phương pháp trắc nghiệm khách quan môn hóa học lớp 11 - Pdf 24


LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn GS.TSKH. LÂM QUANG
THIỆPđã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo em trong quá trình làm khoá luận. Em xin
được gửi lời cảm ơn đến trường PTTH Hai Bà Trưng Hà Nội, cô giáo Vũ Thị
Liên,tập thể lớp 11E
1
, 11G
1
, 11H
2
; công ty EDTECH, anh Lâm Quang Minh cùng
toàn thể các thầy cô giáo trong khoa và các bạn đã động viên và giúp đỡ em để em
hoàn thành khoá luận của mình.
Em xin gửi lời chúc sức khoẻ – thành đạt – hạnh phúc tới thầy cô và các bạn
cùng các em học sinh.
Sinh viên: HOÀNG THỊ Lí

Mở ĐầU
1. Lí do chọn đề tài
1. 1 . Tõ thực tiễn
Trong các lĩnh vực của đời sống khi so sánh mét sè lĩnh vực nào đó với nhau người
ta thường đưa ra những con số những loại thang đo để thuyết phục người khác. Giống
như khi so sánh sự phát triển của hai quốc gia, người ta đưa ra những con số về GDP,
GNP, bình quân đầu người trên một năm…. Hay khi ta muốn biết hai thành phố cách
nhau bao nhiêu thì ta biểu thị khoảng cách giữa hai thành phố đó bằng kilomet . Vì vậy ai
còng hiểu được và có thể so sánh chúng với nhau và với các đối tượng khác. Thế nhưng
trong lĩnh vực đo lường tâm lí và giáo dục thì chúng ta chưa có một phép đo lường và
một loại thang đo nào được
2toàn thể mọi người chấp nhận. chúng ta chỉ biết đánh giá năng lực của học sinh và
mức độ đạt được mục tiêu của người dạy qua bài kiểm tra của học sinh và qua sù ước
lượng của chính bản thân GV mà thôi. Nếu nh thế thì liệu có chính xác và tin cậy
không?! Và đặc biệt khi ngày nay KHKT càng ngày càng phát triển thế giới đang theo xu
hướng nhanh, mạnh, chính xác và hiệu quả. Ngành GD đóng vai trò chủ đạo đối với sự
phát triển của một nước thì không có lí do gì lại không ứng dụng những thành tựu của
KHKT để tự hoàn thiện mình đảm bảo với sự đi lên của xã hội. Chính vì thế khoa học về
đánh giá và đo lường đã và đang phát triển. Mét trong những ứng dụng rộng rãi của nó là
đo lường bằng phương pháp TNKQ. Trên thế giới, các nước phát triển đã sử dụng hệ
thống câu hỏi TNKQ để đo lường và đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách
chính xác và hiệu quả, từ đó hướng nghiệp cho học sinh ngay từ khi các em học xong
PTTH. Nhưng khoa học về đánh giá và đo lường của nước ta thì lại rất kém phát triển so

Xuất phát từ các lí do trên nên em đã chọn đề tài này để tìm hiểu sâu về môn khoa
học này và ứng dụng vào sự nghiệp giảng dạy của mình sau này.
2. Mục đích
Xây dựng bé câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.
3. Đối tượng và khách thể
3.1. Đối tượng
Xây dựng bé câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.
3.2. Khách thể
4Học sinh lớp 11 ( Gián tiếp: đối tượng khảo sát).
Chương trình môn hoá lớp 11. ( trực tiếp).
4. Giả thuyết khoa học
Tõ sù nghiên cứu đề tài này sẽ cho ta bé câu trắc nghiệm khách quan chất lượng và
chiếm ưu thế cao hơn so với câu hỏi tự luận trong việc đánh giá năng lựcvề môn Hoá của
học sinh lớp 11.
5. Nhiệm vụ:
5.1. Nghiên cứu lý luận
- Lý luận về TNKQ.
- Nghiên cứu chương trình hoá lớp 11.
Xây dựng bé câu trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11.
5.2. Nghiên cứu thực tiễn khảo sát và đánh giá
Bé câu hỏi xây dựng sẽ đưa ra để khảo sát học sinh lớp 11 →phân tích kết
quả → Đánh giá chất lượng câu hỏi → Sửa đổi → Khảo sát → Sửa đổi→Bộ câu hỏi tốt
nhất có thể.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng: câu hỏi trắc nghiệm khách quan về môn hoá học lớp 11 - phần hữu cơ.
- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường trên địa bàn Hà Nội.
- Khách thể nghiên cứu: Mét số học sinh lớp 11.

