Thiết kế qui trình sản xuất biodiesel từ mỡ cá với năng suất 10000 lít trên ngày - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Chúng em chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Trường Đại Học Bà Rịa –
Vũng Tàu đã tạo cho chúng em một môi trường học tập thật tốt, trang bị cho
chúng em đầy đủ các thiết bị học tập hiện đại. Đặc biệt, là quý thầy, cô khoa
Hóa – Công nghệ thực phẩm đã tạo điều kiện tốt nhất và giải quyết mọi vấn đề
một cách tận tình.
Và chúng em xin gửi lời cảm ơn tới thầy Th.S Nguyễn Quốc Hải đã tận
tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu để chúng
em có thể làm tốt bài báo cáo này.
Trong thời gian hoàn thành báo cáo này, chúng em đã có nhiều sự cố
gắng nỗ lực. Kính mong sự phê bình và đóng góp ý kiến của quý thầy, cô để báo
cáo của chúng em được hoàn thiện và tốt hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!

MỞ ĐẦU
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và cùng với nó là yêu cầu ngày
càng cao về độ tinh khiết của các sản phẩm và yếu tố giá thành luôn là một
vấn đề được ưu tiên. Do đó, thiết kế quy trình sản xuất biodiesel từ mỡ cá
được ứng dụng để sản xuất ra các sản phẩm thay thế cho nguồn dầu mỏ thiên
nhiên đang dần cạn kiệt, áp dụng nhiều phương pháp và luôn luôn được cải
tiến, đổi mới ngày càng hoàn thiện hơn như là: chưng cất, trích ly,… Trong
công nghiệp, quy trình sản xuất Biodiesel thường có quy mô vừa và nhỏ và
đầu năm 2014, nước ta đã sử dụng xăng E5.
Qua các môn đã học: Quá trình thiết bị, Auto Cad … Chúng em sẽ thiết
kế quy trình sản xuất Biodiesel từ mỡ cá với năng suất 10000lit/ngày, với việc
giải quyết những vấn đề sau:
 Cơ sở thiết kế hệ thống.
 Thiết lập sơ đồ hệ thống.
 Tính toán cân bằng vật chất và năng lượng.
 Tính toán cơ khí:
 Thiết bị chính.

trygryceride của axit béo. Sản phẩm chính thu được là ester của những axit béo. Theo tiêu chuẩn ASTM, Biodiesel được định nghĩa là “các mono alkyl este
của các axit mạch dài có nguồn gốc từ các lipit có thể tái tạo lại như: dầu thực
vật, mỡ động vật, được sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ diesel”.
II.2. Sự hình thành và phát triển Biodiesel
II.2.1. Lịch sử hình thành
Ngày 10/08/1893 lần đầu tiên Rudolf Diesel đã sử dụng Biodiesel do ông
sáng chế để chạy máy. Năm 1912, ông đã dự báo: “Hiện nay, việc dùng dầu thực
vật cho nhiên liệu động cơ có thể không quan trọng, nhưng trong tương lai,
những loại dầu như thế chắc chắn sẽ có giá trị không thua gì các sản phẩm nhiên
liệu từ dầu mỏ và than đá”.Trong bối cảnh nguồn tài nguyên dầu mỏ đang cạn
kiệt và những tác động xấu lên môi trường của việc sử dụng nhiên liệu, nhiên
liệu tái sinh sạch trong đó có Biodiesel đang ngày càng khẳng định vị trí là
nguồn nhiên liệu thay thế khả thi. Để tưởng nhớ nguời đã có công đầu tiên đoán
được giá trị to lớn của Biodiesel, Nation Board Biodiesel đã quyết định lấy ngày
10 tháng 8 hằng năm bắt đầu từ năm 2002 làm ngày Diesel sinh học Quốc tế
(International Biodiesel Day).
Năm 1900 tại Hội chợ thế giới tổ chức tại Paris, Diesel đã biểu diễn động cơ
dùng dầu Biodiesel chế biến từ dầu đậu phộng (lạc).
Trong những năm của thập kỷ 90, Pháp đã triển khai sản xuất Biodiesel từ
dầu hạt cải. Và được dùng ở dạng B5 (5% Biodiesel với 95% Diesel) và B30
(30% Biodiesel trộn với 70% Diesel).
II.2.2. Tình hình sản xuất và sử dụng Biodiesel trên thế giới và Việt
Nam
II.2.2.1 Trên thế giới
Các nước trên thế giới đã sản xuất Biodiesel với số lượng ngày càng nhiều
và tăng rất nhanh. Theo xu hướng thế giới, người ta sẽ trộn Biodiesel vào thành
phần diesel từ 5 tới 30%. Ở Châu Âu theo chỉ thị 2003/30/EC của EU từ ngày 31

