Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây gỗ bộ Đậu và giải pháp bảo tồn, phát triển một số loài cây chủ yếu ở tỉnh Quảng Trị - Pdf 24

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km
2
, Việt Nam
là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao trên thế giới [4]. Đặc điểm về vị trí địa lý,
địa hình, đất đai và khí hậu của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh
thái và các loài sinh vật.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ĐDSH ở nước ta bị suy giảm mạnh.
Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và
dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Nguyên
nhân chủ yếu là do cháy rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai dẫn tới làm thu
hẹp nơi cư trú của các giống loài; khai thác và đánh bắt quá mức, tình trạng buôn bán
trái phép động vật, thực vật quý hiếm; ô nhiễm môi trường.
Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp,
cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất
nước. Tuy nhiên, công tác điều tra, đánh giá, kiểm kê tài nguyên ĐDSH thiếu hệ
thống, thiếu đồng bộ; việc thu thập, lưu trữ, xử lý thông tin và chia sẻ thông tin liên
quan đến bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH còn nhiều hạn chế; thông tin, dữ liệu
nằm phân tán ở nhiều ngành, nhiều địa phương, chưa được tập trung quản lý. Đến
nay, Việt Nam vẫn chưa có công trình nào thống kê chính thức hiện trạng ĐDSH trên
quy mô toàn quốc. Đây cũng là những thách thức trong công tác bảo tồn ĐDSH của
Việt Nam.
Bộ Đậu (Fabales) có 3 họ thực vật là họ Đậu (Fabaceae), họ Vang
(Caesalpiniaceae) và họ Trinh nữ (Mimosaceae). Các họ này có nhiều loài cây gỗ
quan trọng có giá trị kinh tế và bảo tồn cao, như Sưa (Dalbergia tonkinensis), Trắc
(D. cochinchinensis), Cẩm lai (D. oliveri), Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus),
Gụ lau (Sindora tonkinensis), Gụ mật (Sindora siamensis), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa),
Lim xanh (Erythrophloeum fordii)
Quảng Trị là một tỉnh thuộc phía Nam khu vực Bắc Trung Bộ, cũng là một

cho các mục đích khác nhau trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất cơ chế quản lý tài nguyên theo hướng bền vững về môi trường và
sinh kế người dân vùng gần rừng.
3
Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu thực vật trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu về hệ thực vật.
Andrea Caesalpino (1519-1603) đưa ra bảng phân loại đầu tiên và đã được
đánh giá cao; John Ray (1628-1705) mô tả được gần 18.000 loài thực vật trong cuốn
“Lịch sử thực vật”. Linnée (1707-1778) với bảng phân loại thực vật, ông đã đưa ra
cách đặt tên bằng tiếng La tinh gồm 2 từ ghép lại mà ngày nay chúng ta còn sử dụng
và hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới, Ngành, Lớp, Bộ, Họ, Chi, Loài [9].
Đến nay, theo số liệu của Trung tâm Giám sát Bảo tồn Thế giới (2000) trên thế
giới đã thống kê được 1.700.000 loài sinh vật, trong đó thực vật bậc cao có 250.000
loài (số loài ước tính khoảng 300.000 loài) [23].
1.1.2. Nghiên cứu về thảm thực vật\
J.Beard (1938) đã đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và
loạt quần hệ) [35].
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thành 3
vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian, đồng thời ông đã liệt
kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [56].
Gần đây các nhà sinh thái và địa thực vật Đức đã phân chia thảm thực vật ở
cạn thành 16 kiểu quần hệ [46].
1.2. Nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam
1.2.1. Những nghiên cứu về hệ thực vật ở Việt Nam
Một số công trình mang tính chất cơ bản và cổ điển của các tác giả là người
nước ngoài nhằm thống kê các loài thực vật Việt Nam như: J. Loureiro (1793), J.B.L.
Pierre (1880) và đến đầu thế kỷ XX có H. Lecomte và cộng sự (1907-1952) [40].
Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9.628 loài cây hoang dại
có mạch, 2.010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số lên tới 10.361 loài, 2.256

khoảng 2.400 loài, 879 chi, 176 họ; Trong ngành Hạt kín thì lớp Hai lá mầm có khoảng
2000 loài, 690 chi, 145 họ và lớp Một lá mầm có 400 loài, 189 chi, 31 họ. Hệ thực vật
vùng Quảng Trị có 51 loài quý hiếm đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. [67].
1.5. Tình trạng quản lý bảo vệ các thực vật quý hiếm và hoạt động khai thác,
buôn bán thực vật quý hiếm, nguy cấp
1.5.1. Tình trạng quản lý bảo vệ các thực vật quý hiếm
1.5.2. Hoạt động khai thác, buôn bán thực vật quý hiếm, nguy cấp
1.6. Những nghiên cứu về các loài cây thuộc bộ Đậu
Ở Việt Nam, kết quả thống kê cho thấy thực vật trong bộ Đậu có 103 chi với
430 loài, trong đó nhiều chi có những loài cây lấy gỗ có giá trị và chiếm thành phần
quan trọng ở nhiều khu rừng như: Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Gụ mật
(Sindora cochinchinensis), Cẩm lai (Dalbergia bariensis), Trắc (Dalbergia
cochinchinensis), Giáng hương (Pterocarpus pedatus), Căm xe (Xylia
dolabriformis),
1.7. Các loài thực vật quý hiếm thuộc đối tượng nghiên cứu
1) Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain)
2) Trắc (Dalbergia cochinchinensis Pierre, 1898)
3) Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus Kurz, 1874)
4) Cẩm Lai (Dalbergia oliveri Gamble ex Prain 1897)
5) Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib, 1912)
6) Gụ lau (Sindora tonkinensis A. Chev. ex K. et S. S. Larsen, 1980)
7) Gụ mật (Sindora siamensis Teysm. ex Miq., 1867)
8) Lim xanh (Erythrophloeum fordii Oliv. 1883)
5
Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu cụ thể
- Lập được danh mục các loài thuộc đối tượng nghiên cứu trên địa bàn tỉnh.
- Xác định được hiện trạng phân bố và tình trạng các loài chủ yếu.
- Đề xuất được các giải pháp, phương án bảo tồn và phát triển có tính khả thi cao.
2.2. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm tái sinh, sinh trưởng và phát triển một số loài chủ yếu.
- Tìm hiểu kỹ thuật nhân giống, gieo ươm và gây trồng một số loài chủ yếu.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây gỗ bản địa bộ Đậu trên
địa bàn tỉnh Quảng Trị.
6
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thu thập số liệu nghiên cứu
a. Về thành phần loài:
- Kế thừa các nguồn dữ liệu thứ cấp (để lập bản danh lục tạm thời).
- Phỏng vấn các bên liên quan (để xác minh và bổ sung danh lục tạm thời, định
hướng đối tượng và địa điểm điều tra/phúc tra thực địa).
- Phúc tra thực địa (để xác minh và bổ sung danh lục tạm thời).
+ Kiểm chứng thông tin tại các địa điểm đã xác định (dựa vào nhân chứng,
công cụ GPS…).
+ Lập tuyến điều tra phát hiện tại các khu vực có thông tin nhưng chưa xác
định cụ thể điểm phân bố.
- Điều tra thực địa (đối với các vùng thiếu vắng thông tin về loài hay nhóm
loài) trên các tuyến điều tra phát hiện để bổ sung thành phần loài hay vùng phân bố.
b. Về công dụng, giá trị và tình hình khai thác sử dụng
- Tra cứu tài liệu
- Phỏng vấn người dân và các bên liên quan
- Khảo sát thị trường
c. Về xác định loài chủ yếu
- Xây dựng tiêu chí lựa chọn
- Trưng cầu ý kiến của cơ quan chức năng, các bên liên quan và tham vấn
chuyên gia.
d. Về đánh giá hiện trạng các loài chủ yếu và tình hình gây trồng
- Xác định các chỉ tiêu đánh giá (nguồn gốc, số lượng, mật độ, tình hình sinh
trưởng, phát triển, tái sinh, chất lượng cây mẹ và cây tái sinh, các đặc trưng sinh thái,
các yếu tố ảnh hưởng hay đe dọa, tình hình gây trồng…).

