động thái một số chỉ tiêu sinh li – hóa sinh theo tiến trình phát triển của quả dưa chuột (cucumis sativus l.) tại sóc sơn – hà nội - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dưa chuột còn gọi là "dưa leo", Tên khoa học là cucumis sativus L.,
thuộc họ bầu bí (cucubitaceae), vỏ xanh, có hột nhưng ăn được. Dưa chuột
có xuất xứ từ Ấn Độ, được trồng ở nước ta đã hàng ngàn năm nay[16].
Dưa chuột là cây ưa ẩm, kém chịu hạn nhưng cũng không chịu được úng,
ưa đất thịt nhẹ, đất cát pha, giàu chất hữu cơ và tơi xốp, độ pH thích hợp từ
5, 5-6, 5. Cỏc vựng cú khí hậu ấm áp, nhiệt độ trung bình tháng từ 18 - 30
0
C
đều có thể trồng dưa chuột [16].
Tuy không có mùi vị nhiều nhưng dưa chuột xứng đáng là nhà vô
địch rau quả với hàm lượng khoáng chất cao. Trong đó đặc biệt nhất là kali
(300mg/100g) có tác dụng giúp thận hoạt động tốt hơn và hạn chế stress.
Ngoài ra dưa chuột còn chứa tới 96%-98% nước, và thành phần dinh dưỡng
rất phong phú: 0, 8% protein, 3% cacbohydrat, 12mg % can xi, 56mg% P, 0,
63mg % sắt, mangan, iot. Ngoài ra dưa chuột còn chứa hầu hết các loại
vitamin như: B
1
, B
3
, B
5
, B
6
, vitamin C 5mg%. PP 0, 1mg% vitamin A 0,
30mg%, và E dù chỉ là một lượng không đáng kể. Những vitamin này góp
phần làm giảm lượng đường, và tham gia vào quá trình tạo enzyme, quỏ
trình hấp thụ chất sắt của cơ thể [34].
Kết quả nghiên cứu dược lý còn cho thấy: ở gần cuống và trong vỏ
dưa chuột, có một loại hoạt chất vị đắng (Cucurbitacina) có tác dụng ức chế

nhất. Để bổ sung kiến thức về mặt này của quả dưa chuột, chúng tôi
quyết định thực hiện đề tài: “ Động thái một số chỉ tiêu sinh li – hóa sinh
theo tiến trình phát triển của quả dưa chuột (Cucumis sativus L.) tại Sóc
Sơn – Hà Nội”
2. Mục đích của đề tài
2
- Theo dõi động thái sinh trưởng của quả dưa chuột trồng tại Sóc Sơn –
Hà Nội từ lúc hình thành đến khi quả chín.
- Định tính và định lượng thành phần dinh dưỡng trong thịt quả qua các
pha sinh trưởng phát triển từ đó rút ra quy luật chuyển hóa sinh lý, hóa sinh
các chất dinh dưỡng từ khi quả non đến khi quả chín.
- Xác định phẩm chất của quả dưa chuột và thời gian chín sinh lí thực
sự của quả.
Đề tài của chúng tôi cũng mong muốn giúp người nông dân hiểu rõ hơn
về giá trị của quả dưa chuột và tiến trình sinh trưởng phát triển của quả dưa
chuột để có biện pháp chăm sóc cây phù hợp nhằm đạt năng suất cao, ổn
định; đề xuất thời điểm thu hoạch phù hợp với việc bảo quản, đảm bảo có giá
trị dinh dưỡng và giá trị thương phẩm cao nhất sau thu hái.

3
NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh học của cõy dưa chuột
1.1.1 Nguồn gốc phân loại
* Nguồn gốc:
Cõy dưa chuột có nguồn gốc từ Ấn Độ (Nam Á) cách đõy khoảng 3000
năm. Từ Ấn Độ nó được mang đến Italia, Hy Lạp và mói về sau nó mới
được đưa đến Trung Quốc. Dưa chuột có mặt ở Chõu Âu là từ Italia, Pháp từ
những năm đầu của thế kỷ IX; ở Bắc Mỹ từ giữa thế kỷ XVI [16].