Chương 1: CƠ Sở Lí LUậN
1.1lịch sử những phép đo lường và trắc nghiệm
1.1. 1Trên thế giới
Các phương pháp khoa học đầu tiên bắt nguồn tõ khoa vật lí vào
thế kỉ 17 & 18 rồi lan dần vào các ngành động vật học. Năm 1879,
phòng thí nghiệm tâm lí đầu tiên được Wichelm Weent thiết lập
tại Leipzig. Trước tiên, các nhà tâm lí học
6chú trọng đến các phép đo liên quan đến thị giác, thính giác, tốc
độ học tập… Còng trong thời kì Êy, các thí nghiệm sinh học của
Darwin và Francis Galton được đề cập và áp dụng thì Calpearson và
độ đệ ở Anhđã tìm ra những kĩ thuật thống kê, giúp cho việc khảo sát
và phân tích các điểm cá biệt giữa những người khác nhau được dễ
dàng hơn. Trong khi đó ở Pháp Alfred Binet và các bạn đồng sự đã
phát minh ra bài trắc nghiệm để khảo sát tâm linh, sau này trở thành
bài trắc nghiệm trí thông minh. Bài trắc nghiệm này đã giúp các nhà
giáo dục phân biệt được trẻ trì độn với trẻ lười biếng một cách hữu
hiệu hơn bất kì phương pháp nào khác.
Vào lúc thế chiến thứ hai, các bài trắc nghiệm kĩ năng kĩ xảo cá
biệt được đặt ra để tuyển chọn, phân loại binh sĩ còng nh phỏng đoán
khả năng chữa bệnh tâm lí, làm cho nhu cầu TN ngày càng cao. Sau
các loại TN thông minh, kĩ xảo, các TN về khả năng, sở thích, nhân

