A SANG KIEN - KINH NGHIEM L 4 REN VIET CAU DUNG CAU HAY - Pdf 59

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN VIẾT CÂU ĐÚNG CÂU HAY
i. Đặt vấn đề
Qua thực tế giảng dạy, Tôi thấy rằng: Học sinh viết câu chưa
đúng, chưa hay vì vậy tôi đã chọn “Rèn viết câu đúng, câu hay cho
học sinh, giúp cho các em có kỹ năng ngôn ngữ nhằm giúp các em
sử dụng Tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp là
rất quan trọng. Ngoài ra các em vốn hiểu biết và vốn sống còn ít
nên các em sử dụng ngữ pháp tiếng Việt rất hạn chế. Các em học
sinh đa phần viết câu còn què, cụt, chưa đủ nghĩa và nội dung
thông báo. Đôi khi các em viết câu đủ cấu trúc ngữ pháp nhưng lại
sai biệt hoàn toàn về nghĩa của câu. Việc xác định các từ loại Tiếng
Việt đối với các em hầu như rất mơ hồ, theo định tính, các em thích
nó là từ loại nào thì cho là từ loại đó. Nhưng có một điều rất sâu để
tôi chọn viết sáng kiến kinh nghiệm này là do bản thân các em
cũng biết mình còn hạn chế về kiến thức ngữ pháp nên rất ham tìm
hiểu, học hỏi, buộc một thầy giáo như tôi thấy mình phải có trách
nhiệm tìm tòi học hỏi để dạy cho các em sao cho đúng và viết hay
về từ - về câu và cả đoạn …
Tình hình thực trạng học sinh :
Qua khảo sát đầu năm ngay từ bài tập đọc đầu tiên, tôi đã thấy
học sinh đọc bài chưa đúng, chưa lưu loát , phần trả lời câu hỏi tìm
hiểu nội dung học sinh nói ấp a, ấp úng, không đúng trọn câu , sai
ngữ pháp . Tôi đá tiến hành kiểm tra phân lọai chất lượng học sinh
theo ba đối tượng
1/ Tôi đã nghiên cứu kĩ sách giáo khoa Tiếng Việt phân môn
luyện từ và câu từ lớp 1 đến lớp 5 để nắm rõ được các ưu điểm và
hạn chế của chương trình trong sách.
Tôi nhận thấy chương trình và các tài liệu dạy học luyện từ và
câu ở tiểu học hướng đến thực hành và có tính đồng tâm. Chương
trình ngữ pháp đã đã hướng đến yêu cầu rèn luyện kĩ năng ngôn

“Đêm nay, anh đứng gác ở trại”
Học sinh cần phải phân tích câu này thành các từ trong đó câu có
từ “đêm nay”, “đứng gác” theo SGK thì phân tích thành từng từ
đơn: Đêm/nay, đứng/gác...Nhưng bản thân các từ này các nhà
Việt ngữ học còn đang tranh luận chưa thống nhất là một từ hay
hai từ nên tôi đã không lấy ví dụ học sinh dễ nắm bắt hơn:
“Trời/ nắng/ chang chang”
Trong ví dụ này tôi yêu cầu học sinh chia câu “Trời nắng chang
chang” thành các phần có nghĩa sao cho được nhiều phần nhất. Học
sinh của tôi đã chia câu thành:
Trời nắng/ chang chang.
2
Trời/ nắng/ chang/ chang.
Trời/ nắng/ chang chang.
Tôi yêu cầu các em suy nghĩ kĩ là “chia nhiều phần nhất” nhưng
phải có “nghĩa”, từ đó học sinh tôi đã biết lược bỏ rút ra trường
hợp:
“Trời/ nắng/ chang chang”
Từ đó các em tự rút ra cho bản thân “từ làa đơn vị nhỏ nhất” có
nghĩa dùng để đặt câu “ví dụ bài động từ” (tiết 23 - ngữ pháp 4)
Tôi nhận thấy qua nhiều năm các em thắc mắc là từ “xem”
trong ví dụ “Nam xem đá bóng” tại sao lại là động từ nội động? vì
Nam “xem” tức là Nam đã có tác động đến đối tượng khác, bắt
buộc phải có đối tượng Nam mới “xem” được. Tôi thấy việc giải
thích thật khó vì các em thắc mắc hoàn toàn hợp lí, nên tôi thay thế
câu “Nam xem đá bóng” bằng câu: “Bạn Nam đang bơi”
b- Ngoài việc sử dụng trực quan tôi còn cho các em phát hiện
khi đang trao đổi một ví dụ câu xem đó đã là câu hay chưa? Câu đó
có dấu hiệu mở đầu ra sao? dấu hiệu kết thúc câu thế nào?
Việc thực hành trong giao tiếp hàng ngày như vậy giúp các em

+Để câu văn viết được hay hơn, tôi cho các em bổ xung thêm
trạng ngữ.
Tôi cho câu đơn giản có đủ chủ ngữ, vị ngữ yêu cầu các em bổ
xung thành phần chỉ thời gian, nguyên nhân, nơi chốn, mục
đích...Để học sinh nắm chắc hơn về câu có bộ phận phụ, tôi còn
cho các em câu văn có đủ cả trạng ngữ và chủ ngữ, vị ngữ sau đó
yêu cầu các em lược bỏ bớt trạng ngữ và so sánh câu đã lược bỏ với
câu ban đầu. Qua việc so sánh như vậy các em thấy rõ được hơn
trạng ngữ chỉ là bộ phận phụ của câu nhưng khi có trạng ngữ thì
câu văn sẽ hay hơn.
Ví dụ: Ngoài vườn, khóm hồng toả hương thơm ngào ngạt.
Khác câu: Khóm hồng toả hương thơm ngào ngạt.
Khi có thêm trạng ngữ “ngoài vườn” câu rõ hơn, khóm hồng toả
hương thơm từ đâu.
Hoặc câu: Hôm nay, lúc 7 giờ sáng, tôi đi học. So với câu: Tôi đi
học khi có trạng ngữ câu rõ hơn “Tôi đi học” từ lúc nào
4
+Học sinh phân tích từng câu để xác định rõ bộ phận chủ ngữ
và vị ngữ. Tôi cho các em phân tích từng câu, từ đơn giản như: Con
mèo đang trèo cây cau.
Một em đặt câu hỏi tìm chủ ngữ: Con gì đang trèo câu cau?
(Con mèo).
Một em đặt câu hỏi tìm vị ngữ: Con mèo đang làm gì? (đang
trèo cay cau).
Khi trả lời về bộ phận chủ ngữ hoặc vị ngữ tôi yêu cầu các em
chỉ trả lời những từ ngữ bộ phận đang tìm, không trả lời theo cả
câu.
Ví dụ không trả lời câu tìm vị ngữ là: “Con mèo làm gì?” (Con
mèo đang trèo cây cau). Trả lời như vậy chưa tách bạch được rõ
chủ ngữ và chủ ngữ.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status