀNH TẠO VÀ PHÂN BỐ QUẶNG VÀNG SA KHOÁNG
1.1.1. Nguồn gốc, quá trình thành tạo và phân bố quặng vàng sa khoáng
Vàng là kim loại bền vững nên nó có thể được giải phóng khi đá bao quanh bị
phá hủy. Vàng không tự liên kết với nhau mà được vận chuyển bởi nước và tích tụ lại ở
những vị trí nào đó được gọi là vàng sa khoáng [14]. Mỏ vàng sa khoáng là loại mỏ có
nguồn gốc ngoại sinh, được thành tạo do bóc mòn, phá huỷ quặng vàng gốc, vận chuyển
và tích tụ lại thành khoáng sàng.
Vàng sa khoáng ở nước ta phân b
ố ở rất nhiều nơi. Đến nay đã phát hiện nghiên
cứu, thăm dò và đánh giá trữ lượng khoảng 150 điểm mỏ sa khoáng vàng. Đã xác lập
được các loại sa khoáng vàng: eluvi, deluvi, proluvi, hỗn hợp, karst và aluvi (Trần Văn
Trị và nnk, 1996) [16].
1.1.1.1. Sa khoáng eluvi:
Những tích tụ chứa vàng này nằm ở các mạch hoặc đới mạch thạch anh nhiệt
dịch bị phong hóa mà thành. Vàng được giải phóng và làm giàu ngay tại vùng lộ đá
gốc. Kiểu sa khoáng vàng eluvi, deluvi th
ường phân bố ngay trên đỉnh hoặc sườn núi
và có quan hệ mật thiết, nằm kề sát hoặc gần các thân quặng vàng gốc. Sa khoáng

các nón phóng vật. Ở các
nhánh suối thượng nguồn, các hạt vàng thường có kích thước lớn nằm ở phần lót đáy
của trầm tích proluvi. Hàm lượng vàng không đồng đều, thân quặng không ổn định,
quy mô các mỏ thường nhỏ gặp nhiều ở các tỉnh phía bắc nước ta.
1.1.1.4. Sa khoáng karst:
Là những sa khoáng nằm trong thung lũng karst, phân bố rải rác trong các vùng đá
vôi, địa hình phức tạp như ở Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Thanh Hóa, Lạng Sơn.
Sa khoáng thường tậ
p trung thành những ổ hoặc thấu kính trong terra rossa (sản phẩm
phong hóa của đá vôi). Đó là lớp sét vàng, vàng gạch trên địa hình lồi lõm của các địa
hình karst. Nhiều khi chúng lấp đầy trong các khe nứt đá vôi với hàm lượng vàng khá cao.
Việc đánh giá tiềm năng của loại hình này rất phức tạp vì hàm lượng không đồng đều và
địa hình phân dị [16]. 5

1.1.1.5. Sa khoáng aluvi:
Là loại hình mỏ sa khoáng vàng khá phổ biến và có triển vọng nhất. Sa khoáng
aluvi được thành tạo do tác dụng tương hỗ giữa các nhân tố như nguồn vàng nguyên
sinh, quá trình phong hóa vàng được giải phóng ra ở dạng vụn, hoặc quá trình oxy hóa
tạo điều kiện thuận lợi cho việc hòa tan thành dung dịch, các vị trí trũng tạo thành các
”bãy” tích tụ vàng. Chúng thường được gặp trong các trầm tích ở những bậc thềm có
độ cao khác nhau và trong các thung lũng của các sông, suối nh
ỏ và các đồng bằng
ngập úng. Vàng được dòng chảy thường xuyên vận chuyển đi và tích đọng trong các
trầm tích aluvi cùng với cuội, sạn, cát và sét bở rời. Chúng thường tạo thành những
thấu kính hoặc những thân sa khoáng tương đối ổn định về hàm lượng và chiều dày.
Cũng thuộc kiểu hình này, trong các thung lũng kiến tạo hoặc đồng bằng trước núi còn
gặp kiểu mỏ sa khoáng vàng tồn tại ở dạng chôn vùi. Đó là sa khoáng vàng sau khi