6
Hungari
18.800
7
Ireland
5000
8
Tây Ban Nha
500
9
Úc
60.000
10
Bỉ
241.000
II.2.2.2 Tại Việt Nam
Về sản xuất và tiêu thụ Biodiesel ở nước ta thuộc loại thấp so với thế giới,
tuy nhiên cùng với việc phát triển của xã hội thì nhu cầu về tiêu thụ nhiên liệu
này cũng tăng một cách đáng kể.
Tại Việt Nam, 5 năm trở lại đây Petro Việt Nam đã có kế hoạch đưa 10%
Biodiesel (B10) vào thành phần Diesel để lưu thông trên thị trường.

II.3. Tính chất và ƣu, nhƣợc điểm của Biodiesel
II.3.1. Tính chất
Biodiesel là một chất lỏng, có màu giữa vàng hay nâu tối phụ thuộc vào
nguyên liệu để chế biến. Methyl este điển hình có điểm bốc cháy khoảng 150
o

phụ gia để tăng tính bôi trơn. Trong thành phần của Biodiesel có chứa Oxi.
Cũng giống như S, O có tác dụng giảm ma sát. Cho nên Biodiesel có tính bôi
trơn tốt.
– Do có tính năng tượng tự như dầu Diesel nên nhìn chung khi sử dụng
không cần cải thiện bất kì chi tiết nào của động cơ (riêng đối với các hệ thống
ống dẫn, bồn chứa làm bằng nhựa ta phải thay bằng vật liệu kim loại).
 Về mặt kinh tế
– Sử dụng nhiên liệu Biodiesel ngoài vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường
nó còn thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển, tận dụng tiềm năng sẵn có của
ngành nông nghiệp như dầu phế thải, mỡ động vật, các loại dầu khác ít có giá trị
sử dụng trong thực phẩm.
– Đồng thời đa dạng hoá nền nông nghiệp va tăng thu nhập ở vùng miền
nông thôn.
– Hạn chế nhập khẩu nhiên liệu Diesel, góp phần tiết kiệm cho quốc gia
một khoảng ngoại tệ lớn.
II.3.3. Nhƣợc điểm
– Biodiesel có nhiệt độ đông đặc cao hơn Diesel một ít gây khó khăn cho
các nước có nhiệt độ vào mùa đông thấp. Tuy nhiên đối với các nước nhiệt đới,
như Việt Nam chẳng hạn thì ảnh hưởng này không đáng kể.
– Biodisel có nhiệt trị thấp hơn so với diesel.
– Trở ngại lớn nhất của việc thương mại Biodiesel trước đây là chi phí sản
suất cao. Do đó làm cho giá thành Biodiesel khá cao, nhưng với sự leo thang giá
cả nhiêu liệu như hiện nay thì vấn đề này không còn là rào cản nữa.
– Hiện nay Biodiesel thường được sản xuất chủ yếu là theo mẻ. Đây là điều
bất lợi vì năng suất thấp, khó ổn định được chât lượng sản phẩm cũng như các
điều kiện của quá trình phản ứng. Một phương pháp có thể tránh hoặc tối thiểu
khó khăn này là sử dụng quá trình sản xuất liên tục. II.4. Nguyên liệu sản xuất Biodiesel

1,48
0,91
Axit Arachidic (C20:0)
0,34
0,37
Axit Gadoleic (C20:1)
0,6
0,62
Axit Cetoleic (C22:1)
0,83
0,43
Axit Decosahexanenoic (C22:6)
0,59
0,34
Chúng đều chứa triglyxerit, axit béo tự do và các tạp chất khác tuỳ thuộc vào
mức độ xử lý trước khi đưa vào làm nguyên liệu sản xuất biodiesel. Tuỳ thuộc
vào phương pháp tổng hợp biodiesel mà yêu cầu vể nguyên liệu có khác nhau.
Với phản ứng dùng xúc tác kiềm là NaOH hay KOH thì nguyên liệu phải đảm
bảo hàm lượng axit béo dưới 1% là tốt nhất. Trong khi đó, với phản ứng dùng
xúc tác dị thể như MgO – NaOH hay γ – Al
2
O
3
– NaOH thì nguyên liệu có hàm
lượng axit béo dưới 5%.
Bảng 3. Một số tính chất hóa lý của mỡ cá da trơn
Chỉ tiêu

