HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ XUÂN TẠO
XUẤT KHẨU GẠO Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG TRONG ĐIỀU KIỆN
VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 62 31 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. TS NGUYỄN QUỐC DŨNG
2. GS, TS CHU VĂN CẤP
NĂM, 2014
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lúa/gạo được xác định là cây lương thực thứ hai sau lúa mì trên thế giới,
Nam nhìn chung là thấp hơn của Thái Lan. Bên cạnh đó, lợi ích của người
nông dân sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu không được đảm bảo, thường bị
thua thiệt, nông dân sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu còn nghèo… Điều đó
khiến cho hiệu quả XKG của Việt Nam còn thấp, thiếu tính bền vững. Mặt
khác, trong những năm gần đây, tình hình sản xuất gạo trong nước có nhiều
khó khăn vì thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, do bị ảnh hưởng nặng nề
của biến đổi khí hậu, đặc biệt là khu vực ĐBSCL, nước biển xâm nhập sâu
do hạn hán, bão, lũ, thiên tai ngày càng nhiều. Tình hình đó tác động không
nhỏ đến hoạt động XKG của ĐBSCL. Vì thế, việc nghiên cứu để tìm ra
phương hướng, biện pháp nhằm đẩy mạnh XKG của ĐBSCL cũng như của
Việt Nam sau khi Việt Nam là thành viên của WTO là hết sức cần thiết và
có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn
vấn đề: "Xuất khẩu gạo ở Đồng bằng Sông Cửu Long trong điều kiện Việt
Nam là thành viên của WTO" làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về xuất khẩu hàng hóa
(XKHH) nói chung, XKG nói riêng, luận án đánh giá thực trạng hoạt động
XKG của ĐBSCL trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO. Từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh XKG ở vùng này trong giai đoạn mới
của hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) giai đoạn 2014 - 2020.
2.2. Nhiệm vụ
(1) Trình bày các vấn đề lý luận về xuất khẩu gạo trong điều kiện thực
hiện các cam kết khi gia nhập WTO.
3
(2) Phân tích những thuận lợi và khó khăn; thời cơ và thách thức đối
với XKG khi Việt Nam gia nhập WTO.
(3) Đánh giá tình hình XKG của ĐBSCL từ 2007 - 2013. Chỉ rõ những
thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế.
(4) Trình bày bối cảnh mới ảnh hưởng đến đẩy mạnh XKG ở ĐBSCL,
học thực sự duy vật biện chứng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể là:
- Phân tích và tổng hợp
- Kết hợp chặt chẽ giữa lôgích với lịch sử.
- Diễn dịch và quy nạp
- Phương pháp thống kê, so sánh. Mô tả bằng các bảng, biểu, sơ đồ
- Tổng kết thực tiễn
- Thu thập xử lý thông tin: Nguồn số liệu sử dụng trong luận án chủ yếu
là nguồn số liệu thứ cấp: số liệu của Tổng cụ thống kê và Cục thống kê các
tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL; số liệu của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông
thôn và các bộ khác liên quan; số liệu điều tra khảo sát của các Viện nghiên
cứu, các tổ chức nghiên cứu có liên quan và các kết quả nghiên cứu đã công bố
tại các cuộc hội thảo, các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
5. Những đóng góp mới của luận án
+ Về mặt lý luận:
. Luận án xây dựng các tiêu chí đẩy mạnh XKG và các nhân tố cơ bản ảnh
hưởng đến hoạt động XKG trong điều kiện thực hiện các cam kết khi Việt Nam
gia nhập WTO.
. Luận án chỉ rõ những đặc điểm của XKG, đó là: (i) gạo là mặt hàng
mang tính chính trị, ngoại giao, nhân văn và có tính cạnh tranh cao, do đó cần
có sự điều tiết của Nhà nước trong hoạt động XKG; (ii) XKG có đặc điểm
riêng: mang tính thời vụ, thường tập trung vào mùa khô, nên các dịch vụ vận
5
tải, bốc xếp cũng gia tăng vào thời điểm này; (iii) đặc điểm của thị trường gạo
thế giới: mang “tính thời vụ”, buôn bán giữa các chính phủ là phương thức chủ
yếu, chủ thể xuất khẩu và nhập khẩu gạo không ổn định; trên thị trường, chủng
loại gạo phong phú, đa dạng và có sự khác biệt về thị hiếu ở mỗi nước.