- Các sa khoáng ở Nam Mỹ: Colombia, Bolivia, Peru, Chile
Ngoài ra, ở một số nước trên Thế giới còn gặp kiểu sa khoáng vàng phân bố xa
các mỏ quặng gốc, chúng được tích t
ụ chủ yếu ở ven biển hoặc ở các vùng hồ, đầm
lầy, sa khoáng vàng cồn cát hoặc kiểu vàng sa khoáng ở các vùng băng hà. Sa khoáng
bãi bồi được thành tạo do tác động của sóng và dòng chảy ven bờ, dọc theo các hồ
hoặc ở bờ biển và đại dương. Trên thực tế, các kiểu sa khoáng vàng này thường ít có
giá trị công nghiệp. Điển hình cho loại hình này là mỏ Nome ở bán đảo Seward bang
Alaska, dọc bờ biển California, Oregon (Mỹ), Colombie Britanique (Canada), Chile và
New Zealand [14]
Hàm lượ
ng vàng trong các sa khoáng nói chung không lớn, thay đổi từ 0,1-
1g/m
3
, ở một vài sa khoáng hàm lượng có thể đạt tới 1,5g/m
3
; chiều dày tầng đất đá
chứa vàng 0,5-3m, lớp phủ thay đổi từ 1-2 đến trên dưới 10m.
Những mỏ vàng sa khoáng điển hình ở Việt Nam là Nà Phòn (Hòa Bình), Mu
Lu (Sơn La), Cẩm Tâm (Thanh Hóa), Suối Nhâu, Khắc Kiệm, Làng Vài (Bắc Kạn),
Trại Cau (Thái Nguyên) Theo đặc điểm phân bố, các mỏ vàng sa khoáng ở nước ta
có thể chia thành các vùng quặng: Đông Bắc, Tây Bắc, Thanh Hoá - Nghệ An, Hà
Tĩnh - Bắc Quảng Bình, Nam Quảng Bình - Thừa Thiên Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng,
Trung Trung Bộ và Tây Nguyên [16].
1.1.1.6. Sa khoáng hỗn hợp:
Trong tự nhiên rất ít gặp loại hình sa khoáng vàng có một nguồn gốc độc lập mà
chúng thường có nguồn gốc đa dạng (proluvi-aluvi, eluvi- deluvi ) nên chúng ta
thường gặp sa khoáng vàng có nguồn gốc hỗn hợp như sa khoáng vàng proluvi-aluvi,
sa khoáng vàng eluvi- deluvi
7

50.000

57,65

57,65
-Tầng cuội kết có khoáng hóa
vàng bị oxy hóa (mỏ Tarkwa)
250 0,27 0,27

2

Sa khoáng
trẻ
- Aluvi và eluvi 2.525 2,91
9,58
- Được làm giàu dọc theo
đường bờ Thái Bình Dương
5.790 6,67

Tổng cộng 58.565 67,60

1.1.2.2. Trữ lượng vàng sa khoáng ở Việt Nam
Theo quy mô mỏ, đến nay ở Việt Nam chỉ có mỏ vàng sa khoáng Lương
Thượng (Bắc Kạn) thuộc loại quy mô lớn. Các mỏ có quy mô trung bình gồm loại hình
sa khoáng Bồ Cu, Trại Cau (Thái Nguyên), số còn lại có quy mô nhỏ và các điểm
quặng. Dự báo tiềm năng vàng sa khoáng ở nước ta trên cơ sở phân tích tần suất gặp
quặng và quy mô triển vọng với tần suât 15-17% trên tổng số mỏ, đi
ểm quặng, 7-9%
trên tổng số tài nguyên vàng dự báo, hơn 100 điểm quặng và mỏ dự báo khoảng 62
tấn vàng (Bảng 1.4).