Hoa Kì, châu Âu mà ở các nước châu Á còng rất phát triển. Nhật Bản,
Thái Lan, Trung Quốc… cũng đã có một cơ sở vững chắc về lĩnh vực
này. Tại Nhật Bản kì thi “Trắc nghiệm trung tâm Quốc Gia tuyển sinh
Đại Học” ( National Center Test for University Admission) duy trì từ
năm 1990 đến nay, với hình thức đề thi được soạn thảo hoàn toàn
theo phương thức TNKQ. Các tổ chức JHEE (Join High Education
Entrance Examination) và NEEA (National Education Examination
Authority). Tại Thái Lan và Trung Quốc đã tổ chức các kì thi tuyển
Đại Học chủ yếu bằng TNKQ.
Nh vậy ta thấy rõ, Khoa học về Đo lường và TNKQ mới ra đời
nhưng nó đã nhanh chóng khẳng định ưu thế và xác định vị trí của
mình trong lĩnh vực giáo dục và dần được ứng dụng rộng rãi cho mọi
lĩnh vực của xã hội.
1.1.2. Ở nước ta
Khác với các nước phát triển, khi khoa học về đo lường và TN
ra đời đã nhanh chóng ứng dụng trên mọi lĩnh vực của cuộc sống -
đặc biệt là lĩnh vực giáo dục, thì ở nước ta gần như “thờ ơ” với sự
xuất hiện của lĩnh vực khoa học này. Cách đây khoảng 10 năm khi
các nước phát triển đã sử dụng TNKQ cho các kì thi tuyển thì ở Việt
Nam chỉ có GS. Dương Thiệu Tống là người có bằng Ed. D của Mĩ
về lĩnh vực này, còn lại các cơ sở GD & SP không có người nào
chuyên sâu về đo lường trong GD. Chính vì vậy các tài liệu về lĩnh
vực này gần như không có.
Trước tình hình đó Bộ Giáo Dục đã dần đưa ngành GD
tiếp xúc với khoa học này: mời chuyên gia từ nước ngoài sang tổ
chức hội thảo, dịch sách, cử mét sè giáo chức đại học đi học ở nước
ngoài. Và cho đến nay các trường Đại Học
8
Lượng giá bao gồm các việc phán xét TS theo các hệ thống quy
tắc hoặc tiêu chuẩn xác định.Nếu thực hiện đầu quá trình giảng dạy sẽ
giúp tìm hiểu và chẩn đoán về đối tượng giảng dạy.Nếu thực hiện
trong quá trình giảng dạy để tạo
9Bao gồm ba loại lớn:
a). Loại quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, hành vi, phản ứng
vô thức, các kĩ năng thực hànhvà cả một số kĩ năngvề nhận thức,
chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống nào đó đang
được nghiên cứu.
b). Loại vấn đáp: Có tác dụng tốt để đánh giá khả năng đáp ứng
các câu hỏi được nêu một cách tự phát trong mét tình huống cần kiểm
tra, còng thường được sử dụng khi sù tương tác giữa người hỏi và
người đối thoại…
c). Loại viết: thường được sử dụng nhiều nhất vì:
• Trong cùng một thời gian mà kiểm tra được nhiều thí sinh.
• Thí sinh được cân nhắc nhiều hơn khi trả lời.
• Có thể kiểmtra sù phát triển tư duy ở mức độ cao.
• Cung cấp một bản ghi rõ ràng các câu trả lời để nghiên cứu kĩ khi chấm bài.
11TNKQ thì thành tích mà anh ta đạt được bằng cách đánh dấu hú
hoạ nh trên là lân cận điểm không.
Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì TNKQ
đã kịp thời ứng dụng thành quả KH để tăng thêm vai trò của mình.
“LÝ thuyết ứng đáp câu hỏi”, và tin học, công nghệ là các phương
tiện để đánh giá từng câu hỏi và đề thi TNKQ, giúp chọn các mẫu thử

1. Các phần tử cùng danh sách nên nằm trong cùng một trang để
học sinh đỡ nhầm lẫn hoặc gặp khó khăn khi phải lật trang.
2. Các câu hỏi loại ghép đôi cũng có thể được sắp đặt dưới dạng
tương tự loại có nhiều câu trả lời để chọn lựa.
Khi chúng ta đã nắm chắc được các quy tắc soạn câu hỏi ghép đôi
ta sẽ có một câu hỏi khá hoàn chỉnh và đánh giá được các mức tư duy
cao của học sinh.

1.2.2. 3. 2.Câu điền khuyết hay có câu trả lời ngắn
Đặc điểm: hai loại trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời
ngắn thực ra chỉ là mét, chóng chỉ khác nhau về dạng thức vấn đề
được đặt ra. Nếu được trình bày dạng câu hỏi thì chúng ta gọi là loại
câu trả lời ngắn, nếu được trình bày dưới dạng một câu phát biểu chưa
đầy đủ, được gọi là loại điền khuyết. Nội dung đây là loại trắc nghiệm
khách quan có câu trả lời tự do.
Ưu điểm:
1. Thí sinh có được cơ hội trình bày những câu trả lời khác
thường, phát huy óc sáng tạo.
2. Phương pháp chÊm điểm nhanh hơn và đáng tin cậy hơn so
với loại luận đề, mặc dù phần cho điểm có phần phức tạp hơn so với
các loại trắc nghiệm khách quan khác.
3. Thí sinh mất cơ hội đoán mò câu trả lời nh trong trường hợp
các loại trắc nghiệm khách quan khác. Thí sinh phải nhớ hoặc nghĩ ra
câu trả lời, thay vì chỉ chọn lựa câu trả lời đúng trong các câu cho sẵn.
4. Loại này dễ soạn câu hỏi hơn loại ghép đôi hoặc câu nhiều
lựa chọn. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng quá sự dễ dãi này mà
lấy y nguyên câu trong sách giáo khoa.
5. Thiếu yếu tố khách quan lóc chấm điểm. Dù cho phải chấm
điểm loại trắc nghiệm điền khuyết có tính chất khách quan hơn loại
luân đề, giáo viên vẫn gặp nhiều phiền phức hơn khi chấm các câu