3.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
Quảng Trị là một tỉnh thuộc Bắc Trung, với tổng diện tích tự nhiên 473.982
km
2
, diện tích đất lâm nghiệp là 290.476,13ha, chiếm 61,3% tổng diện tích. Các
huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất là Hướng Hóa, Đakrông và Vĩnh Linh.
Dân số là 613.655 người (số liệu năm 2013) [16].
Hình 3.1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị
(Nguồn: Ảnh chụp bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị)
Địa hình lãnh thổ rất đa dạng, dốc từ Tây sang Đông tạo thành 4 vùng địa lý tự
nhiên: cát ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi. Núi ở Quảng Trị có độ cao từ
250-2.000m xen kẽ với các dải đồi cao thấp khác nhau, ăn sâu vào lãnh thổ Việt Nam
tạo ra Tây và Đông Trường Sơn.
3.1.2. Kinh tế - xã hội
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2005-2013 đạt trên
10%, thu nhập bình quân đầu người năm 2013 là 26,8 triệu đồng; Cơ cấu kinh tế của
tỉnh chuyển dịch theo hướng tích cực.
3.1.3. Truyền thống văn hóa - tập quán sử dụng tài nguyên rừng
Cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Trị gồm 3 dân tộc chính: Kinh, Vân Kiều
và Pa Cô. Tỉ lệ các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 9% tổng dân số, sinh sống chủ yếu
ở các huyện miền núi phía Tây của tỉnh như: Hướng Hóa, Đakrông. Một số phong tục
tập quán của đồng bào dân tộc có tác dụng trong bảo tồn và phát triển tài nguyên
rừng như: Những phong tục tập quán lâu đời nhằm giữ gìn một số vùng đất quan
trọng cho thôn bản. Những tập quán này góp phần giữ gìn các vùng đất đầu nguồn
nước, hay những nơi rừng tốt khỏi việc khai thác một cách bừa bãi. Một loại rừng
cấm khác cũng bị nghiêm ngặt trong việc khai thác là “Rừng ma” - là nơi chôn người
chết của bản và các khu miếu thờ. Những khu rừng này cũng bị cấm khai thác.
9
Tuy nhiên, hoạt động kinh tế chủ yếu của đồng bào là nông - lâm nghiệp với

Vùng sinh thái và Địa điểm điều tra
Núi & Đồi
Đồng
bằng
Vùng cát
Hải
đảo
Hướng
Hóa
Đăkrông
Đông Hà,
Vĩnh Linh
(Rú Lịnh)
Hải
Lăng
(H.Thọ,
H.Xuân)
Cồn
Cỏ
I Fabaceae Họ Đậu
1. Antheroporum pierrei Gagnep. Mát, Săng mây GOT LGO, DOC +
2. Dalbergia assamica Benth. Cọ khiết, Cọ khẹt lá nhỏ GOT LGO, CTD +
3. D. cochichinensis Pierre Trắc GOL LGO, DTC +
4. D. polyadelpha Prain. Sóng lá GOT THU + +
5. D. rimosa Roxb. Trắc dây BTR
THU, AND,
CAN
+
6. D. tonkinensis Prain. Sưa, Trắc thối, Huê GOT LGO, CAN +* +* +* +*
7. Erythrina fusca Lour. Vông đồng GOT CAN, THU, PH +

28. Erythrophleum fordii Oliv Lim xanh GOL LGO, DOC + + +
29.
Gleditsia australis Hemsl.ex
Forbes & Hemsl
Bồ kết GON LGO, THU +
30. G. fera (Lour.) Merr Tạo giác, Bồ kết nhỏ GON THU +
31.
Gymnocladus angustifolius
(Gagnep.) J.E.Vidal
Lôi khoai; Lá thắm GOL LGO, CAN +
32.
Peltophorum dasyrrachis (Miq.)
Kurz
Lim vàng, Hoàng linh GOL LGO, THU + +
33.
P. pterocarpum (DC.) Backer ex
K.Heyrne
Lim xẹt GOL LGO, CAN + + +
34. Saraca indica L. Vàng anh lá nhỏ GOT CAN, TAN + +
35.