II.4.3.1. Xúc tác axit
- Xúc tác axít chủ yếu là xúc tác Bronsted như H
2
SO
4
, HCl Các xúc tác
này thường là xúc tác đồng thể trong pha lỏng. Các xúc tác axít cho độ chuyển
hóa thành este cao, nhưng phản ứng chỉ đạt độ chuyển hóa cao khi nhiệt độ cao
trên 100
o
C và thời gian phản ứng lâu hơn, ít nhất trên 6 giờ mới đạt độ chuyển
hóa hoàn toàn. Ví dụ: khi sử dụng xúc tác H
2
SO
4
nồng độ 1-5% với tỷ lệ
methanol/dầu đậu nành là 30:1 tại 60
o
C mất 50 giờ mới đạt độ chuyển hóa 99 %.
- Xúc tác này có ưu điểm là quá trình tinh chế sản phẩm đơn giản, este hóa
axít béo xảy ra nhanh hơn. Còn phản ứng chuyển hóa este của triglyxerit trên xúc tác axít xảy ra chậm hơn, thời gian phản ứng lâu hơn muốn đẩy nhanh tốc
độ chuyển hóa phải tăng nhiệt độ, quá trình rửa sản phẩm khó khăn.
II.4.3.2 xúc tác bazơ
- Xúc tác bazơ đồng thể thường được sử dụng nhiều nhất vẫn là các bazơ
mạnh như NaOH, KOH, NaCO
3
,…vì xúc tác này cho độ chuyển hóa rất cao,

, KI/-Al
2
O
3
. Các xúc tác này cũng cho độ chuyển hóa khá
cao (trên 90 %), nhưng thời gian phản ứng kéo dài hơn nhiều so với xúc tác
đồng thể.
II.4.3.3. Xúc tác dị thể
- Xúc tác đồng thể bazơ cho hiệu suất biodiesel cao, tuy nhiên gặp phải một
số khó khăn như: quá trình lọc rửa sản phẩm biodiesel, mất đi chi phí để xử lý
môi trường vì sau mỗi lần phản ứng hỗn hợp nước rửa phải bỏ đi. Để khắc phục
nhược điểm đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra xúc tác dị thể.
- Trong các loại xúc tác dị thể điển hình là các loại sau đây: Xúc tác MgO,
CaO: đây cũng là xúc tác bazơ nhưng sử dụng ở dạng rắn. Hiệu suất thu
biodiesel trên xúc tác này thấp hơn so với NaOH hay KOH. Để nâng cao hoạt
tính của xúc tác dị thể như MgO, CaO, có thể hoạt hóa MgO, CaO bằng NaOH
hoặc trên Al
2
O
3
. Việc dị thể hóa xúc tác sẽ dẫn đến dễ lọc, rửa sản phẩm, mặt
khác xúc tác này có thể tái sử dụng và tái sinh được, sẽ nâng cao hiệu quả kinh
tế và giảm số lần cần phải xử lý môi trường. II.4.3.4. Xúc tác enzym
- Gần đây có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến khả năng ứng dụng xúc
tác vi sinh trong quá trình sản xuất diesel sinh học. Các xúc tác sinh học có đặc
tính pha nền, đặc tính nhóm chức và đặc tính lập thể trong môi trường nước. Cả
hai dạng lipaza ngoại bào và nội bào đều xúc tác một cách có hiệu quả cho quá

- Xúc tác có thể tái
sử dụng nhiều lần.

- Hạn chế phản ứng
xà phòng hóa.
- Tỷ lệ alcol/dầu
thấp hơn.
- Điều kiện phản
ứng nhẹ nhàng (35-
40
o
C).
- Thu hồi glyxerin
dễ dàng.
Nhược điểm
- Tách rửa sản phẩm
phức tạp.
- Dễ tạo sản phẩm
phụ là xà phòng, gây
khó khăn cho phản
ứng tiếp theo.
- Độ chuyển hóa
thấp hơn.
- Thời gian phản
ứng dài hơn.