+ Về mặt thực tiễn:
. Luận án đánh giá thực trạng XKG ở ĐBSCL một cách toàn diện, sát với
thực tế, trung thực làm cơ sở cho việc tìm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gạo
trong thời gian 2014-2020.
của các nhân tố đầu vào của sản xuất tốt hơn. Quan niệm này được các nhà
kinh tế học cổ điển đưa ra từ cuối thế kỷ XVIII. Adam Smith (1723-1790) –
Nhà kinh tế học cổ điển, người Scotland đã chỉ ra rằng: “Thương mại quốc tế
mang lại lợi ích cho các quốc gia bắt nguồn từ nguyên tắc phân công lao
động”. Theo ông, các quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm
7
mà họ có lợi thế tuyệt đối, sau đó bán những hàng hóa này sang các nước
khác để đổi lấy các sản phẩm mà ở trong nước họ sản xuất kém hơn. Như vậy,
quá trình sản xuất dựa vào lợi thế tuyệt đối sẽ có lợi cho các nước.
Lợi thế so sánh (Comparative advantage): nếu lợi thế tuyệt đối chỉ sự
khác biệt về giá thành sản xuất hay chi phí thực tế trong việc sản xuất ra một sản
phẩm nào đó, thì khái niệm lợi thế so sánh chỉ sự khác biệt về chi phí cơ hội.
Khái niệm lợi thế so sánh đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong học thuyết
thương mại hiện đại. Một bên (quốc gia, khu vực, cá nhân) được coi là có lợi thế
so sánh hơn bên kia trong việc sản xuất một sản phẩm, nếu họ có thể sản xuất
sản phẩm đó với chi phí cơ hội thấp hơn. Người đầu tiên đưa ra khái niệm lợi thế
so sánh là Robert Toens vào năm 1815 trong bài viết về trao đổi ngũ cốc giữa
Anh và Ba Lan. Ông rút ra kết luận, người Anh vẫn có lợi khi XKHH sang Ba
Lan để đổi lấy ngũ cốc, cho dù họ có thể sản xuất ngũ cốc với chi phí thấp hơn
Ba Lan. Tuy vậy, người đóng góp lớn nhất cho lý thuyết lợi thế so sánh chính là
David Ricardo (1772-1823) - Nhà kinh tế học cổ điển người Anh [56, tr.17-23].
Có nhiều cách tiếp cận lợi thế so sánh. Một số học giả tiếp cận dưới góc
độ nguồn lực, theo đó lợi thế so sánh có được là nhờ ưu thế của các nguồn
lực, như chi phí lao động rẻ, hoặc dựa vào sự dồi dào tài nguyên. Với lợi thế
này, có thể đạt được chi phí sản xuất thấp hơn đối thủ cạnh tranh để giành ưu
thế trong cạnh tranh. Theo Cao Duy Hạ, trong Tạp chí Tuyên giáo điện tử,
tháng 5/2010 thì: lợi thế so sánh là những điều kiện và khả năng thuận lợi
(hoặc khó khăn) của một quốc gia này so với quốc gia khác trong việc sản
xuất cùng loại sản phẩm hàng hóa hay kinh doanh, dịch vụ thương mại trong
những thời điểm nhất định, nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất cho mỗi quốc gia.
các ngành hoặc hầu hết các ngành. Các quốc gia chỉ có thể thành công trên
thương trường quốc tế khi họ có LTCT.
9
Từ các quan niệm về các loại lợi thế, có thể hiểu lợi thế là một phạm trù
kinh tế dùng để chỉ những điều kiện thuận lợi tạo ra những ưu thế của một
vùng, tiểu vùng hay của một ngành, doanh nghiệp cụ thể trong việc sản xuất
và tiêu thụ hàng hóa trên thị trường để thu được lợi ích cao hơn đối thủ cạnh
tranh [58, tr.22].