chính xác hoàn toàn, khi sử dụng bản này thường gặp nhiều khó khăn.
Trên cơ sở nghiên cứu sự tiến hóa sinh thái của loài C. Sativus, Filov A
(1940)[21] đã đưa ra bảng phân loại chính xác hơn: bảng phân loại này tuy
dựa trên quan điểm hình thái thực vật nhưng tương đối thuận lợi khi sử dụng
trong công tác nghiên cứu giống [21].
Theo bảng này, dạng hoang dại được đưa vào nhóm phụ Ssp Agrostis
Gab. Cũn các dạng khác là dạng trồng trọt và tập trung vào 6 loài phụ mang
đặc trưng sinh thái rõ rệt:
1. Ssp. Europoae – Americanus Fil - Loại phụ Âu - Mỹ có diện tích phổ
biến nhất.
2. Ssp. Occidentall – asisticus Fil – Loài phụ Tây Á, phổ biến ở Trung
và Tiểu Á: Iran, Apganixtan, Azecbaizan. Loại này có tính chịu hạn cao.
5
3. Ssp. Chinensis Fil – Loài phụ Trung Quốc, trồng nhiều trong nhà
kính của Châu Âu, dạng quả ngắn thụ phấn nhờ côn trùng và quả dài không
qua thụ phấn.
4. Ssp. Indico – Japomcus Fil – Loài phụ Nhật Ấn, loài phụ này phổ
biến ở vùng cận nhiệt có lượng mưa lớn. Các giống dưa chuột Việt Nam
thuộc nhóm này.
5. Ssp. Himalaicus Fil – nhóm phụ Hymalayas.
6. Ssp. Helmaphroditus Fil – nhúm cõy lưỡng tính.
Ngoài ra còn có nhiều quan điểm phân loại khác như: dựa vào đặc điểm
sinh trưởng, phương thức sử dụng
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Theo từ điển Bách khoa Nông nghiệp [22], ở Việt Nam, dưa chuột còn
có tên là dưa leo, cây hàng năm, thõn lỏ cú lụng. Thân nhiều cành, có góc
cạnh. Quả tròn dài, màu lục nhạt hay vàng, mặt ngoài nhẵn hay có những u
lồi ình gai. Ở Nam Bộ thường phân biệt 3 chủng: dưa chuột quả nhỏ (35
ngày có quả), dưa leo xanh (quả dài 10 – 15 cm, 50 ngày có quả, dưa bà ca
(50 ngày có quả, dài 15 – 30 cm, da xanh nhạt). Một số chủng nhập nội

Hoa dưa chuột thường có bốn đến năm đài, bốn đến năm cánh hợp,
đuờng kính 2-3cm, màu sắc hoa tuỳ giống nhưng thường gặp là màu vàng.
Hoa đực có bốn đến năm nhị đực hợp nhau (hoặc ba nhi đực hợp nhau), hoa
cái bầu thường có 3-4 noón nỳm nhuỵ hoặc hợp, hoa lưỡng tớnh cú cả nhị
và nhuỵ. Hoa dưa chuột thụ phấn nhờ côn trùng (ong mật) trừ những hoa
lưỡng tính. Dưa chuột không thể giao phấn với dưa thơm (C.melon). Hoa
7
lưỡng tính ít gặp ở dưa chuột. Hầu hết các giống hiện hành là cây đơn tính
cái (gynoecious), hầu như toàn hoa cái (chỉ khoảng 5% là hoa đực)
Nhìn chung hoa đực ra sớm hơn hoa cái, hoa cái xuất hiện sau và thông
thường một nách lá chỉ có một hoa .Tuy nhiờn sự ra hoa cái và hoa đực phụ
thuộc vào giống, nhiệt độ, cường độ chiếu sáng vv
1.1.2.5 Quả và hạt
Quả dưa chuột là loại quả giả hay “pepo”. Hình dạng quả và kích
thước, màu sắc quả phụ thuộc vào giống. Quả non được bao phủ bởi một lớp
lông dầy giống như bộ phận khác của cây, khi đỏm lụng này mất đi sẽ làm
cho quả chỗ đó bị cong lại.
Quả non dang hình trứng, thon, hình trụ, elip trứng. Phân bố gai ở ba
dạng: đơn giản - lông (hoặc gai) nằm trực tiếp trên bề mặt quả; phức tạp-gai
nằm trên trục nhỏ phát sinh từ quả; hỗn hợp cả hai rạng trên.
Màu sắc gai quả có thể là trắng, đen hoặc nõu sỏng.
Bề mặt quả có thể nhăn nhẹ, nhăn sâu nhẵn phẳng hoặc nhẵn hỏi gợn.
Khi quả cũn xanh mầu sắc vỏ quả có màu xanh đậm bề mặt vỏ qủa có
vết. Khi chín vỏ qủa có màu vàng xám, vết rạn trên quả không có rãnh.
Hình dạng quả là hình trụ. Chiều dài cuống quả từ 1 - 2cm. kích thuớc
quả trung bình 11 - 20cm. Hình cắt ngang quả có hình tròn.
Quả dưa chuột có ba múi hạt đính vào giỏ noón. Hạt dưa chuột hỡnh ụ
van màu vàng nhạt.
1.1.3 Đặc điểm sinh thái
1.1.3.1. Nhiệt độ