- Giá thành đắt.


methanol là 64,7
o
C nên nhiệt độ quá cao sẽ làm bay hơi methanol dẫn đến độ
chuyển hóa của phản ứng sẽ giảm xuống.
II.5.3 Ảnh hƣởng của tốc độ khuấy
Do các chất phản ứng tồn tại trong hai pha tách biệt nên tốc độ khuấy trộn
đóng vai trò rất quan trọng. Để tăng khả năng tiếp xúc pha, người ta xử dụng
cách khuấy trộn cơ học. Có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng: Với cùng một
điều kiện phản ứng , phản ứng trao đổi este mỡ cá chỉ đạt hiệu suất chuyển hóa
40% sau 8 giờ, phản ứng với tốc độ khuấy 300 vòng/phút, trong khi ở tốc độ
khuấy 600 vòng/phút, độ chuyển hóa đạt 97% chỉ sau gần 2 giờ.
II.5.4 Ảnh hƣởng của thời gian phản ứng
Thời gian phản ứng từ khi bắt đầu đến khi khi đạt cân bằng rất khác nhau đối
với từng loại xúc tác. Vì đây là phản ứng thuận nghịch nên nếu thời gian quá
ngắn phản ứng chưa đạt đến trạng thái cân bằng, độ chuyển hóa thấp, còn nếu
quá dài sẽ xảy ra phản ứng xà phòng hóa đối với xúc tác kiềm.
II.5.5 Ảnh hƣởng của tỷ lệ mol alcol/dầu
Một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới khả năng chuyển hóa phản ứng là tỷ
lệ mol alcol và triglyxerit. Tỷ lệ phụ thuộc vào loại xúc tác sử dụng. Theo lý
thuyết tỷ lệ này là 3 mol alcol và 1 mol triglyxerit để tạo thành 3 mol este của
axit béo và 1 mol glyxerin. Trên thực tế phản ứng xảy ra với hiệu suất cao hơn
nếu sử dụng một lượng thừa rượu để phản ứng chuyển dịch cân bằng theo chiều
thuận.
III. CÁC PHƢƠNG PHÁP SẢN XUẤT DẦU CÁ
III.1. Giới thiệu về dầu cá
Dầu cá là sản phẩm chế biến từ mỡ cá luôn ở dạng lỏng. Dầu cá chứa nhiều
axit béo không no, có nhiệt độ nóng chảy và đông đặc thấp.
Dầu cá là dung môi hòa tan mạnh các vitamin tan trong dầu, mà ở đây chủ
yếu là vitamin A, D. Trong cơ thể cá, dầu cá thường tồn tại dưới 2 dạng đó là:

làm lạnh đông chậm nguyên liệu các tinh thể nước đá hình thành sẽ số lượng ít nhưng kích thước to gây hủy hoại cấu trúc tế bào và mô chứa dầu tạo ra nhiều
chỗ rách khi tan giá dầu sẽ theo các khe hở này thoát ra ngoài.
III.2.5. Phƣơng pháp chiết dầu bằng dung môi hữu cơ
Nguyên lý của phương pháp này là dùng dung môi hữu cơ không phân cực
như benzene, xăng nhẹ, cồn…để chiết dầu ra khỏi nguyên liệu sau đó làm bay
hơi hết dung môi thu được dầu thô.
III.2.6. Phƣơng pháp thủy phân bằng dung dich xút loãng
Dùng dung dịch xút loãng kết hợp với nhiệt độ cao để thủy phân nguyên liệu
trên cơ sở đó phá vỡ cấu trúc tế bào và mô, cắt đứt được liên kết giữa lipit với
protein thu được cả dầu và vitamin ở cả trạng thái tự do.
- Kết luận: Trong các phương pháp nêu ở trên thì nhóm chọn phương pháp
lực cơ học đó là phương pháp ép tại vì phương phương này đơn giản, chi phí
đầu tư thấp, hiệu suất khá cao và nó phù hơp với tình hình nước ta nên sẽ được
áp dụng rộng rãi hơn so với những phương pháp khác.
III.3. Sản xuất dầu cá bằng phƣơng pháp ép ƣớt
Có hai phương pháp ép là ép khô và ép ướt. Đặc điểm của ép khô là nguyên
liệu sau khi làm khô ở nhiệt độ cao rồi tiến hành ép. Do làm khô trong không khí
nóng, lượng Lipid còn nhiều, thời gian sấy dài nên dầu bị oxy hóa, chất lượng
dầu cá không tốt.
Do đó phương pháp ép khô chỉ thích hợp cho nguyên liệu ít mỡ, nhưng
phương pháp này quá trình công nghệ khá đơn giản, hiệu suất quy trình cao hơn.
Nếu có thiết bị sấy chân không thì khắc phục được các khuyết điểm trên.
Đặc điểm của phương pháp ép ướt là nguyên liệu được nấu chín, sau đó ép
lúc nguyên liệu còn ướt để lấy bớt ra lượng nước và dầu. Do đó, khi sấy nguyên
liệu ít bị oxy hóa, thích hợp cho nguyên liệu nhiều dầu. Dịch ép có mang theo
một số thành phần dinh dưỡng phải cô đặc thu hồi để nâng cao hiệu suất thu hồi
quy trình.