1.1.1.2. Các lý thuyết cơ bản về lợi thế trong thương mại quốc tế
Một là, lý thuyết lợi thế của trường phải Cổ điển và Tân cổ điển [1]
Đó là:
- Lý thuyết về lợi thế của A.Smith (1723-1790)
- Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo (1772 - 1823)
- Lý thuyết giải thích nguồn gốc thương mại quốc tế thông qua sự khác
biệt về tỷ lệ các yếu tố (lao động và vốn), gọi tắt là mô hình Hecksher - Ohlin
Hai là, các lý thuyết lợi thế hiện đại
(1) Lý thuyết về lợi thế của P.A. Samuelson
Khác với D.Ricardo, P.A.Samuelson giả định nền kinh tế không chỉ có
1 nguồn lực duy nhất, mà có nhiều nguồn lực. Trong đó, có nguồn lực chỉ sử
dụng trong một ngành (tức là có tính “chuyên nghiệp”) và có nguồn lực được
sử dụng trong nhiều ngành (có tính linh động). Theo ông, cầu lao động và
mức sử dụng lao động phụ thuộc vào giá tương đối của hàng hóa. Do có sự
khác biệt về giá tương đối của hàng hóa đã tạo ra động cơ chuyển dịch nguồn
lực một các linh động giữa các ngành và do đó, làm thay đổi khả năng cung
ứng sản phẩm của nền kinh tế đó [52].
Từ đó, P.A.Samuelson cho rằng, tỷ lệ sử dụng các yếu tố chuyên biệt
trong các ngành của các quốc gia khác nhau đã tạo ra sự cung tương đối của
từng quốc gia cũng sẽ khác nhau. Do vậy mà tạo ra sự chênh lệch tương đối
của giá cả và đây là lợi thế thu được từ TMQT [52].
“Mô hình Samuelson” đã khắc phục được một số hạn chế của “Mô hình
tương tự nhau. Ví dụ, Mỹ và Châu Âu cùng có lợi thế tương đối về vốn và
công nghệ, nhưng Mỹ vẫn xuất khẩu xe ô tô Ford và nhập khẩu xe BMW từ
Châu Âu. Sự ưa thích tính đa dạng nhãn hiệu của người tiêu dùng cũng nảy
sinh ra lợi thế cho phép hãng xe hơi Ford và BMW đều sản xuất ra 1 loại sản
phẩm mà vẫn có lợi thế nhờ những nhãn hiệu của mình.
Lý thuyết TMQT mới của P.Krugman đã trở thành lý thuyết chính của
TMQT bổ sung cho lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo và Heckscher –
Ohlin. Trên cơ sở nội dung cơ bản của các lý thuyết này, các nhà kinh tế học
đã mở rộng và phát triển lý thuyết về lợi thế so sánh.
1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến sự tác động của hội nhập kinh
tế quốc tế đến hoạt động xuất khẩu
Từ cam kết và thực hiện cam kết trong quá trình thực hiện Hiệp định về
nông nghiệp của WTO, có thể nhận thấy sự tác động của việc gia nhập WTO
đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản nước ta như sau:
- Đảm bảo cho hàng nông nghiệp Việt Nam có thị trường rộng mở vàổn định.
Việc chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa đã chứng minh tầm
quan trọng quyết định của nhân tố thị trường tiêu thụ. Trước đổi mới, Việt Nam
đã có xuất khẩu nông sản sang các nước khối Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)
nhưng với khối lượng ít và không thực sự vận hành theo cơ chế thị trường.
Trong những năm đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến việc mở
rộng thị trường xuất khẩu nông sản một cách tòan diện, đặc biệt là từ khi Việt
Nam là thành viên của WTO thì thị trường tiêu thụ hàng nông sản của Việt Nam
nói chung và mặt hàng gạo nói riêng ngày càng được mở rộng hơn.
- Hạn chế tình trạng phân biệt đối xử trong thương mại nông sản.
Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên
khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu
tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có
điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp. Khi đã vào WTO
12
thì hàng hóa nông sản của Việt Nam sẽ ít bị o ép so với trước khi vào WTO.
nhập WTO.
Những vấn đề nêu trên được đề cập đến trong các công trình khoa học,
dưới đây:
1. Nguyễn Từ (2010), Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với
phát triển nông nghiệp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. PGS, TS Bùi Tất Thắng (2006), WTO thường thức, Nxb Từ điển
Bách khoa, Hà Nội.
3. PGS, TS Ngô Quang Minh - TS Bùi Văn Huyền (Đồng chủ biên,
2008), Kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr.135-180.
Ở đây, các tác giả những cuốn sách đã đề cập đến các cam kết chủ yếu
trong lĩnh vực nông nghiệp khi gia nhập WTO: cắt giảm trợ cấp, mở cửa thị
trường nông sản.
