Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐẶNG VĂN QUANG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI
PHÁP CẢI THIỆN SINH KẾ CHO HỘ NGHÈO
HƢỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐỖ ANH TÀI
Thái Nguyên -2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả. Các số
liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều
được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
ĐẶNG VĂN QUANG
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 09 năm 2014
Tác giả ĐẶNG VĂN QUANG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 8
1. Tính cấp thiết của đề tài 8
2. Mục đích nghiên cứu 9
3.1.4 Thực trạng cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục 39
3.2. Tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn huyện 40
3.2.1. Diện tích một số cây trồng chính qua 3 năm tại vùng nghiên cứu 46
3.2.2. Tình hình chăn nuôi một số vật nuôi chính qua 3 năm tại vùng nghiên cứu 48
3.3. Thực trạng phát triển sinh kế và các nguồn lực sinh kế của các hộ nghèo trên
địa bàn nghiên cứu 50
3.3.1. Nguồn vốn tự nhiên của nhóm hộ điều tra trên địa bàn 52
3.3.2. Vốn con người của nhóm hộ điều tra 53
3.3.3. Vốn vật chất của nhóm hộ điều tra 54
3.3.4. Vốn tài chính của nhóm hộ điều tra 55
3.4. Những khó khăn của nhóm hộ nghèo trong phát triển sinh kế 62
3.5. Chiến lược và giải pháp xóa đói giảm nghèo tại địa phương 71
3.5.1. Phương hướng, mục tiêu 71
3.5.2. Những giải pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế cho các hộ
nghèo trên địa bàn huyện Võ Nhai 74
KẾT LUẬN 91
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến 2011 13
vi
Bảng 3.24. Dự kiến bố trí diện tích trồng mới một số cây trồng chính trên địa bàn
đến 2015 75
Bảng 3.25. Các chương trình cho vay vốn tại địa phương 76
Bảng 3.26. Dự kiến đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho hộ nông
dân đến năm 2015 79
Bảng 3.27. Dự kiến phát triển cơ sở hạ tầng cho các xã giai đoạn 2015 - 2020 81
Bảng 3.28. Định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa phương 87
Bảng 3.29. Dự kiến mở một số lớp tập huấn cho người dân về cải thiện sinh kế gắn
với phát triển kinh tế xanh 89 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1. Khung phân tích sinh kế 16
Hình 3.1. Cơ cấu giá trị sản xuất của cá ngành năm 2011 và 2013 43
Hình 3.2. Giá trị ngành nông, lâm, thủy sản qua các năm 45
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước đang phát triển, với hơn 90% tỷ lệ người nghèo đang
sinh sống ở các vùng nông thôn hẻo lánh. Đây là những vùng yếu kém, dễ bị tổn
thương, cộng đồng dân cư sống ở những vùng này còn chịu nhiều thiệt thòi, cơ hội
tiếp cận giáo dục, thông tin thị trường còn hạn chế. Do vậy, nông nghiệp bền vững
và sinh kế ổn định đóng vai trò quan trọng trong công tác giảm nghèo và sự phát
triển của đất nước. Để giảm số lượng người nghèo, chính phủ và các cơ quan phát
triển ở Việt Nam đã có nhiều nỗ lực phát triển sinh kế cho người nghèo trong thập
kỷ vừa qua và đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
rằng vẫn còn rất nhiều những khó khăn, trở ngại không ngừng tác động đến đời
sống thường ngày của đồng bào dân tộc thiểu số như: Thiếu vốn sản xuất, trình độ
kỹ thuật chưa cao, chi phí sinh hoạt cao, chi phí đầu vào lớn,… Hơn thế nữa là hàng
loạt những hệ lụy của những phương thức canh tác không bền vững, sự suy thoái tài
nguyên đất, nước ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, sự gia tăng các hiện tượng
thiên tai dưới tác động của biến đổi khí hậu. Sự cộng hưởng của những yếu tố này
tiếp tục đẩy người dân đến tình trạng đói nghèo.