trưởng và phát dục là 10 – 12 giờ/ ngày. Nắng nhiều có tác dụng tới hiệu suất
quang hợp, làm tăng năng suất, chất lượng quả, rút ngắn thời gian lớn của quả.
Cường độ ánh sáng thích hợp cho dưa chuột trong phạm vi 15 – 17 klux.
1.1.3.3. Độ ẩm đất và không khí
Dưa chuột là cõy kộm chịu hạn và chịu úng. Độ ẩm đất thích hợp cho
dưa chuột 85 – 95 %, không khí 90 – 95 %.
Khi đất khô hạn, hạt mọc chậm, sinh trưởng thân và lỏ kém, đồng thời
trong cõy tớch luỹ chất Cucurbitacina gây đắng quả.Khi thiếu nước nghiêm
trọng sẽ xuất hiện quả dị hình, quả đắng, cây nhiễm bệnh virus. Thời kỳ ra
hoa tạo quả yêu cầu lượng nước cao xấp xỉ 80%. Thời kỳ thõn lỏ sinh
trưởng mạnh đến ra hoa cái đầu tiờn cõy cần độ ẩm đất 70 – 80%, thời kỳ ra
quả rộ và quả phát triển yờu cõự độ ẩm đất lớn hơn 80 – 90%.
1.1.3.4. Dinh dưỡng khoáng
Là cõy cú nguồn gốc ở cỏc vựng đất ẩm ven rừng nhiệt đới nên dưa
chuột đã thích nghi với điều kiện dinh dưỡng đầy đủ. Do có bộ rễ kém phát
triển, sức hấp thụ của rễ lại yếu nên dưa chuột có yêu cầu nghiêm ngặt về
9
đất hơn các cây trồng trong họ. Đất trồng thích hợp là đất có thành phần cơ
giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ, độ pH thích hợp là 5, 5 – 6, 5.
Về hiệu quả sử dụng khoáng: dưa chuột sử dụng Kali lớn nhất sau đó
đến Đạm và ít nhất là Lân. Trạm nghiên cứu Ucraina cho biết nếu phân bón
60 kg N: 60 kg K
2
O: 60 kg P
2
O
5
thì dưa chuột sử dụng 92% N, 33% P
2
O

Gluxit (%) 3
Protein (g) 0, 8
Chất béo (g) 0, 1
Caroten (mg%) 0, 3
Vitamin B
1 (
mg%) 0, 03
Vitamin B
2 (
mg%) 0, 02
Vitamin C (mg%) 5
Vitamin PP (mg%) 0, 1
Ca (mg%) 12
Fe (mg%) 0, 63
P (mg%)
56
Dưa chuột cũn có tác dụng giải khát, lọc mỏu, hoà tan axit uric, các
muối của axit uric (urat), lợi tiểu và gõy ngủ nhẹ. Dưa chuột thường được
dùng trong các trường hợp như sốt nhẹ, nhiễm độc, đau bụng và kích thích
ruột, thống phong, tạng khớp, sỏi bệnh trực khuẩn E.coli. Dưa chuột cũng
được dùng đắp ngoài trị ngứa, nấm ngoài da, dùng trong mỹ phẩm làm kem
bôi mặt, thuốc giữ ẩm cho da. Do có hàm lượng kali cao nên dưa chuột rất
cần cho người bị bệnh tim mạch vì nó sẽ đẩy mạnh quá trình đào thải nước
và muối ăn ra khỏi cơ thể[16].
1.2.2. Giá trị kinh tế
Theo Trần Khắc Thi và cộng sự [16], dưa chuột là một trong những loại
rau ăn quả có giá trị kinh tế rất cao trong nghành sản xuất rau của nhiều
nước trên thế giới (là cõy đứng thứ tư trên thế giới, là cõy rau ăn quả chủ lực
có thời gian sinh trưởng ngắn lại cho năng suất cao).
Ở Việt Nam, năng suất dưa chuột trung bình hiện mới đạt xấp xỉ 90 %