Thiết bị chưng nấu có 2 loại: sản xuất dây chuyền và ngắt đoạn. sản xuất thủ
công thường dùng nồi và đun nóng trực tiếp, thường dùng 2 nồi và đun nóng
gián tiếp.
III.3.2. Ép
Mục đích của khâu ép là lấy được hết dầu từ nguyên liệu đã nấu chín. Khi
nấu chín tế bào bị vỡ, dưới tác dụng của lực ép dầu, nước và một số chất hòa tan
được tách ra.

Hình 1. Máy ép mỡ cá trục vít
Nguyên tắc làm việc của máy ép trục vít là sử dụng 1 vít để ép nguyên liệu.
Vít có hình dạng đặc biệt, lòng ép cũng được thiết kế có hình dạng đặc biệt sao
cho thể tích rỗng giữa lòng ép và trục ép càng về sau càng nhỏ. Lòng ép là một
ống hình trụ ghép lại bằng nhiều thanh rời gọi là thanh căn, ngay giữa 2 thanh
căn là khe hở nhỏ để dầu có thể chảy ra được. Nguyên liệu cho vào máy ép bị
nén dần về phía cuối máy, càng về sau thể tích khoang ép càng nhỏ, áp suất sẽ
tăng, dầu sẽ thoát ra khỏi nguyên liệu theo khe hở thanh căn chảy ra ngoài ở
phía dưới, bã sẽ thoát ra ở cuối lòng ép. Cuối lòng ép có bộ phận hình côn điều
chỉnh khe hở ra (côn điều chỉnh). Nếu khe hở lớn, áp suất ép nhỏ và ngược lại. Nguyên liệu trước khi ép thường được chuẩn bị trước: nghiền sơ bộ, sau đó
tiến hành chưng sấy bằng phương pháp nhiệt ẩm đưa nguyên liệu có dầu đến
nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho quá trình ép, trích ly.
Quá trình ép thường gặp phải hiện tượng nguyên liệu dính vào trục và quay
theo trục (bám đầy vào khoảng trống xung quanh trục vít), khi đó trục vít ép
không còn tác dụng ép nữa và phải dừng máy để làm sạch trục vít ép.
IV. CÁC CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT BIODIESEL
IV.1. Phƣơng pháp nhũ tƣơng hóa
Nhiên liệu ban đầu là mỡ cá, rượu và chất tạo sức căng bề mặt với thiết bị