Các tác giả cũng đã đề cập đến những tác động trong việc thực thi Hiệp
định về nông nghiệp của WTO: Đảm bảo cho hàng nông sản Việt Nam có thị
trường ổn định; hạn chế tình trạng phân biệt đối xử trong thương mại nông
sản; thúc đẩy nâng cao giá trị hàng nông sản; tăng giá trị nông sản trên thế
giới tác động đến kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt Nam, tác động đến an
ninh lương thực.
Các tác giả cũng đã đề cập đến 3 tác động tiêu cực và các tác động tích
cực của việc gia nhập WTO đối với nông nghiệp Việt Nam.
4. Nguyễn Văn Thanh (2007), Thành viên WTO thứ 150 - Bài học từ
các nước đi trước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14
5. Trần Hoa Phượng (2006), Tác động của việc gia nhập WTO đến nền
nông nghiệp Việt Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh.
6. Chu Tiến Quang (2011), Nông nghiệp Việt Nam sau 4 năm thực hiện
cam kết WTO, Tạp chí Cộng sản, số 824 (6-2011).
7. Bùi Xuân Lưu (2004): Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong
Nam trong điều kiện HNKTQT mà thực chất và chủ yếu là tự do hóa thương
mại và đầu tư.
Một số công trình khoa học đã nghiên cứu về cơ chế, chính sách xuất
nhập khẩu của Việt Nam (trong đó có chính sách, cơ chế xuất nhập khẩu hàng
nông sản Việt Nam). Vai trò của Nhà nước ta đối với hoạt động xuất khẩu nói
chung, xuất khẩu hàng nông sản chủ lực nói riêng, như: tạo lập môi trường
pháp lý thuận lợi và công bằng, môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch
và thông thoáng; chính sách hỗ trợ và khuyến khích xuất khẩu, như: chính
sách hỗ trợ và khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu có giá
trị gia tăng cao, quĩ hỗ trợ khuyến khích xuất khẩu về tài chính – tín dụng
thông qua các công cụ, biện pháp kinh tế; thuế xuất khẩu, quĩ hỗ trợ xuất
khẩu, quĩ bảo hiểm xuất khẩu, quĩ hỗ trợ xúc tiến thương mại… Nhà nước đổi
mới cơ chế quản lý, điều hành hoạt động xuất, nhập khẩu…
Có thể nêu ra những công trình nghiên cứu có tính chất tiêu biểu như sau:
(1) PTS Nguyễn Đình Long - PTS Nguyễn Văn Mạnh - Nguyễn Võ
Định (1999), Phát huy lợi thế nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản
xuất khẩu Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Các tác giả đã đề cập nhiều
nội dung khác nhau liên quan đến vấn đề lợi thế của nông sản xuất khẩu Việt
Nam như: Một số vấn đề lý luận và sự vận dụng vào phân tích lợi thế của Việt
16
Nam. Trong đó, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của sự vận
dụng lý thuyết lợi thế so sánh. Vấn đề lợi thế cạnh tranh là nội dung chủ yếu
của cuốn sách trong đó những vấn đề được các tác giả làm rõ: Khái niệm, đặc
điểm và chỉ tiêu về lợi thế cạnh tranh đối với hàng nông sản xuất khẩu, biểu
hiện trên các nội dung: chất lượng sản phẩm, khối lượng sản phẩm, kiểu dáng
mẫu mã, uy tín của sản phẩm, môi trường kinh tế vĩ mô và giá thành sản
phẩm. Từ đó, phân tích lợi thế và khả năng cạnh tranh của một số nông sản
xuất khẩu chủ yếu là: lúa gạo, cà phê, cao su, chè, điều và kiến nghị một số
giải pháp nhằm phát huy lợi thế của nông sản xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên
kết quả nghiên cứu mới dừng lại ở năm 1999 [42].
(4) Trung tâm TMQT và Cục Xúc tiến thương mại Việt Nam (2005)
Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam. Báo cáo nghiên cứu đánh giá
tiềm năng xuất khẩu của 40 ngành hàng tại Việt Nam, báo cáo gồm các sản
phẩm thủy sản, nông sản, sản phẩm công nghiệp Báo cáo phân tích chuyên
sâu về nhiều ngành hàng riêng biệt trong đó có đánh giá điểm mạnh, yếu, cơ
hội và thách thức, xác định những lĩnh vực chính cần có sự can thiệp và
những chính sách liên quan đến xúc tiến phát triển xuất khẩu trong tương lai.
