CẤU TRÚC CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Gồm 3 phần
1. Phần I: Đặt vấn đề
(hoặc Mở đầu hoặc Tổng quan, Hoặc Một số vần đề chung)
Trong phần này can nêu rõ tầm quan trọng và lý do chọn vấn đề của đề tài để xem
xét.
-Lý do về mặt lý luận
-Lý do về mặt thực tiễn
-Lý do về tính cấp thiết
-Lý do chọn lựa về năng lực nghiên cứu của tác giả
-Xác định mục đích nghiên cứu (để làm gì?)
-Bản chất cần được làm rõ của sự vật (là gì?)
-Đối tượng nghiên cứu (nằm ở đâu?)
-Chọn phương pháp nghiên cứu nào (như thế nào?)
-Giới hạn về không gian của đối tượng khảo sát… (trường, quận, huyện, thành
phố )
-Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu v.v… (Thời gian bao lâu? Ở đâu? Tuần tự các
bước…)
-Phần mở đầu là phần giúp người đọc hình dung diện mạo bản tổng kết kinh
nghiệm. Lý do chọn đề tài là cơ sở xét đoán tính đúng đắn. Tính hợp lí của các biện
pháp tác động vào đối tượng. Mục đích, phương pháp giới hạn vấn đề, kế hoạch
nghiên cứu đều góp phần bộc lộ giá trị của công trình. Vì vậy phần mở đầu là phần hết
sức quan trọng, cần lựa chọn thật kỹ càng, viết thật chắc chắn, lập luận thật sắc bén.
2. Phần II: Nội dung
Phần này cần trình bày một số vấn đề lớn. Một vấn đề nên trình bày thành một
chương. Kết cấu mỗi chương nên gồm các khía cạnh sau:
Tiêu đề chương (Giải quyết vấn đề “H” gì?)
Nội dung chương
1.Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu (“H” là gì, mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan
trọng…của vấn đề “H”)
2.Mô tả thực trạng vấn đề nghiên cứu (ở địa phương, cơ sở GD chứa đối tượng
nghiệm, khi mô tả giải pháp cần làm sáng tỏ 3 vấn đề: tại sao giải pháp đó được
chọn? Giải pháp đó được thực hiện như thế nào? Kết quả giải pháp đó được thực hiện
ra sao?
4.Trạng thái H
n
: Mô tả kết quả giải pháp đó được thực hiện ra sao chưa phải là
việc cuối cùng. Bản tổng kết kinh nghiệm còn cần mô tả trạng thái H
n
đối chiếu H
n
và
H
1
để thấy H
n
đã khác H
1
, H
n
đã đạt những yêu cầu đặt ra. Nếu còn những điểm yếu
kém thì cũng cần chỉ rõ những biểu hiện, nguyên nhân và phương hướng tiếp tục.
Tiểu kết chương
Tóm lại: để trình bày nội dung một chương ta thực hiện như sau:
1-Trình bày cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu H
2-Mô tả thực trạng ban đầu của H khi chưa áp dụng SKKN
Cần phân tích rõ ưu điểm-tồn tại của H-Mô tả và phân tích rõ ưu điểm tồn tại của
các biện pháp B đã thực hiện, kết quả đạt được của các biện pháp B (trong mỗi biên
pháp B: nêu rõ chỗ nào đã hợp lí, chưa hợp lý hay còn thiếu sót, phân tích rõ tại sao
hợp lí, chưa hợp lí hay thiếu sót? Tại sao đã có những biện pháp B hợp lý rồi mà H
1
đủ ý từ đề đến kết. Nên hết sức tránh lối viết gạch đầu dòng, hoặc viết theo lối trả lời
các gợi ý theo một bản hướng dẫn nào đó.
Bìa: Được đóng khung, viền trên, dưới cách mép giấy 3cm, lề phải 2cm, lề trái
3,5cm
Bìa chính và bìa phụ có thể giống nhau (xem mẫu)
Khổ chữ: 14
Khoảng cách dòng: single
Khoảng cách đoạn: 6pt
Trình bày hệ thống, khái quát, cụ thể, hấp dẫn, diễn đạt truyền cảm, văn phong
khoa học, độ dài thích hợp, hợp lý. Phong cách ngôn ngữ của văn bản thường sử dụng
dạng vô xưng (vô nhân xưng) với câu ở thể bị động. Từng nội dung cần cân đối. Kết
quả nghiên cứu cần trình bày khách quan, không gò ép “bịa” số liệu. Đặc biệt nên
tránh bộc lộ, thể hiện tình cảm yêu – ghét đối với đối tượng nghiên cứu.