6 Nga 143 153 168 170 169 - -
7 Canađa 156 159 152 141 129 119 120
8 Uzbekistan 85 87 90 90 93 - -
9 Indonesia 125 166 142 141 93 140 145
10 Các nước khác 668 658 682 697 700 793 840
Tổng cộng 2.570 2.560 2.550 2.550 2.430 2.470 2.500
Nguồn [11]
9

Mỏ vàng sa khoáng Lương Thượng thuộc địa phận xã Lương Thượng, huyện
Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, đã được Liên đoàn địa chất Đông Bắc đánh giá năm 1992. Tổng
tài nguyên vàng trong mỏ đã tính được 1824kg Au, trong đó có 1424kg cấp C2. Hàm
lượng vàng trung bình là 0,52 g/m
3
.
Bảng 1.4. Trữ lượng vàng sa khoáng ở Việt Nam

TT

Tên mỏ
Hàm lượng
trung bình
(g/m
3
)
Trữ lượng
quặng (nghìn
m
3
)

đó có 1150kg cấp C
2
. Hàm lượng thu hồi vàng trung bình là 0,81 g/m
3
.

1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG
1.2.1. Các phươngphápkhaithácvàngsakhoángtrênThếgiới
Có nhiều phương pháp khai thác vàng sa khoáng khác nhau trên thế giới phụ
thuộc vào đặc điểm phân bố của vàng và cấu trúc địa chất của đá vây quanh.
Phương pháp khai thác lộ thiên, hầm lò và kết hợp giữa khai thác lộ thiên - hầm
lò là các phương pháp khá phổ biến để khai thác vàng trên Thế giới. Riêng đối với
khai thác vàng sa khoáng, hầu hết chỉ
sử dụng phương pháp khai thác lộ thiên, sau đó
đưa về cơ sở tuyển quặng, phân kim để lấy vàng tinh. Một số nơi khai thác, đãi tuyển
quặng ngay tại mỏ, chiết ly vàng bằng hoá chất.
Quặng sa khoáng dạng sườn tích ở địa hình gò, đồi có thể khai thác và chuyển về
xưởng tuyển tập trung hoặc hệ thống tuyển cơ động. Quặng sa khoáng lòng sông, lòng
hồ, bãi bồi có thể sử dụng các lo
ại hình công nghệ khai thác bằng sức nước kết hợp với
hệ thống tuyển trên phao hoặc cụm thiết bị di động kèm hệ thống tuyển trọng lực.

1.2.2. Các phương pháp khai thác vàng sa khoáng tại Việt Nam
Các mỏ vàng sa khoáng tại Việt Nam nói chung và tại khu vực phía Bắc Việt
Nam nói riêng được phát hiện và khai thác từ rất sớm. Từ đầu thế kỷ 19 người Trung
Quốc và người Pháp đã khai thác vàng sa khoáng ở khu vực sông Ngân Sơn, Na Rì, …
Nhìn chung các xí nghi
ệp khai thác vàng cả trung ương và địa phương đều có
quy mô nhỏ, chủ yếu là khai thác thủ công kết hợp với cơ giới. Sản lượng khai thác
hàng năm của mỗi xí nghiệp từ vài kg đến 10-20 kg. Tổng sản lượng vàng khai luyện

mỏ, công ty đã thực hiện hoàn nguyên để trả lại đất canh tác cho địa phương.
* Mỏ vàng Lạng San- Na Rì tại thung lũng Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn
được thành lập 01/1989 trên cơ sở quyết định số 35/MĐC/KTM ngày 10/11/1988 củ
a
Cục QLTNKS-NN cho phép thử nghiệm phương thức vừa thăm dò vừa khai thác vàng
sa khoáng.
Mỏ được khai thác lộ thiên bằng công nghệ cơ giới gồm: máy xúc, nhà tuyển.
Quá trình khai thác thử nghiệm đạt hiệu quả thấp. Sản xuất đến tháng 7/1994 đã thu
hồi được 7,6kg vàng, Công ty đã lập phương án hoàn thổ và thống nhất với địa phương
trên nguyên tắc địa phương thực hiện hoàn thổ, chi phí hoàn thổ do công ty thanh toán.
Tuy nhiên, do hiện tượ
ng khai thác trái phép vẫn tiếp diễn nên phương án hoàn thổ vẫn
chưa thực hiện được.
12