đõy diện tích tăng trung bình khoảng 3, 7%/năm. Diện tích năm 2004 so với
năm 1991 đã tăng gấp hơn 2 lần (1991: 1.135.036 ha; 2004:2.427.436) [16].
Bảng 2: Sản xuất dưa chuột toàn thế giới (1991 – 2004)
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
1991 1.135.036 155, 8 17.694.722
1992 1.176.874 158, 1 18.612.354
1993 1.283.796 162, 2 20.820.591
1994 1.368.539 162, 4 22.234.163
1995 1.433.582 167, 5 24.018.751
1996 1.498.381 170, 5 25.558.851
1997 1.593.434 168, 0 26.784.203
1998 1.721.570 163, 0 28.067.863
1999 1.836.672 162, 8 29.899.717
2000 1.955.052 170, 0 33.239.835
2001 1.953.445 179, 3 35.397.195
2002 2.011.462 180, 9 35.397.195
2003 2.377.888 158, 1 37.607.067
2004 2.427.436 168, 3 40.860.985
Nguồn: FAO statistical data base. 1992, 1993, 1994, 1995, 1996, 1997,
1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2000 [28].
Sản lượng dưa chuột năm 2004 đạt 40.860.985 tấn tăng hơn 2, 3 lần so
với năm 1991 (17.694.722). Tuy nhiên sản lượng tăng chủ yếu do tăng diện
tích, năng suất tăng rất ít và không ổn định trong 10 năm qua. Một trong các
nguyên nhân là do kỹ thuật canh tác chưa được cải thiện nhiều.
Trung Quốc là nước sản xuất dưa chuột lớn nhất thế giới, với sản lượng
tăng từ 13.353.765 tấn (1996) lên 25.558.000 tấn (2004), sản lượng chiếm
gần 63 % tổng sản lượng toàn thế giới.
Ở Hà Lan, dưa chuột là một trong 3 loại rau chính trồng trong nhà kính
có hiệu quả kinh tế cao (sau cà chua và ớt ngọt) mặc dù điện tích thấp (700 –
800 ha) nhưng năng suất lại cao (600 – 650 tấn / ha).

khẩu
Tổng
1994 5, 6 1, 2 5, 2 12, 0 120, 0 60, 0 180, 0
1995 7, 5 1, 1 6, 4 15, 0 130, 0 80, 0 210, 0
1996 11, 0 1, 2 7, 8 20, 0 170, 0 150, 5 320, 5
1997 12, 5 1, 3 8, 3 22, 0 170, 0 168, 0 338.0
1998 14, 0 1, 3 9, 7 25, 0 210, 0 190, 0 400, 0
1999 13, 0 1, 2 10, 8 25, 0 230, 0 150, 0 380, 0
2000 15, 0 1, 2 10, 8 26, 5 260, 0 170, 0 430, 0
2001 16, 3 1, 4 9, 7 27, 0 250, 0 187, 0 437, 0
2002 15, 8 1, 0 10, 4 27, 2 252, 0 198.0 450, 0
2003 16, 0 1, 3 10, 5 27, 8 250, 0 190, 0 440, 0
2004 16, 4 1, 0 10, 5 27, 9 230, 0 210, 0 440, 0
1.3.3. Các giống dưa chuột được trồng ở Việt Nam
Nghiên cứu chọn tạo giống dưa chuột ở nước ta bắt đầu từ những năm
70 của thế kỷ trước thông qua việc khảo nghiệm các giống nước ngoài để
xác định giống thích ứng trồng trong điều kiện Việt Nam.
Kết quả các nghiên cứu này tại trại Giống rau Hồng Phong (Hải Phòng)
của công ty giống Rau quả Trung ương đã xác định 2 giống F
1
là T.K và T.O
của Nhật Bản có nhiều ưu điểm đề nghị sản xuất ở miền Băc Việt Nam để
xuất khẩu dưới dạng muối mặn.[16, 19, 20]
Tại Viện Cây Lương thực và cây Thực phẩm đã chọn được giống dưa
chuột số 27 quả dài, năng suất cao, chịu bệnh sương mai để trồng trong vụ
xuân tại đồng bằng sông Hồng. Bằng phương pháp lai hữu tính, GS.VS. Vũ
Tuyên Hoàng và CS đã tạo ra giống dưa chuột ưu thế lai F
1
Sao Xanh (từ cặp
lai DL 15 ì CP 1583) có thời gian sinh trưởng 85 – 90 ngày, cây có sức sống