Báo cáo đồng thời cũng xác định những thị trường mục tiêu có khả năng thâm
nhập nhằm đa dạng hóa thị trường cho từng ngành hàng [87].
(5) PGS, TS Võ Văn Đức (2004), Phát huy lợi thế so sánh để đẩy
mạnh tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong điều kiện hiện nay, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tác giả tập trung phân tích các lợi thế của Việt
Nam và đề xuất những giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam. Đề
cập đến vấn đề này, trước hết tác giả hệ thống hóa các lý thuyết về lợi thế
so sánh như lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lý thuyết H-O và một số lý thuyết
TMQT hiện đại phân tích những lợi thế của Việt Nam trong xuất khẩu
bao gồm: lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên, nguồn lao động, và bất lợi
18
thế, thách thức của Việt Nam trong hoạt động xuất nhập khẩu. Những kết
quả của hoạt động xuất nhập khẩu và những giải pháp thúc đẩy hoạt động
xuất nhập khẩu của Việt Nam [24].
(6) GS, TS Chu Văn Cấp (CB, 2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
Tác giả cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề: (i) Khái niệm cạnh tranh,
sức cạnh tranh, cạnh tranh kinh tế quốc tế; (ii) Sự cần thiết phải nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình HNKTQT; (iii) Đánh giá thực trạng
sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam, các ngành hàng công nghiệp,
nông nghiệp và dịch vụ của nền kinh tế, trong đó có khả năng cạnh tranh của
mặt hàng gạo XK [13, tr.123-130] với nội dung: khái quát về tình hình mậu
của Việt Nam
Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án tiến sĩ kinh
tế nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất và XKG ở Việt Nam,
vùng ĐBSCL, dưới góc độ khác nhau. Điển hình là các công trình dưới đây:
(1) Phạm Văn Bính (2007), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20
năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [5].
Tác giả đã đề cập đến những thành tựu của Việt Nam về XKG như là
một trong những thành quả quan trọng của phát triển nông nghiệp, nông thôn
trong 20 năm đổi mới, đồng thời chỉ ra những thuận lợi, khó khăn của phát
triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó có vấn đề sản xuất và XKG.
(2) Lê Quang Phi (2007), Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [55].
Tác giả đã phân tích nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn và những biện pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh quá trình
20
này trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có vấn đề hội nhập các thị
trường nông nghiệp nói chung, thị trường gạo quốc tế nói riêng.
(3) Phan Sĩ Mẫn, Chính sách và giải pháp đối với sản xuất lúa gạo của
hộ nông dân, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 7 (386) tháng 7, năm 2010 [46].
Bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh sản xuất lúa gạo của
hộ nông dân Viêt Nam. Đó là những kiến nghị tiếp tục đổi mới cơ chế chính
sách và giải pháp về đất đai, chính sách tín dụng và đầu tư cho sản xuất lúa
gạo, giải pháp thị trường (nội địa và quốc tế), phát triển các ngành công
nghiệp hỗ trợ, các loại hình kinh tế hợp tác và liên kết.
(4) Nguyễn Văn Luật và Nguyễn Đức Lộc, Hoạt động sản xuất lúa gạo
hàng hóa hướng vào lợi ích của nông dân, Tạp chí Khoa học phát triển nông
nghiệp và nông thôn Việt Nam số 1, tháng 6 năm 2012 [43].
Trong bài viết này, các tác giả đề cập đến một số vấn đề trong chuỗi giá
trị lúa gạo Việt Nam, các tác nhân tham gia sản xuất kinh doanh lúa gạo, lưu
thông phân phối trong hoạt động XKG.
. Tác giả nêu ra dự báo về sản xuất lúa gạo và XKG cho thời kỳ 2007-
2010. Đồng thời nêu ra những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy XKG: (1) Hoàn
thiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp theo hướng đất nào cây ấy, lấy giá
trị thu nhập/1 đơn vị diện tích làm mục tiêu; (2) Phát triển sản xuất lúa theo
hướng bền vững; (3) Ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học công nghệ mới vào
sản xuất lúa; (4) Đổi mới phương thức tiêu dùng lương thực trong dân cư; (5)
Tạo nhiều việc làm mới ở nông thôn; (6) Hình thành tập đoàn XKG, mở rộng
thị trường XKG theo hướng lâu dài, bền vững bằng cách tăng sức cạnh tranh
của gạo Việt Nam cả về chất lượng và giá cả.