Senna siamea (Lamk) Irwin &
Barneby
Muồng đen GOT LGO, CAN + + +
*
+*
36. Sindora siamensis Teysm. ex Miq. Gõ mật, Gụ mật GOL LGO, THU +
37.
S. tonkinensis A. Chev. ex K. & S.
S. Lars.
Gõ, Gụ lau GOL LGO, TAN + + + +

Trị tương đối phong phú và đa đạng, bao gồm hầu hết các loài gỗ quý hiếm thuộc bộ
Đậu. Một số loài có phân bố tự nhiên ở nhiều vùng sinh thái khác nhau như Lim xanh
(Erythrophleum fordii), Gụ lau (Sindora tonkinensis), Mán đỉa (Albizia clypearia),
Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum)… Riêng loài gỗ Sưa (Dalbergia tonkinensis)
được gây trồng ở hầu hết các vùng sinh thái trừ Cồn Cỏ.
3.2.2. Nguồn gốc và phân bố các loài theo vùng sinh thái
Vùng núi và đồi có tổng số loài lớn nhất với 49 loài (chiếm 96,08% tổng số
loài). Hầu hết các loài ở vùng núi và đồi đều là cây địa phương và có nguồn gốc tự
nhiên, chỉ có loài Gõ đỏ (Afzelia xyclocarpa) được dẫn giống từ tỉnh Gia Lai và trồng
vào năm 2003 tại Đakrông. Loài Sưa (Dalbergia tonkinensis) trước đây được ghi
nhận có tại Hướng Hóa nhưng hiện nay trong tự nhiên không còn bắt gặp.
Vùng đồng bằng có 8 loài trong đó có 6 loài có nguồn gốc tự nhiên, 2 loài là cây
trồng. Vùng cát cũng có 7 loài, trong đó có 5 loài có nguồn gốc tự nhiên và 2 loài cây
trồng. Vùng hải đảo có 4 loài nhưng chỉ có một loài có nguồn gốc tự nhiên (Gụ lau).
Gụ lau là loài có phân bố rộng nhất, có ở hầu hết các địa phương và vùng sinh
thái của tỉnh. Các loài Lim xẹt, Lim xanh, Cổ ướm và Mán đỉa cũng là những loài có
phân bố khá rộng. Loài Sưa trước đây chỉ được ghi nhận có tại một địa điểm là xã
Hướng Lập (Hướng Hóa) nhưng hiện nay không còn hiện diện trong tự nhiên do hoạt
động khai thác tận diệt và sưu tầm cây con để trồng. Thuộc về các loài có phân bố
hẹp còn có các loài gỗ quý là Giáng hương, Trắc và Gụ mật. Đây là những loài cần
được ưu tiên bảo tồn ở cấp độ cao nhất tại địa phương.
3.3. Giá trị và công dụng các loài cây gỗ bản địa bộ Đậu
3.3.1. Giá trị bảo tồn
Trong số các loài gỗ bộ Đậu của tỉnh Quảng Trị chúng tôi đã thống kê được có
6 loài thuộc danh lục Sách đỏ Việt Nam chiếm 11,8% tổng số loài cây gỗ bộ Đậu của
tỉnh. Có 7 loài thuộc nghị định 32/2006 NĐ-CP chiếm 13,7% tổng số loài cây gỗ bộ
Đậu của tỉnh. Có 6 loài thuộc danh lục Sách đỏ Thế giới (IUCN 1994) chiếm 11,8%
tổng số loài cây gỗ bộ Đậu của tỉnh. Số liệu chi tiết được thể hiện ở bảng 3.3
14
Bảng 3.2. Các loài thực vật nguy cấp thuộc bộ Đậu tại Quảng Trị

Vĩnh Linh, Cam Lộ,
Cồn Cỏ
6 Sindora siamensis Gụ mật EN IIA LR Đakrông, Vĩnh Linh
7
Erythrophleum
fordii
Lim
xanh
IIA EN
Đakrông, Hướng Hóa,
Vĩnh Linh, Cam Lộ
(Nguồn:Tác giả, 2014)
3.3.2. Giá trị sử dụng
Dựa vào các tài liệu chính: Từ điển cây thuốc Việt Nam (2012) [10], Danh lục
các loài thực vật Việt Nam (2003, 2005) [1], … Trên cơ sở của kết quả nghiên cứu,
chúng tôi đã phân các loài cây gỗ bộ Đậu theo những công dụng khác nhau theo nhu
cầu sử dụng của con người được thể hiện ở bảng 3.4.