ngoài. Các giống phổ biến ở phớa Nam do các công ty trên tạo ra là: CuC23,
16
CuC29, CuC134 (công ty Cổ phần giống cõy trồng miền Nam), Mỹ xanh,
F
1
702, F
1
124 (công ty Đông Tõy), Xuõn Yến, Quần Yến, Cẩm Mỹ, Thái
Lộc (công ty Hữu Nông). Tuy nhiên do tớnh chất cạnh tranh nên các nghiên
cứu chọn tạo giống ít được công bố.
17
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Cõy dưa chuột (Cucumis sativus L.) được trồng tại Tõn Dõn, Sóc Sơn,
Hà Nội có một số đặc điểm chớnh sau:
- Thõn thuộc loại thõn leo bò thõn mảnh, nhỏ. Thõn phõn thành các
đốt, mỗi đốt mang một lá đặc biệt có thể mang hai lá. Trên thõn có cạnh và
lông cứng sau khi hình thành 2 - 3 lá cành cấp một và tu quấn bắt đầu xuất
hiện.
- Lá gồm có hai lá mầm và lá thật, hai lá mầm mọc đối sứng qua trục
thõn. Lá mầm hình trứng.Lá thật có năm cánh, chia thuỳ nhọn hoặc có dạng
chõn vịt; có dạng lá trũn, trên lá có lông cứng, ngắn.
- Hoa dưa chuột thường gặp là màu vàng, mọc thành chùm hoặc đơn ở
nách lá. Hoa dưa chuột thụ phấn nhờ côn trùng (ong mật) trừ những hoa
lưỡng tớnh.
Nhìn chung hoa đực ra sớm hơn hoa cái, hoa cái xuất hiện sau và thông
thường một nách lá chỉ có một hoa.
- là loại quả giả hay “pepo”, hình trụ. Chiều dài cuống quả từ 1-2cm.
kích thuớc quả 11-20cm.Quả non được bao phủ bởi một lớp lông dày, dạng

2.3.1. Phương pháp nghiên cứu thời điểm phát triển hoa
Dựa trên kinh nghiệm của người làm vườn, tôi theo dõi thời điểm phát
sinh mầm hoa, ngày ra hoa, ngày nở hoa để tính thời gian. Quan sát hình thái
của hoa bằng kính lúp và bằng mắt thường. Với mỗi thời điểm phát triển hoa
đều chụp hình.
2.3.2.Phương pháp nghiên cứu quả
2.3.2.1. Phương pháp thu mẫu
19
Mẫu được thu theo phương pháp lấy mẫu hỗn hợp [14]. Trên toàn diện
tích vườn, chúng tôi thu mẫu tại nhiều địa điểm, trên nhiều cây, cỏc cây này
đều tương đối khỏe mạnh, không hoặc ít bị sâu bệnh, phân bố đều, cùng độ
tuổi và điều kiện chăm sóc. Sau khi thu mẫu, mẫu được trộn đều.
Khi quả được hai ngày tuổi, chúng tôi tiến hành đánh dấu trên hàng loạt
cỏc cõy thí nghiệm và ghi chép lại ngày tháng. Mỗi thời điểm quan sát chúng
tôi thu mẫu ở tất cả cỏc cõy mỗi cây lấy từ 5-10 quả.
Mẫu quả, qua các giai đoạn được thu về và trộn đều cho vào túi nilon
đen ghi nhãn: Tuổi, ngày lấy mẫu.
Các mẫu được thu vào buổi sáng sau đó bảo quản lạnh và chuyển về
phòng thí nghiệm. Một phần mẫu được bảo quản ở nhiệt độ -80
0
C, phần khác
được xấy khô để giữ được phẩm chất ban đầu của quả.
Các chỉ tiêu sắc tố, axit hữu cơ, vitamin C, enzim được ưu tiên phân tích
trước. Các chỉ tiêu số lượng (kích thước, trọng lượng, thể tích) được cân đo
lặp lại 20-30 lần. các chỉ tiêu còn lại được nhắc lại 3 lần/đợt.
2.3.2.2. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu sinh lớ- hoỏ sinh
- Phương pháp xác định chiều dài và đường kính quả:
Chiều dài và đường kính quả được đo bằng kẹp palme với độ chính xác
0, 1mm.
Mỗi chỉ tiêu đo từ 30-50 quả.