Đứng trước thực trạng đó hàng loạt những chương trình dự án về sinh kế bền
vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con người. Nó là
điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người nhưng
vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên. Trên thực tế đã có
nhiều chương trình, tổ chức, dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng đến mục tiêu
phát triển ổn định và bền vững. Thực tế cho thấy việc lựa chọn những hoạt động
sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên,
xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng,… Việc điều tra, đánh giá hiệu quả
các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ được những phương thức sinh kế của
người dân có phù hợp với các điều kiện của địa phương hay không, các hoạt động
sinh kế đó có bền vững, phát triển lâu dài và ổn định không.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
thực tiễn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Giúp các học viên có cách nhìn tổng quan về tình hình phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước nói chung và địa bàn nghiên cứu cũng như địa bàn đang công tác
nói riêng. Từ đó hệ thống hóa các lý luận và tình hình thực tế để tìm ra những giải
pháp phát triển kinh tế, xã hội một cách hệ thống và bền vững cho từng địa phương
cụ thể.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo và phát triển sinh
kế của các hộ nghèo tại địa phương, phân tích những nguyên nhân nghèo đói cũng
như hiệu quả của các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước tới sự phát
triển kinh tế, xã hội địa phương đặc biệt là những hộ nghèo.
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và ban ngành đoàn
thể trên địa bàn huyện đưa ra được những biện pháp giảm nghèo và cải thiện sinh kế
có hiệu quả hơn.
những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng
bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’.
Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới
nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2
đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông
Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. (Chương trình Phát triển
Liên Hiệp Quốc 1997).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
* Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào
hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung
cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về
một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định
khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn
tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa
- xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được
các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. [1]
1.1.1.2. Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói
giảm nghèo quốc gia
* Hộ nghèo
Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho
Khu vực thành thị
Kg/người/tháng
13
20
2. Giai đoạn 1995 - 1997
Gạo Vùng nông thôn miền núi, hải đảo
Kg/người/tháng
13
15
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du
Kg/người/tháng
13
20
Vùng thành thị
Kg/người/tháng
13
25
3. Giai đoạn 1997 - 2000
Tiền Vùng nông thôn miền núi, hải đảo
Đồng/người/tháng
45
55
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du
Đồng/người/tháng
Khu vực thành thị
Đồng/người/tháng
-
260
6. Giai đoạn 2010-2015
Tiền Khu vực nông thôn
Đồng/người/tháng
400
Khu vực thành thị
Đồng/người/tháng
500
(Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
1.1.2. Khái niệm sinh kế và hoạt động sinh kế
1.1.2.1. Khái niệm sinh kế
Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những
năm 80 (sau đó được phát triển hơn nữa bởi Chamber, Conway và những người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
khác vào đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái
niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện.
Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai
hay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó.
Theo Chamber and Conway (1992): Một sinh kế bao gồm khả năng
hệ,…(Wallmann, 1984). Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực
và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà
họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của
họ”(DFID). Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự
quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các
thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết
lập trong cộng đồng.
* Khái niệm chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và
quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và tài
sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục
tiêu nguyện vọng của họ.