khoáng.
Mỗi phương pháp tổng hợp Biodiesel đều có những ưu, nhược điểm riêng.
Tuy nhiên để thu được Biodiesel có độ nhớt xấp xỉ bằng diesel khoáng, có tính
chất phù hợp như một nhiên liệu sử dụng cho động cơ diesel và đặc biệt phù hợp
với nguồn nguyên liệu là dầu cá thì phương pháp được sử dụng ở đây là phương
pháp Este hóa.
Các kĩ thuật thực hiện phản ứng chuyển hóa este tạo biodiesel thường được
tiến hành theo những phương pháp sau:
IV.3.1. Phƣơng pháp khuấy gia nhiệt
Đây là các phương pháp cổ điển. Người ta sử dụng máy khuấy cơ học hay
máy khuấy từ có gia nhiệt để khuấy trộn hỗn hợp, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc
tốt giữa hai pha (rượu và dầu, mỡ) để thực hiện phản ứng trao đổi este. Phương
pháp này dễ thực hiện, nếu xúc tác tốt có thể đạt độ chuyển hóa rất cao, nhưng
đòi hỏi thời gian phản ứng khá dài.
Hình 2. Sơ đồ sản xuất Biodiesel bằng phƣơng pháp khuấy gia nhiệt
IV.3.2. Phƣơng pháp siêu âm
Trong những nghiên cứu gần, phương pháp siêu âm được áp dụng nhiều vì
có ưu điểm là rút ngắn thời gian phản ứng, và độ chuyển hóa của phản ứng
tương đối cao.
Vào năm 2005, nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Thoa đã nghiên cứu tổng
hợp biodiesel từ dầu thải, dầu cọ và dầu ăn thải bằng phương pháp siêu âm, thiết
bị siêu âm dạng bể với tần số song thấp 25, 28, 35, 40, 45 (kHz), kết quả cho
thấy thời gian phản ứng, rửa tách sản phẩm được rút ngắn, phản ứng thực hiện ở
nhiệt độ phòng, sản phẩm có độ tinh khiết cao. Năm 2009, nhóm tiếp tục nghiên
cứu phản ứng este hóa methanol với mỡ cá basa với xúc tác NaOH và KOH, sử
dụng bể siêu âm tầng số 35 kHz, hiệu suất đạt 94% ở điều kiện tỷ lệ mol
methanol: mỡ là 6:1, 1,25% xúc tác KOH (tính theo khối lượng mỡ, công suất

xúc tác 1% thì không thay đổi nhiều so với phương pháp gia nhiệt truyền thống.

Hình 4. Sơ đồ sản xuất Biodiesel bằng phƣơng pháp vi sóng
Thuyết minh quy trình
Dầu nguyên liệu và hổn hợp methanol với xúc tác sẽ chia làm 2 dòng qua
bơm làm tang áp suất rồi đưa vào lò nung, dòng hồn hợp methanol với xúc tác
được gia nhiệt rồi mới đưa vào lò nung. Trong lò nung các phản ứng xảy ra với
nhiệt độ và áp suất được theo dõi thông qua các thiết bị tự động hóa. Sản phẩm
sau khi ra khỏi lò nung sẽ được qua van giảm áp rồi đưa vào thiết bị làm lạnh để
ngưng tụ, thu được sản phẩm Biodiesel. IV.3.4. Phản ứng chuyển hóa este trong môi trƣờng siêu tới hạn
Một trong những nghiên cứu về biodiesel trong thời gian gần đây là tập
trung vào phương pháp điều chế không xúc tác trong môi trường alcol siêu tới
hạn.
Đối với phản ứng trao đổi este thông thường, người ta phải giải quyết hai
vấn đề là thời gian phản ứng và quá trình tinh chế sản phẩm (loại xúc tác và loại
xà phòng ra khỏi sản phẩm). Với phương pháp siêu tới hạn không xúc tác,
những vấn đề trên không xảy ra.
Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay vẫn sử dụng phương pháp cổ điển là trao đổi
este sử dụng xúc tác và khuấy trốn có gia nhiệt, các phương pháp khác chưa
thích hợp sử dụng ở Việt Nam do công nghệ phức tạp và rất đắt tiền.

Hình 5. Sơ đồ sản xuất Biodiesel bằng phƣơng pháp siêu tới hạn
Thuyết minh quy trình
Hổn hợp dầu và methanol đi qua bơm cao áp rồi vào lò nung, tại đây các

phản ứng.
- Độ chuyển
hóa tương
đối cao.
- Sản phẩm
có độ tinh
khiết cao.
- Độ chuyển
hóa cao.
- Thời gian
phản ứng
ngắn.
- Hiệu suất
tương đối
cao.
- Không cần xúc
tác nhưng vẫn
có thể thực hiện
được.
- Ngoài ra nó có
thể khuếch tán,
hòa tan vào mọi
môi trường.
Nhược
điểm
- - Đòi hỏi thời
gian phản ứng
khá cao.
- Phương pháp
này khó áp

3
Công nghệ
Trao đổi este sử dụng xúc tác và khuấy
trộn có gia nhiệt
Năng suất

10 m
3
nguyên liệu/ngày
Tỷ lệ ancol:dầu

6:1
T đầu vào

25
o
C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status