Tên chương nên ở trang đầu
Tên tiểu mục không ở cuối trang
Tên chương, mục không được viết tắt
Trong văn bản SKKN, lưu ý tối kỵ 3 điều sai:
-Quan điểm đường lối của Đảng
-Kiến thức chuyên môn
-Lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp, lỗi trình bày.
Bản SKKN cần hội tụ đủ 4 tính chất (ở đây chúng ta tạm trừu tượng hoá các nội
dung để tách ra các khía cạnh):
-Tính khám phá
-Tính khoa học
-Tính phổ biến
-Tính thực tiễn
Nhưng đôi khi các bản SKKN chỉ nhằm vào hai việc: mô tả những việc đã làm
tốt, có hiệu quả mà quên phân tích, lý giải, đề xuất, luận bàn, quên khẳng định, đánh
giá tầm quan trọng và tính phổ biến của công trình. Ở đây đức khiêm tốn đã làm ảnh
hưởng tới sự hoàn chỉnh của công trình.
cấp tài liệu để đúc kết được nhiều khía cạnh lí luận phong phú thuộc nhiều ngành khoa
học khác nhau của khoa học giáo dục cũng như với các khoa học khác. Hơn nữa, do
những đơn vị tiên tiến thường có tính chất điều hành và là những sự kiện đã phải phát
triển khá đầy đủ (tức là có những điều kiện mà Mác và Lê Nin coi là quan trọng khi
chọn một đối tượng nghiên cứu có giá trị khoa học nên tổng kết những kinh nghiệm
của nó để phát hiện bản chất và quy luật thì sẽ dễ hơn so với nghiên cứu các đối tượng
trung bình hoặt chậm phát triển.
Cuối cùng, viết SK kinh nghiệm để nghiên cứu khoa học giáo dục là công việc dễ
kết hợp với công tác đúc rút kinh nghiệm, tổng kết công tác mà chúng ta thường làm,
do đó dễ quen thuộc và có nhiều khả năng đạt kết quả tốt cả cho công tác cả cho
nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng sử dụng phương pháp nghiên cứu này cũng có nhiều
khó khăn và hạn chế nhất định:
2.Hạn chế:
Việc tổng kết kinh nghiệm phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người nghiên
cứu. Do phạm vi quan sát hẹp, nhiều kinh nghiệm bị trùng với các kinh nghiệm ở cơ
sở khác.
Việc phát hiện, nhìn nhận và đánh giá kinh nghiệm phụ thuộc rất nhiều vào phẩm
chất (vô tư, tinh thần khoa học tinh thần tập thể, không đố kị…) và năng lực chuyên
môn cả về mặt chuyên môn nghề nghiệp, cả về trình độ lí luận khoa học giáo dục của
người nghiên cứu: thiếu những tiền đề cần thiết, có thể không nhìn ra kinh nghiệm tốt.
Nếu chính tác giả phải tự trình bày lại kinh nghiệm của mình thì sẽ gặp khó khăn:
dễ xen lẫn cái chủ quan vào cái khách quan, nếu trình độ hạn chế thì dễ bỏ sót, nhầm
lẫn cái thứ yếu với cái chủ yếu, cái ngẫu nhiên với cái tất nhiên và ngược lại, dễ bỏ
mất phần sinh động thực tế của kinh nghiệm và biến nó thành những lí luận trừu
tượng, những công thức có sẵn.
Những bài học kinh nghiệm lớn thường có rất nhiều mặt liên quan đến nhiều
ngành của khoa học giáo dục, thậm chí với cả những khoa học khác nữa (kinh tế học,
xã hội học, y học…) đòi hỏi sự nghiên cứu từng mặt tách khỏi cơ cấu chung thì khó
thấy ý nghĩa vị trí và phạm vi của các kết luận thu được, thậm chí khó phân biệt được