Bảng 3.3. Phân chia các loài theo các nhóm công dụng
TT
Nhóm
công dụng
Ký hiệu
Số lượng
loài
Các loài đại diện
1 Lấy gỗ LGO 33
Lim xanh, Gụ lau, Gụ mật, Trắc, Sưa,
Giáng hương, Lim vàng, Lim xẹt,
Muồng đen, Xoay,…
2 Làm thuốc THU 19

(#) Vông đồng, Cổ áo, Săng lục,…
(Nguồn: Tác giả, 2014)
15
Qua bảng 3.4 cho thấy:
- Nhóm loài lấy gỗ có 33 loài (chiếm 64,7%). Trong đó có nhiều loài cho gỗ
lớn và quý hiếm như: Lim xanh, Gụ lau, Gụ mật, Trắc, Sưa, Giáng hương,… được
người dân và thị trường rất ưa chuộng.
- Nhóm loài làm dược liệu có 19 loài (chiếm 37,2%). Đối với những người dân
tộc sống ở vùng sâu vùng xa, dược liệu từ thiên nhiên là một giải pháp hữu hiệu trong
việc chữa trị các loại bệnh thông thường. Trong đó các loài như Vông đồng
(Erythrina fusca), Vông nem (Erythrina variegata), Thàn mát (Millettia
ichthyochtona), Thàn mát tơ (Millettia sericea), Móng bò tai voi (Bauhinia
malabarica), Móng bò xanh lục (Bauhinia viridescens),… đã được nhân dân sử dụng
để chữa một số bệnh trong dân gian.
- Nhóm loài làm cảnh có 10 loài (chiếm 19,61%). Trong đó, đặc biệt các loài
như Sưa (Dalbergia tonkinensis), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Muồng đen
(Senna siamea),… được sử dụng để trồng ở những công trình xây dựng, trồng đường
phố hoặc ở các công viên tạo cảnh quan và bóng mát. Một số loài cây được trồng tạo
thế trong chậu (bonsai) có Me, Trắc dây (Dalbergia rimosa).
- Nhóm loài cho sợi, tinh dầu, nhựa, tanin có 9 loài (chiếm 17,65%), bao gồm
Móng bò curit (Bauhinia curtisii), Móng bò lông nâu (Bauhinia hirsuta), Vàng anh lá
nhỏ (Saraca indica), Móng bò phượng vỹ (Bauhinia coccinea), Cọ kiêng (Albizia
chinensis), Cọ khiết (Dalbergia assamica),…
- Nhóm loài làm thực phẩm có 6 loài (chiếm 11,76%) như Vông nem, Móng bò
tai voi, Móng bò xanh lục… Việc sử dụng nguồn lương thực, thực phẩm có sẵn trong
rừng sẽ an toàn hơn so với những loại thực phẩm bày bán sẵn trên thị trường.
- Nhóm cây có chứa chất độc có 5 (chiếm 9,8%) loài như Thàn mát ruốc cá
(Millettia piscidia), Lim xanh (Erythrophleum fordii), Săng mây (Antheroporum
pierrei )… có thể khai thác sử dụng làm thuốc bảo vệ thực vật, diệt tạp trong nuôi
trồng hải sản, duốc cá, làm thuốc thú y, …

Hải Lăng, Cam Lộ và đảo Cồn Cỏ. Gụ lau phân bố ở độ cao từ dưới 100m (Rú Lịnh
thuộc huyện Vĩnh Linh) đến độ cao trên 350m (xã Hướng Hiệp, Hải Phúc thuộc
huyện Đakrông và xã Hướng Sơn thuộc huyện Hướng Hóa).