Khối lượng cựi tươi
%Cùi = X 100 %
Khối lượng quả tươi
% Hạt = 100% - (% Vỏ + % Cùi)
- Xác định sắc tố trong vỏ quả [13]:
+ Hàm lượng sắc tố được xác định bằng phương pháp quang phổ theo
công thức Wettstein:
Ca (mg/l) = 9, 784 . E 662 – 0, 990 . E 644
Cb (mg/l) = 21, 426 . E 644 – 4, 650 . E 662
Ca + b (mg/l) = 5, 134 . E 662 + 20, 436 . E 644
+ Nồng độ carotenoit được tính bằng công thức:
C
car (mg/l)
= 4, 695 . E 440, 5 – 0, 268 . Ca + b
Sau đó tính lượng sắc tố trên 1g vỏ tươi theo công thức:
21
C . V
A =
P . 1000
Trong đó:
A: Hàm lượng sắc tố trong 1 g vỏ tươi (mg/g)
C: Nồng độ sắc tố (mg/l)
V: Thể tích của dịch chiết sắc tố (ml)
P: Trọng lượng mẫu (g)
- Định lượng đường khử theo phương pháp Bertrand:[3]
+ Nguyên tắc: Dựa vào phản ứng oxi- húa khử giữa đường khử với ion
kim loại để xác định hàm lượng các mono và một số di – xacarit có trong
nguyên liệu.
Trong môi trường kiềm, đường khử Cu
2+

0, 1N
Từ g
1
tra bảng, tính được khối lượng đường khử (mg) trong dung dịch
mẫu phân tích (V
p
), đổi thành gam (g
2
).
Hàm lượng đường khử có trong nguyên liệu:
g
2
. V . 100
X (%) =
V
p
. g
Trong đó:
V: Số ml dung dịch mẫu pha loãng.
22
V
p
: Số ml dung dịch mẫu đem phân tích.
g: Số g mẫu đem phân tích
- Định lượng tinh bột theo phương pháp thủy phõn bằng axit:[14]
+ Nguyên tắc:
Dưới tác dụng của axit, tinh bột thủy phân tạo thành đường glucose.
Định lượng đường glucose tạo thành rồi nhõn với hệ số 0, 9 ta được hàm
lượng tinh bột có trong nguyên liệu.
+ Hàm lượng tinh bột:

23
p: Lượng mẫu phân tích (g)
V
1
: Tổng thể tích dịch chiết (ml)
V
2
: Thể tích đem chuẩn độ (ml)
a: Lượng NaOH 0, 1 N (ml)
- Định lượng vitamin C theo phương pháp chuẩn độ:[3]
+ Nguyên tắc: Dựa vào tính chất khử của axit ascorbic đối với chất màu
để định lượng vitamin C trong nguyên liệu.
+ Cụng thức tính:
V
c
. V . 0, 00088 . 100
X =
V
f
. g
Trong đó:
X: Hàm lượng vitamin C có trong nguyên liệu (%)
V
c
: Số ml dung dịch I
2
0, 01 N chuẩn độ
V
f
: Số ml dịch mẫu đem phân tích

4
0, 01 N để chuẩn độ BO
-
2
(ml)
V: Số ml dịch mẫu pha loãng
V
c:
Số ml dịch mẫu đem cất đạm
G: Số mg nguyên liệu vô cơ hóa
24
0, 142: Số mg N tương đương với 1 ml H
2
SO
4
0, 01 N chuẩn độ.
% protein = % N protein . 5, 95
%N protein = % N tổng số - % N phiphotein
- Định lượng lipit theo phương pháp Soxlet: [3]
+ Nguyên tắc: Dựa vào tính chất hòa tan của của lipit trong dung môi
hữu cơ (ete) để chiết rút lipit ra khỏi nguyên liệu.
+ Cụng thức tính:
G
m
- G
c
X (%) chất kh ô = . 100
G
Trong đó:
X: Hàm lượng lipit có trong nguyên liệu ở độ khô tuyệt đối.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status