* Khái niệm sinh kế bến vững
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987)
tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho là bền vững
khi con người có thể đố phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc. Đồng thời
có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà
không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
* Khung phân tích sinh kế bền vững IFAD [10]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
Hình 1.1. Khung phân tích sinh kế
* Khái niệm các nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan
tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng. Trong
phạm vi đề tài này, các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã hội, các
thể chế chính sách mà xã hội quy định. Các nguồn vốn đó được hiểu như sau:
+ Các
cấp
chính
quyền
+ Đơn vị
tổ chức
CHIẾN
LƢỢC
SINH
KẾ
Quá
trình
tiến
hành
+ Luật lệ
+ Chính
sách
+ Văn
hóa
+ thể chế
chính
sách
Ký hiệu:
- H: Nguồn lực con người
- N: Nguồn lực tự nhiên
- S: Nguồn lực xã hội
- P: Nguồn lực tài chính
- P: Nguồn lực vật chất
P
+ Nguồn vốn tài chính: Tài chính là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với
bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào. Các hoạt động sinh kế của người dân
nông thôn cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của các nhân tố vốn sản xuất (tài
chính). Trước đây vốn của các hộ sản xuất thường là vốn tự có của từng gia đình
hoặc vay mượn của bà con họ hàng, láng giềng nên quy mô sản xuất không được
mở rộng. Ngày nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt,
nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ sản xuất phải có lượng vốn nhiều hơn
để đầu tư, cải tiến công nghệ, đưa thiết bị máy móc tiên tiến vào một số khâu, công
đoạn, công việc này có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ công được, nhằm nâng
cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng
cao chất lượng cuộc sống người dân [7].
* Phương pháp tiếp cận giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế
Hiện nay, “phương pháp sinh kế” đã được một số cơ quan phát triển áp dụng
trong các hoạt động phát triển. Như chúng ta thấy ở các phần sau, khó có thể nói là
có một phương pháp thống nhất khi mà các cơ quan áp dụng một cách khác nhau, từ
các hoạt động sơ khai như xây dựng các công cụ hay khung phân tích cho việc lập
kế hoạch hoặc đánh giá ban đầu đến một số loại hoạt động cụ thể của chương trình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
18
Ba yếu tố dẫn đường giải thích lý do của việc áp dụng “Phương pháp sinh kế
bền vững” trong công tác giảm nghèo:
Thứ nhất, thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế là cần thiết cho việc giảm
nghèo nhưng không có một liên hệ trực tiếp giữa hai tác nhân này từ khi nó hoàn
toàn phụ thuộc và khả năng của người nghèo tự tìm kiếm các cơ hội để phát triển
kinh tế. Vì vậy, điều quan trọng là tìm ra chính xác cái gì đã ngăn cản hoặc thách
thức người nghèo cải thiện sinh kế của họ trong điều kiện cụ thể để thiết kế các hoạt
động hỗ trợ cho dự án.
Thứ hai, về nhận biết đói nghèo - như chính cảm nhận của những người
Đây là một quan điểm thuộc xã hội hiện đại khi quan niệm về phát triển
không đơn thuần chỉ là sự tăng trưởng về mặt kinh tế. Lý thuyết này ra đời sau
một thời gian dài, sự phát triển được hiểu thiên lệch là sự tăng trưởng về mặt
kinh tế đã gây nên những hậu quả nặng nề: Sự phân hóa giàu nghèo một cách sâu
sắc, biến đổi khí hậu, môi trường bị tàn phá nặng nề, sự nóng dần lên của trái
đất,… những hậu quả ấy do bởi những hoạt động phát triển của con người.
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường
những năm 70 của thế kỷ XX và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Phát
triển bền vững được hiểu như là: “Sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn
hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của bản thân
họ” (Báo cáo Bruland, 1987). Hoặc là “Sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con
người trong khuôn khổ phạm vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp” (chăm lo trái
đất),… Phát triển bền vững cũng có thể được hiểu là một sự phát triển lâu dài, phát
triển đi đôi với việc làm phong phú các nguồn vốn sinh kế để từ đó dẫn đến các tác
động tích cực tới đời sống của con người. Sự phát triển đó làm tăng khả năng chống
chọi với những cú sốc, tổn thương do con người và tự nhiên gây ra.
Nói tóm lại quan niệm về sinh kế bền vững đều hướng đến một thế đứng
kiềng 3 chân: “Kinh tế - môi trường - xã hội”. Đây cũng được xem là mục tiêu
mà con người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm
phát triển sai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con
người. Lý thuyết này được áp dụng trong đề tài để phân tích hoạt động sinh kế
của người dân và xây dựng một mô hình phát triển tiến bộ hơn so với mô hình
sinh kế hiện tại - mô hình sinh kế bấp bênh và thiếu tính bền vững.