Hình 3.4. Bản đồ phân bố Gụ lau tại tỉnh Quảng Trị
Gụ lau phân bố cùng với các loài như Mít nài, Trám, Máu chó, Mán đĩa, Lim
xẹt, Lim xanh, Chôm chôm, Chũa, Ngát, Côm tầng, Săng đen, Trâm, Chân chim…
3.4.1.4. Phân bố và hiện trạng loài Lim xanh (Erythrophleum fordii)
Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, có thể gặp Lim xanh ở huyện Hướng Hóa, Cam
Lộ, Vĩnh Linh và Đakrông. Lim xanh phân bố cùng các loài cây như Bái Bái, Trâm,
Dẻ, Chạc Ngựa, Trám, Bứa, Máu chó, Ngát, Côm, Mán đĩa, Chân chim, Bời lời
Đặc biệt, ở trạng thái rừng phục hồi thôn 5 xã Hải Phúc ở độ cao từ 150 đến 300m
Lim xanh rất nhiều, phân bố theo cụm, phần lớn là cây tái sinh chồi từ gốc cây mẹ.
Hình 3.5. Bản đồ phân bố Lim xanh tại tỉnh Quảng Trị
18
3.4.1.5. Phân bố và hiện trạng loài Gụ mật (Sindora siamensis)
Loài chỉ được bắt gặp ở Khu BTTN Đakrông, ở xã Hướng Hiệp, huyện
Đakrông và ở xã Vĩnh Hà, Vĩnh Ô của huyện Vĩnh Linh.
Gụ mật phân bố cùng với Gụ lau, Lim xanh, Mán đĩa, Lim xẹt, Côm tầng,
Máu chó, Trâm, Ngát ở độ cao 100 đến 350m, trạng thái rừng phục hồi. Hiện nay,
loài còn rất ít và vẫn bị khai thác trái phép.
Hình 3.6. Bản đồ phân bố Gụ mật tại tỉnh Quảng Trị
3.4.2. Tình hình gây trồng các loại cây gỗ bộ Đậu
3.4.2.1. Tình hình gây trồng loài Sưa (Dalbergia tonkinenesis)
Qua khảo sát khu vực nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, loài gỗ Sưa được gây
trồng hầu như ở tất cả các huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Quảng Trị. Các địa
phương có các hộ gia đình trồng gỗ Sưa với số lượng lớn là các huyện Cam lộ,
Hướng Hóa và Vĩnh Linh.
Các hộ dân trồng loài gỗ này phần lớn đều có biết mục đích rõ ràng và đều có
nhận thức đây là loài gỗ quý, hiếm và họ hy vọng sẽ thu được lợi ích kinh tế trong
tương lai. Nguồn cây giống được mua từ các vườn ươm ở huyện Cam Lộ và Hướng

thực vật thành phố Đông Hà, Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Đông Hà (xã Cam Hiếu,
Cam Lộ) và tại huyện Gio Linh.
Tại Vườn thực vật thành phố Đông Hà, Lim xanh được trồng từ năm 1996 đến
1998 trong chương trình 327. Tại Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Đông Hà, có 5 cây
Lim xanh được trồng từ cuối năm 2011. Tại xã Trung Sơn, huyện Gio Linh một số ít
cây Lim xanh được trồng phân tán và hỗn giao với Keo lai từ cuối năm 2013.
3.4.2.5. Tình hình gây trồng loài gỗ Gõ đỏ (Afzelia xyclocarpa)
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị loài Gõ đỏ rất ít được gây trồng. Qua
điều tra chúng tôi nhận thấy, chỉ có 2 cây Gõ đỏ được trồng hiện còn sống và phát
triển tốt tại khuôn viên Trạm Kiểm lâm cầu Đakrông. Nguồn giống được TS. Trần
Minh Đức (Trường ĐHNL Huế) dẫn giống từ tỉnh Gia Lai vào năm 2002. Năm 2003,
TS. Trần Mạnh Đạt (hiện là GĐ Phân Hiệu ĐHH tại Quảng Trị) và TS. Trần Minh
Đức đã cùng các cán bộ BQL Khu BTTN Đăkrông trồng hai cây Gõ đỏ cùng một số
loài cây quý hiếm khác trong khuôn viên của BQL KBT (lúc bấy giờ còn đóng tại
đây) với mục tiêu sưu tập và bảo tồn.