thường được dùng để chấm điểm là:
Điểm =

Đây là công thức có hiệu chỉnh do yếu tố đoán mò may rủi.
Nguyên nhân là do nếu bài thi gồm có 60 câu, mỗi câu cú năm
phương án lựa chọn. Xác suất để một người đoán mò đoán đúng là
20% tức là 12 câu, và sẽ trả lời sai là 48 câu. Chia 48 cho (5-1) thì ta
được 12. Khi trừ con số này cho 12 câu trả lời đúng chỉ
25 phân tích: là khả năng phân chia mét tài liệu ra thành các phần của nã sao cho có
thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nã. Bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân
tích các mối quan hệ giữa các bộ phận, và nhận biết được các nguyên lí tổ chức được bao
hàm. Phân tích đòi hỏi mét sù thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu nên
kết quả học tập ở đây thể hiện một mức trí tuệ cao hơn so với mức hiểu.
 tổng hợp: là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể
mới. Bao gồm việc tạo ra mét cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế
hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ
để phân lớp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng
tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình và cấu trúc mới.
 đánh giá: là khả năng xác định giá trị của tài liệu (tuyên bố, tiểu thuyết, thơ, báo
cáo nghiên cứu). Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất dịnh. Đó có thể là các tiêu chí
bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người
đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí. Kết quả học tập trong lĩnh vực
này là cao nhất trong các cấp bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác.
Các công cụ đánh giá có hiệu quả phải giúp xác định được kết
quả học tập ở mọi cấp độ nói trên để đưa ra mét nhận định chính xác
về năng lực của người được đánh giá về chuyên môn liên quan.
1.2.3. 1. 2. Mục tiêu giảng dạy

Với một câu TN thuộc loại đúng - sai thì độ khó 50% chưa hẳn
là độ khó vừa phải vì nh ta đã biết, câu hỏi thuộc loại này chỉ gồm có
hai lựa chọn, do đó sù may rủi làm đúng câu hỏi Êy là 50%. Vậy ta
không thể cho 50% là chỉ số khó thíchs hợp cho loại này. Vì lí do Êy,
ta cần phải lưu ý đến một yếu tố khác. Đó là tỉ lệ may rủi kì vọng. Tỉ
lệ này thay đổi tuỳ theo sè câu lựa chọn trong mỗi câu hỏi. Nếu câu
hỏi có hai lựa chọn thì tỉ lệ kì vọng là 50%. Nh vậy, độ khó vừa phải
của câu hai lựa chọn này phải là trung điểm giữa tỉ lệ may rủi kì vọng
và100%, nghĩa là: (100 + 50)/ 2 = 75%. Nói cách khác, câu TN loại
đúng - sai có độ khó vừa phải nếu 75% TS trả lời đúng câu hỏi Êy.
Theo cách tính này thì tỉ lệ kì vọng của loại câu TN có 5 lựa chọn là
100/5, tức là 20%. Vậy độ khó vừa phải của câu TN có 5 lựa chọn là
(100 + 20)/ 2 = 60%. Nh vậy độ khó trung bình của
33Để có thể giải thích các điểm thô trên bài TN, ta cần phải có hai
căn bản nào đó để so sánh chúng. Thông thường có hai lối so sánh:2. 4 Quá trình thực hiện.
Bao gồm các bước sau:
Bước 1: nghiên cứu nội dung kiến thức cần kiểm tra (phần ankan,
xicloankan, anken, ankađien-caosu, ankin). Lập dàn bài sơ
lược.
Bước 2: Tạo bảng đặc trưng hai chiều và lập câu hỏi chi tiết dựa
theo bảng đặc trưng hai chiều trên.
Bước 3: Liên hệ với trường PTTH Hai Bà Trưng - Hà Nội để lấy mẫu kiểm tra.
Bước 4: Tham khảo ý kiến của GV giảng dạy bộ môn Hoá cùng các bạn về nội
dung bài kiểm tra tránh gặp phải một số sai sót (kiến thức quá khó hay quá dễ, chưa tổng
lại những câu mà hầu hết học sinh đều làm được và cũng không thể để lại những câu mà
hầu hết học sinh không làm được.Mét câu TN tốt là câu TN mà có độ khó vừa phải, theo
công thức trên thì với câu hỏi có 4 lựa chọn thì độ khó vừa phải là 62,5%, câu có 3 lựa
chọn là 66,67% và câu loại đúng sai là 75%.
Độ phân cách của câu hỏi cho ta biết câu hỏi đo có phân biệt được học sinh giái và
học sinh kém. Nếu độ phân cách nhỏ hơn 19 thì câu cú độ phân cách không tốt câu này
không thể phân biệt được học sinh giái và học sinh kém. Độ phân cách tõ 20 đến 29 có
thể coi là tạm được, độ phân cách tõ 30 đến 39 là khá tốt và độ phân cách tõ 40 trở lên là
rất tốt.
Cách tính độ phân cách và độ phân biệt có thể được tính theo mục 3 trang 24. Dựa
trên cơ sở đó chúng ta có nhập dữ lệu vào và chạy theo chương trình QUEST để tính
độtin cậy và độ phân biệt (xem phần phụ lục).
Qua chương trình Quest kết quả cho ta 17 câu cú thể chấp nhận được, trong đó có 4
câu dễ và 13 câu khó và 12 câu phải sửa đổi hoặc bỏ đi thay bằng câu khác.
Ta sẽ đánh giá một số câu TN ở trên.
Ta xét câu 8: (câu cú độ phân biệt cao).