1.1.3. Khái quát về kinh tế xanh
Theo UNEP, Kinh tế Xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người
và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm đáng kể những rủi ro môi trường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
21
cứ 7 người sẽ có 1 người bị đói, nghèo mặc dù thế giới sản xuất đủ lương thực cho
tất cả mọi người. [2]
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đối diện với những căng thẳng và nguy cơ
tụt giảm ngày càng lớn, khủng hoảng việc làm, giá lương thực tăng cao, bất công xã
hội, biến đổi khí hậu, khiến cho số người lâm vào cảnh cùng cực gia tăng.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đã được chỉ ra, trong đó phải kể
đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến nay vẫn đeo đuổi nhiều nước, đặc biệt
các nước phát triển trong đó có Mỹ. Khu vực đồng Euro đang phải đối mặt với
khủng hoảng nợ công nên buộc phải áp dụng chính sách thắt lưng buộc bụng làm
ảnh hưởng đến an sinh xã hội, trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp, ảnh hưởng
không nhỏ đến phần còn lại của thế giới.
Nguyên nhân quan trọng nữa phải kể đến là giá lương thực trên thế giới tăng
cao. Dân số thế giới gia tăng trong khi sản xuất lương thực chỉ đủ cho 7 tỉ miệng ăn
mà chẳng có dư thừa nên bất cứ biến động nào như thiên tai, lũ lụt, hạn hán (mà
vùng Sừng châu Phi đang phải đối mặt) khiến sản lượng giảm, đều có thể làm lương
thực tăng giá.
Nghèo đói tập trung chủ yếu vào hai khu vực đó là Châu Phi và Châu Á :
Với khu vực Châu Á có tỷ lệ người nghèo và số người nghèo cao bởi họ phải
hứng chịu nhiều những biến động của nền kinh tế thế giới. Hiện nay, 900 triệu
người châu Á đang phải sống trong tình trạng cực kì nghèo đói với mức sống dưới
1,25 đô la Mỹ/ngày. 620 người sống dưới mức thu nhập 1USD/ngày. Một nửa trong
số này sống ở Trung Quốc và Ấn Độ.
Với Châu Phi nghèo là do châu lục này tỷ lệ có thanh niên thất nghiệp cao
nhất thế giới. Có tới 32 trong số 38 nước nghèo nhất thế giới là thuộc châu Phi. Số
tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỷ USD. Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất
thế giới, 45 tuổi. Chỉ có 58% số người dân châu Phi được dùng nước sạch. Họ có 7
hơn 450.000 hộ nghèo, tỷ lệ giảm nghèo đạt 2,44%; giảm hơn 80.000 số hộ cận
nghèo với tỷ lệ giảm là 0,51%.
Về phân bố số hộ nghèo theo vùng lãnh thổ trên cả nước, số hộ nghèo ở các
tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 33,02%; tiếp
theo đến khu vực miền núi Đông Bắc như: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng có tỷ
lệ hộ nghèo là 21,01%, khu vực Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất trong cả
nước với con số 1,70%. [3]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
23
1.2.3. Tình hình phát triển sinh kế hộ nông dân ở các nước trên thế giới và
những bài học kinh nghiệm
Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển sinh kế nông hộ của các
nước đã có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học tập.
* Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của châu Á, chính phủ
Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu trở thành nước
có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan đến việc phát
triển sinh kế vùng núi ban hành (Từ 1950 đến năm 1980).
+ Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới đường bộ
bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập
Các vùng ở xa (Bắc, Đông bắc, Nam…), đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng.
+ Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm
như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía
Đông Bắc.
+ Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa công nghiệp hóa chế biến nông sản để
xuất khẩu như: Ngô, sắn,… sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản.
+ Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế
nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ
giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lái suất thấp, ứng trước