(9) ThS Phạm Huyền Diệu (2012), Đổi mới và hoàn thiện thể chế phát
triển thị trường lúa gạo nhằm thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2011-
22
2020 (Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp bộ, do Viện
Kinh tế Việt Nam là cơ quan chủ trì; ThS Phạm Huyền Diệu làm chủ nhiệm
đề tài) [21]. Kết quả nghiên cứu của đề tài:
- Tổng quan thị trường gạo thế giới và vị thế của ngành gạo Việt Nam.
- Vấn đề thể chế trong phân tích thị trường lúa gạo.
- Thể chế XKG của Việt Nam và những vấn đề đặt ra cho việc nâng cao
hiệu quả XKG.
- Quan điểm, định hướng và đề xuất giải pháp đổi mới thể chế XKG
trong bối cảnh phát triển mới 2010-2020.
Đây cũng là tài liệu tham khảo rất hữu ích cho tác giả luận án. Tác giả
luận án sẽ tham khảo, chọn lọc kết quả nghiên cứu này để phục vụ cho việc
viết luận án của mình.
(10) ThS Võ Khắc Huy (2014) Nâng cao sức cạnh tranh và giá trị xuất
khẩu gạo của các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long [38].
Bài viết đã đi sâu phân tích:
- Nghịch lý tồn tại từ lâu là sản lượng gạo XK hàng năm thì tăng liên tục,
nhưng giá trị kim ngạch đem về lại không cao. Nguyên nhân là vì gạo được WTO
xếp vào sản phẩm mang tính hái lượm, nên không có giá trị gia tăng cao và
điều kiện HNKTQT mà chủ yếu là tự do hóa thương mại và đầu tư.
Bốn là, một số công trình khoa học đã nghiên cứu cơ chế, chính sách
xuất nhập khẩu của Việt Nam (trong đó có cơ chế, chính sách xuất khẩu
hàng nông sản Việt Nam). Vai trò của Nhà nước đối với hoạt động xuất
khẩu nói chung, xuất khẩu nông sản nói riêng trong quá trình HNKTQT.
Một số nghiên cứu đã đánh giá thực trạng hoạt động XKG của Việt Nam -
của ĐBSCL dưới góc độ phát triển bền vững. Cũng có nhiều nghiên cứu đã
đề cập đến các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu nông sản hàng
hóa của Việt Nam nói chung và XKG nói riêng.
Tác giả luận án sẽ nghiên cứu, chọn lựa kế thừa các kết quả nghiên cứu này
trong quá trình thực hiện luận án của mình.
24
1.2.2. “Khoảng trống” về lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên
cứu trong luận án
. Về mặt lý luận: cho đến nay còn ít công trình nghiên cứu, luận giải có
tính hệ thống về lý luận XKG dưới góc độ phát triển bền vững. Lý luận về
XK gạo trong hội nhập kinh tế nói chung, trong điều kiện thực hiện các cam
kết khi gia nhập WTO nói riêng dưới góc độ khoa học kinh tế chính trị.
. Về mặt thực tiễn: Mặc dù đã có một số công trình đánh giá thực trạng
xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam trong HNKTQT, song vẫn còn ít công trình
nghiên cứu, đánh giá tình hình và thực trạng XKG ở vùng ĐBSCL trong điều
kiện Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, trong điều kiện
gia nhập WTO. Cũng còn ít công trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp (tầm
vĩ mô và vi mô) nhằm thúc đẩy XK gạo có hiệu quả.
Vì thế, đề tài luận án của tác giả “Xuất khẩu gạo ở ĐBSCL trong điều
kiện Việt Nam là thành viên của WTO” dưới góc độ khoa học kinh tế chính
trị, mã số 62 31 01 01, là có phần mới mẻ, cần thiết, không trùng lặp với các
công trình khoa học đã công bố và có ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng.
Luận án hướng vào việc nghiên cứu tình hình XKG ở ĐBSCL trong điều
kiện Việt Nam gia nhập WTO theo các tiêu chí cụ thể, và nghiên cứu đề xuất các