Phản ứng sau: CH
2
=CH−CH=CH
2
+ HCl (tỉ lệ 1:1) có sản
phẩm chính là:Error! Reference source not found.

C) CH
2
−CH
2

và C
2
H
2
có thể nhận biết bằng cách nào?
A) dd Br
2
B)dd KMnO
4
C) dd AgNO
3
/ NH
3
D) Cả ba cách trên
PAC A B C

D
STS 13 7 53 25
% 13, 3 7, 1 54, 1 25, 5
D -0, 19 -0, 01 0, 43 -0, 33
Đây là một phương án rất tốt vì: Độ phân biệt của phương án đúng dương và khá
cao 0, 43 và độ khó là 54, 1 < 62, 5 đồng thời các phương án nhiễu đều có độ phân biệt
âm, rất phù hợp.
Giả sử nh câu 1:(câu quá dễ).
1) Hiđrocacbon no là:
A) Hi®rocacbon mµ trong ph©n tö chØ cã liªn kÕt ®¬n
B) Hi®rocacbon mµ trong ph©n tö kh«ng cã liªn kÕt ®«i
C) Hîp chÊt h÷u c¬ mµ trong ph©n tö chØ cã liªn kÕt ®¬n
D) Hîp chÊt h÷u c¬ mµ trong ph©n tö chØ cã liªn kÕt σ
PAC A

H
2
+ 3H
2
C) CH
2
Cl CH
2
Cl kiềm/ rượu → C
2
H
2
+ HCl
D) CaCO
3
+ H
2
O → Ca(OH)
2
+ C
2
H
2
PAC A B C D

STS 1 1 40 55
% 1, 0 1,0 41, 2 56, 7
D - 0, 15 0, 09 0, 03 -0,02
Độ khó của câu là 56, 7 so với câu cú 4 phương án lựa chọn thì đây cũng là một câu
hơi khó. Độ phân biệt của câu hỏi là -0, 02 nh vậy câu này khó hơn với TS giái và dễ hơn