+ Xí nghiệp liên doanh thăm dò, khai thác vàng Việt Nga: Đây là xí nghiệp
liên doanh giữa Công ty kim loại màu Thái Nguyên và Liên hiệp địa chất nước ngoài
thuộc Bộ địa chất nước Cộng hoà liên bang Nga được thành lập tháng 4/1992. Xí
nghiệp có tổng vốn đầu tư là 1.604.000 USD (phía Việt Nam góp 40%). Đầu năm
1994 xí nghiệp bắt đầu đi vào khai thác trên diện tích được cấp phép là 225 ha tại
huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Tổng trữ lượng vàng là 1 tấn, hàm lượng vàng trung bình
trong cát quặng là 1g/m
3
.
Mỏ được khai thác lộ thiên bằng cơ giới, đất quặng được máy gạt ủi về hố khai
thác, tại đây dùng súng bắn nước áp lực cao (4-5atm) đánh tơi và thải loại đá trên sàng
tĩnh, phần dưới sàng dùng bơm cát bơm lên máng đãi dài có chớp để tuyển thổi. Tinh
quặng của máng đãi được định kỳ tháo dỡ và tuyển tinh trên bàn đãi ngắn, vàng thô
được xử lý tiếp để thu hồi vàng. S
ản lượng năm đầu tiên đạt 36,546 kg vàng 99,9%,

cấp và tuyển bằng máng chớp, máng trải thảm do vậ
y thực thu vàng không cao
(khoảng 50%), vàng mịn bị thất thoát. Quá trình khai thác thực tế cho thấy sản lượng khai
thác thấp hơn nhiều so với dự kiến trên cơ sở trữ lượng dự báo của mỏ do khai thác tiến
hành khi chưa được thăm dò bổ sung.
Ngoài ra một số địa phương như Tuyên Quang, Hà Giang, Lai Châu,… đã tổ
chức khai thác tận thu ở các khu vực có vàng sa khoáng dọc sông Lô, sông Gâm, sông
Mã,… Năm 2005-2006 riêng Lai Châu đã khai thác chế biến vàng sa khoáng với tổng
s
ản lượng >100kg/năm.
Nhìn chung, với thực trạng công nghệ khai thác, chế biến quặng còn thô sơ, lạc
hậu, thiếu quy hoạch định hướng, hiện tượng khai thác vàng trái phép đã từng diễn ra
phổ biến trên các điểm mỏ vàng nên hiện nay trật tự phân bố tự nhiên vàng sa khoáng
các tỉnh phía Bắc Việt Nam đã bị xáo trộn, gây khó khăn, phức tạp nhất định cho công
tác thăm dò, khai thác, khoáng sản giai đoạn sau.
Dự
báo còn lại khoảng 60-70% trữ lượng vàng tại các điểm mỏ vàng sa khoáng
đã bị khai thác. Ngoài phần cát quặng, đất quặng được biết đến cũng không loại trừ
nhiều khả năng vàng nằm lẫn trong các hang, hốc đá gốc.
Với hiện trạng khai thác như hiện nay, điều kiện quản lý và khai thác tài nguyên
tại các điểm mỏ vàng sa khoáng là rất khó khăn. Ngoài việc phải khai thác tài nguyên
cần phải đánh giá l
ại trữ lượng, xác định các giải pháp công nghệ hợp lý để khai thác
tài nguyên có hiệu quả cao nhất, góp phần bảo vệ môi trường vùng mỏ.
14

1.3. TÌNH HÌNH KHAI THÁC VÀNG SA KHOÁNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN

+ Chiều dài 800m Chiều dày quặng dự kiến 3,7m
+ Chiều rộng 200m Hàm lượng Au 0,52 g/m
3

+ Trữ lượng cấp P = 308 kg.
Khoảng mặt bằng mỏ của thung lũng chuyển tiếp giữa Lương Thượng và Tân
An phần thuộc Lương Thượng có quy mô:
+ Chiều dài 400m Chiều dày quặng 3,7m
+ Chiều rộng 120m Hàm lượng Au 0,52 g/m
3

+ Trữ lượng vàng cấp P = 92 kg.
Những phần còn lại khác thuộc Lương Thượng do kích thước nhỏ nên không
tính trữ lượng hoặc trữ lượng cấp P ở Lương Thượng cấp P = 400kg.
15