3.5. Hiện trạng quản lý bảo tồn và phát triển các loài trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
3.5.1. Các văn bản chính sách
a. Ở cấp quốc gia
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng (2004)
- Luật Bảo vệ môi trường (2005).
- Luật Đa dạng sinh học (2008).
20
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
b. Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
- Chỉ thị số 07/2006/CT-UBND nhằm tăng cường các biện pháp cấp bách để
bảo vệ rừng.
- Chỉ thị số 02/2010/CT-UBND nhằm triển khai các biện pháp cấp bách phòng
cháy, chữa cháy rừng.
- Nghị quyết số 03/2007/NQ-HĐND về quy hoạch, kế hoạch BV&PTR giai

3.6.5. Kỹ thuật nhân giống Gõ đỏ (Afzelia xyclocarpa)
3.6.6. Kỹ thuật nhân giống Gụ mật (Sindora siamensis)
21
3.7. Đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thực vật bộ Đậu có giá trị
3.7.1. Nhóm giải pháp chiến lược- Lồng ghép giải pháp bảo tồn và sử dụng bền
vững ĐDSH vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
- Xây dựng mô hình “đồng quản lý” trong công tác bảo tồn ĐDSH.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn ĐDSH .
3.7.2. Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý và kỹ thuật
- Tiến hành điều tra, kiểm kê, đánh giá tài nguyên thực vật trên toàn tỉnh.
- Bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation) đối với các diện tích rừng hầu như
còn nguyên vẹn chưa bị tác động của con người hoặc rừng thứ sinh đã phục hồi.
- Bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) đối với các loài có số lượng cá thể
còn quá ít, phân bố rải rác khả năng phục hồi là rất khó, loài quý hiếm có giá trị kinh
tế cao rất dễ bị khai thác dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng như Sưa, Giáng hương, Trắc
3.7.3. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách
- Xây dựng các văn bản pháp luật.
- Chính sách tài chính và đầu tư cho bảo tồn ĐDSH.
- Chính sách hỗ trợ cho người dân.
- Lồng ghép chính sách trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
3.7.4. Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội
Nâng cao đời sống cho cộng đồng quanh khu vực nhằm giảm bớt sự phụ thuộc
của con người vào tài nguyên rừng là hết sức cần thiết.
- Quy hoạch sử dụng đất.
- Xây dựng các mô hình trình diễn.
- Chuyển giao kỹ thuật và dạy nghề.
- Phát triển trồng cây lâm sản ngoài gỗ .
- Phát triển chăn nuôi.
- Tập huấn chuyển giao kỹ thuật, dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm .
- Phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái gắn với bảo tồn và phát triển các loài cây

4). Về giá trị và công dụng: hầu hết các loài cây gỗ bản địa bộ Đậu tại Quảng Trị
đều có công dụng rõ ràng, nhiều loài là loài cây đa tác dụng và có giá trị bảo tồn cao.
Nhóm cây cho gỗ chiếm tỷ lệ lớn nhất (64,7%) trong đó có nhiều loài cây gỗ
quý có giá trị sử dụng và kinh tế rất cao như: Lim xanh, Gụ lau, Gụ mật, Gõ đỏ, Trắc,
Giáng hương, Sưa, Muồng đen (Cassia siamea), Xoay (Dialium cochinchinenses).
Ngoài ra, còn có 19 loài cây (37,25%) dùng làm thuốc, 10 loài (19,61%) dùng làm
cảnh, 09 loài (17,65%) cho nguyên liệu chế biến trong công nghiệp, 06 loài cây
(11,76%) có thể dùng làm thực phẩm, 05 loài (9,80%) có chứa chất độc dùng trong
chế biến các chế phẩm BVTV và thú y
Có 07 loài quý hiếm thuộc nhóm IA, IIA Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 06 loài
thuộc danh lục Sách đỏ Việt Nam (2007), 06 loài thuộc danh lục Sách đỏ thế giới
(IUCN 1994). Chúng đều thuộc về các loài cây cho gỗ quý đồng thời có giá trị sử
dụng và giá trị kinh tế cao như: Lim xanh, Gụ lau, Gụ mật, Sưa, Trắc, Giáng hương
và Gõ đỏ.