và độ giá trị.
Người ta thường sử dụng hệ số tương quan để diễn tả các đại lượng trên. Bài TN
này chúng ta thu được r = 0,96 chứng tỏ rằng bài kiểm tra này có độ tin cậy khá tốt.
Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến các thành phần cấu tạo của các mẫu được chọn khi
tính toán thống kê nh mẫu TS hoặc bài TN.
Đối với bài TN này ta sẽ xét từng thành phần. Trước hết là nội dung bài TN, qua
chương trình QUEST ta có kết quả sau:
Trung bình (mean): 0,00
Độ lệch chuẩn (SD): 1,35
Độ tin cậy : 0,96
Nh vậy độ khó trung bình của bài TN này là 0, 00 với độ lệch chuẩn là 1,35. Các số
thống kê hoà hợp là:
Infit mean square: 0,99 Outfit mean square: 1,00
56 SD : 0,08 SD : 0,14
Infit t : 0,03 Outfit t : 0,08
Tiếp theo ta xét đến các số liệu của mẫu:
Mean -0,33
SD 0,55
Các thông số hoà hợp với mô hình Rasch:
Infit mean square : 1,01 Outfit mean square : 1,00
SD : 0,25 SD : 0,40
Infit t : -0,01 Outfit t : 0,01
Trị số kì vọng của các bình phương trung bình (mean square) xấp xỉ bằng 1 và trị số
kì vọng của t xấp xỉ bằng 0 (trích theo 3, tr 133). Các số thông kê hoà hợp trên đây cho
thấy rằng các điều kiện Êy đã được thoả mãn.
Tõ đồ thị “Item Fit Map” (xem mục lục) cho ta thấy rằng tất cả 29 câu trắc nghiệm
trong bài đều hoà hợp với mô hình Rasch. Nhưng theo đồ thị “Case Fit Map” (xem mục

Trên đõy là một số phân tích về câu, mẫu và TS của bài TNKQ đối với HS khối
11(E1, G1, H2) tại trường PTTH Hai Bà Trưng Hà Nội. Qua kiểm tra và phân tích kết
quả tôi xin đưa ra một số ý kiến riêng của bản thân nh sau:
1) TNKQ thực sự là một phương pháp khoa học và có hiệu quả thiết thực trong việc
đo lường thành quả của HS. Nã cho ta con số khá chính xác về năng lực của HS, về độ
khó và độ phân cách của câu TN, về độ tin cậy của bài TN… từ đó ta có thể định cỡ câu
TN và mẫu TS để đánh giá thành quả học tập.
2) Với TNKQ ta hoàn toàn có thể kiểm tra được toàn bộ nội
dung môn học, hạn chế được may rủi, đỡ tốn công chấm bài và hoàn
toàn khách quan trong thi cử…
3) Phương pháp này rất tốn thời gian để soạn đề nhưng nếu có
sự hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực này (đặc biệt là các phần mềm để óng
dông) thì sẽ khắc phục được điểm yếu này. Mỗi phương pháp TN đều
có ưu nhược điểm riêng của nú, không có một phương pháp nào được
coi là hoàn hảo mà chỉ có cách phối hợp hiệu quả các phương pháp để
tạo nên hình thức đánh giá hoàn hảo. Hiện nay hầu hết các thầy cô ở
phổ thông đều cho rằng TNKQ có rất nhiều nhược điểm và không
thích dùng nú để đánh gớa HS.Để phổ biến rộng rãi phương pháp
TNKQ thì phải có nhiều tài liệu và hình thức giảng dạy để GV thấy
được những ưu nhược điểm của phương pháp này mà ứng dụng linh
hoạt vào công việc dạy học của mình.
Tài liệu tham khảo

1. Ph.D. NGUYỄN PHỤNG HOÀNG (chủ biên),
1996, Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành
quả học tập, Nhà xuất bản GD.
2. TSKHGD. DƯƠNG THIỆU TỐNG, 1995, Trắc nghiệm

1.1. 1Trên thế giới 6
1.1.2. Ở nước ta 8
1. 2. CÁC KHÁI NIỆM 9
1. 2. 1. Trắc nghiệm là gì? 9
1.2.2.Trắc nghiệm khách quan là gì? 13
1.2.3. Các tiêu chuẩn để đánh giá các câu TN và bài thi TNKQ 26
1.2.4.Lý thuyết ứng đáp câu hỏi và mô hình Rasch 43
Chương 2: Lập dàn bài trắc nghiệm 50
2. 1. MỤC ĐÍCH CỦA BÀI TN 50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status