Kết quả đã tính được của phương án này là ở cấp C
2
= 1.486 kg; hàm lượng
trung bình là 0,26 g/m
3
chiều dày trung bình là 12,8m. Như vậy tổng trữ lượng vàng sa
khoáng cấp C
2
+ P = 1.886 kg [18].
Kết quả thăm dò, tìm kiếm trữ lượng vàng tại 6/8 huyện, thị xã của tỉnh Bắc
Kạn gồm huyện Ngân Sơn, Ba Bể, Na Rì, Chợ Mới, Pác Nặm, Bạch Thông, các cơ
quan chức năng đã xác định được 17 mỏ và điểm quặng có vàng gốc, vàng sa khoáng
với trữ lượng trung bình khoảng 30 tấn.
Huyện Na Rì có 3 điểm vàng sa khoáng tập trung dọc theo dòng sông ngầm

biệt, phần lớn các hang đều đào ở những vị trí phía dưới của những điểm đã bị sạt lở
do mưa hoặc do khai thác có taluy cao đến cả trăm mét, cửa hang không có chống nên
rất dễ
bị sập. Mỗi hang khi khai thác thường có gần chục người đào bới ở bên trong
nếu bị sạt lở thì rất nguy hiểm.
Hiện nay việc khai thác vàng ở Bắc Kạn diễn ra rất lộn xộn, không có quy
hoạch và quản lý chặt chẽ. Tại thôn Pác Nạn, các đội khai thác hoạt động ngang nhiên
giữa ban ngày, với hình thức đào hang, làm lò, cùng với nhiều loại máy móc và các
trang thiết bị cần thiết phục vụ khai thác, lọ
c, tuyển vàng. Việc khai thác vàng trái
phép diễn ra ngày cáng phổ biến, cũng có đoàn đến kiểm tra nhưng vì làm thủ công
nên chỉ nhắc nhở, cũng có trường hợp bị lập biên bản và xử lý vi phạm hành chính.
Việc khai thác vàng trong khu vực thôn đã được báo cáo lên xã, tổ đội của xã cũng đã
vào kiểm tra lập biên bản và nhắc nhở, nhưng do quy mô nhỏ nên chính quyền xã đã
không xử lý triệt để. Việc khai thác vàng trái phép ngoài việc làm ảnh hưởng đế
n đời
sống của người dân trong thôn khi tiếng ồn của máy nổ chạy cả ngày đêm còn làm mất
diện tích đất nông nghiệp và ô nhiễm các con sông, suối.
Bảng 1.5. Hiện trạng ô nhiễm nước sông Ngân Sơn
Nhóm
Loại chỉ
tiêu
Giá trị hàm lượng (mg/l)
QCVN
08:2008/BTNMT
Cột A2 (mg/l)
Trung
bình
Max Min
Nguyên tố

F 0,09 0,51 <0,05 1,5
I 0,0024 0,0095 <0,0001 *0,005
Nhóm hợp
chất ni tơ
N-NH
4
+
<0,01 0,01 <0,01 0,2
N-NO
3
-
5,86 81,00 0,19 5
N-NO
2
-
0,03 0,37 <0,01 0,02
* Giá trị hàm lượng tối đa cho phép theo Tiêu chuẩn của Bộ y tế.
** Giá trị hàm lượng tối đa cho phép theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN: 2003.

Theo Báo cáo số 96/BC-UBND, ngày 19/11/2012 của Ủy ban nhân dân xã
Bằng Vân gửi Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ngân Sơn, xã đã kiểm tra và
giải tỏa tại 3 điểm là Nà Phai (thôn Pác Nạn); Vi Ba (thôn Khuổi Ngọa); Mèo Đăm
(thôn Khinh Héo), lập biên bản 10 nhóm khai thác khoáng sản trái phép, với hình thức
khai thác thủ công, đào hang [23].
Tại các xã Thuần Mang (Ngân Sơn), Lương Thượng, Lươ
ng Thành, Lạng San,
Kim Hỷ (Na Rì) đâu cũng thấy cảnh máy nổ, máy xúc, giàn tuyển với sự hỗ trợ của
người dân ra sức khai thác vàng trái phép, dẫn đến tàn phá môi trường tự nhiên góp
phần vào việc gây thất thoát một nguồn tài nguyên lớn của quốc gia (Hình 1.1).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status