23
5). Về hiện trạng quần thể và các mối đe dọa các loài cây gỗ quý hiếm:
Các loài có phân bố rộng trên địa bàn tỉnh, số lượng cá thể trưởng thành còn
nhiều, nhiều cây con tái sinh hiện chỉ tập trung cho 02 loài Lim xanh và Gụ lau. Số
còn lại có số lượng cá thể rất ít lại phân bố hẹp mỗi điểm phân bố lại rất ít cá thể, chất
lượng cây xấu, rất ít cây tái sinh như Trắc, Giáng hương, Gụ mật. Riêng loài gỗ Sưa
không còn trong tự nhiên chỉ còn cây được gây trồng. Loài Gõ đỏ cũng chỉ có 02 cá
thể ở cấp tuổi II được trồng tại cùng một địa điểm.
Hầu hết các loài gỗ quý hiếm bị khai thác nhiều trong thời gian trước. Hiện
nay, tình trạng khai thác trái phép vẫn đang diễn một số nơi, đặc biệt là bên ngoài các
khu rừng đặc dụng. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp cũng
góp phần làm thu hẹp vùng phân bố các loài và đe dọa suy giảm về thành phần loài.
6). Về hiện trạng quản lý bảo tồn: chính quyền địa phương các cấp và cơ quan
chức năng trên địa bàn tỉnh đã có sự quan tâm và đầu tư nhất định cho công tác bảo
tồn ĐDSH nói chung và các loài động thực vật rừng quý hiếm nói riêng, thể hiện qua
các văn bản pháp quy, chính sách đã được ban hành và xúc tiến thành lập các khu

các địa phương có rừng và đất lâm nghiệp nhằm bổ sung danh lục các loài và thiết lập
bản đồ phân bố các loài chủ yếu toàn diện và đầy đủ hơn trên địa bàn toàn tỉnh. Hỗ
trợ cơ quan điều tra rừng thống kê sự có mặt và đặc trưng quần thể các loài quý hiếm
ở các lô, khoảnh và tiểu khu trong các loại hình rừng đặc dụng và rừng sản xuất thuộc
các Ban quản lý rừng và Công ty lâm nghiệp; Cơ quan Kiểm lâm phối hợp với chính
quyền thôn, xã thống kê hiện trạng các loài quý hiếm do hộ gia đình và cộng đồng
quản lý để có kế hoạch bảo tồn cụ thể và chi tiết tại từng địa phương.
- Tiếp tục nghiên cứu chọn xuất xứ loài gỗ Sưa phù hợp với điều kiện lập địa
của tỉnh và hoàn thiện quy trình nhân giống một số loài chủ yếu nhằm phục công tác
bảo tồn chuyển vị và phát triển loài theo các mục tiêu khác nhau như kinh tế, phòng
hộ, bảo vệ mội trường và cảnh quan.
- Cần tiếp tục nghiên cứu các bậc taxon và nhóm thực vật có nhiều loài quý hiếm
có giá trị kinh tế, giá trị khoa học và giá trị bảo tồn nhằm bổ sung hoàn thiện danh lục
và hiện trạng, phân bố các loài thực vật quý hiếm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
- Cần xây dựng thêm các Vườn thực vật tại các khu rừng đặc dụng như Rú
Lịnh, Khu BTTN Đăkrông và Khu BTTN Bắc Hướng Hóa trong đó có định hướng
ưu tiên sưu tập và gây trồng các loài cây gỗ quý hiếm bộ Đậu phục vụ công tác bảo
tồn, nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái.
- Có chính sách hỗ trợ vốn sản xuất, đào tạo nghề, tập huấn nâng cao nhận thức
công tác bảo tồn ĐDSH và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho các hộ dân đồng bào
dân tộc sống gần rừng. Đặc biệt có chính sách khuyến khích các cá nhân, tổ chức,
doanh nghiệp tham gia công tác bảo tồn ĐDSH. Hỗ trợ cây giống và kỹ thuật trồng
chăm sóc những loài quý hiếm cho những hộ trồng phân tán và hỗ trợ tài chính cho
các hộ trồng với số lượng lớn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status