Nghiên cứu ảnh hưởng của CuSO4 tới một số chỉ tiêu sinh hóa, sinh lý, năng suất và khả năng chịu hạn của cây súp lơ xanh marathon F1 trồng tại thái nguyên - Pdf 97


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Phạm Thị Thu Huyền
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯƠNG CỦA CuSO
4

TỚI MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HOÁ, NĂNG SUẤT
VÀ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN CỦA CÂY SÚP LƠ XANH
MARATHON F
1
TRỒNG TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60 42 30
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2008

Vào hồi giờ ngày tháng năm 2008 Có thể tìm hiểu luận văn tại
Thư viện Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước, nền nông nghiệp Việt Nam trong
những năm gần đây đã có những thành tựu đáng kể. Đời sống của người lao động
ngày càng được cải hiện nhờ áp dụng các biện pháp thâm canh, tăng vụ và bón phân
phù hợp làm cho năng suất, sản lượng cây trồng tăng mạnh.
Rau là nguồn thực phẩm cần thiết và quan trọng, trong rau có đầy đủ các chất
dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người như: Khoáng, đường, đạm, vitamin ...
Trong đó, nguồn vitamin đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ sức
khoẻ con người. Ngoài ra trong rau còn chứa một lượng khoáng đáng kể như: Ca,
Fe, Mg, P... có nhiều tác dụng trong việc bồi bổ sức khoẻ, chống thiếu máu, tăng
sức dẻo dai và kháng bệnh rất tốt.
Hiện nay vấn đề rau sạch - an toàn đang là vấn đề được người tiêu dùng hết
sức quan tâm, vì nó liên quan đến sức khỏe cộng đồng khi sử dụng nguồn thực
phẩm này. Song vấn đề năng suất và chất lượng, đồng thời với giá thành sản phẩm

suất của cây súp lơ xanh Marathon F
1
.
- Nghiên cứu tác dụng của các nồng độ dung dịch CuSO
4
tới thành phần sinh
hoá của cây súp lơ xanh Marathon F
1
.
- Nghiên cứu tác dụng của các nồng độ dung dịch CuSO
4
tới khả năng chịu
hạn của cây súp lơ xanh Marathon F
1
.

chín sớm và giống chín muộn. Trong đó, giống chín muộn chiếm đa số trong nhóm
Botrytis [12], [16].
+ Súp lơ Sicalian tía: Có hoa màu tía nhạt được biết đến như Súp lơ tía (thuộc
nhóm Súp lơ trắng - bắp ngù)
+ Cauve Broccolo: Hoa tía cao (kiểu chồi từ Bồ Đào Nha)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
+ Calabrese: Súp lơ chồi xanh vùng Calabua. Đây là dạng được trồng phổ
biến trên thế giới ngày nay, có hoa đạng đơn. Hiện nay có nhiều giống lai trong
nhóm này.
+ Súp lơ đen: Cây hàng năm có chồi xanh thẫm, phân nhánh nhiều, lá có hình
liềm, xuất phát từ vùng Rome [16], [37].
Ở Việt Nam trồng phổ biến hai loại Súp lơ:
+ Súp lơ đơn (hay sớm): Giống này lá dài, nhỏ, trên mặt lá có lớp phấn trắng
mỏng, ngù hoa trắng, gạo nhỏ, mặt mịn mỏng, ăn ngon, nặng từ 1 - 2kg.
+ Súp lơ kép (hay đoạn): trồng vụ chính và muộn, cây lùn, hoa to, nặng từ 1 - 2kg,
màu trắng ngà hay xanh, lá cây mỏng và bầu, hơi nghiêng về một phía, nõn tía [16], [37].
1.1.2. Đặc điểm thực vật học của súp lơ
+ Hệ rễ: Thuộc loại rễ chùm, phân nhánh. Khi bộ lá phát triển phía trên thì hệ
rễ tiếp tục ăn sâu xuống đất, các rễ khác ăn ngang bắt đầu phát triển mạnh hơn, rễ
cọc ăn nông. Khi cây ở giai đoạn thành thục thì hệ rễ ăn sâu 30cm và rộng khoảng
40cm, chịu hạn, chịu nước kém [6], [12].
+ Lá: Súp lơ có bộ lá phát triển, có cuống và mặt phiến lá rộng, có lớp sáp bảo
vệ, lá xẻ thuỳ và chỉ số diện tích lá cao [12].
+ Hoa: Cũng giống như các dạng hoa của họ thập tự, hoa tập trung thành
chùm. Hoa nở đầu tiên ở thân chính, sau đó sang cành cấp I rồi tiếp tục sang cấp II
và cấp III. Hoa nở từ dưới lên vào buổi sáng khoảng 8 - 10 giờ. Hoa thường thụ
phấn nhờ côn trùng [6], [16], [37].
Nhiệt độ thích hợp cho thụ phấn là 12 - 22

C hoa cũng bé, phẩm chất kém [45], [48].
- Ánh sáng: Ở thời kì cây con ưa ánh sáng mạnh, khi bộ lá phát triển đầy đủ thì
yêu cầu ánh sáng giảm đi. Ánh sáng ngày dài làm rút ngắn thời gian sinh trưởng.
Khi ra hoa yêu cầu ánh sáng nhẹ mới đạt năng suất và phẩm chất cao [48].
- Ẩm độ: Súp lơ được bắt nguồn từ Địa Trung Hải có khí hậu ôn hoà và ẩm,
nên Súp lơ là loại ưa ẩm, trong điều kiện ẩm độ đảm bảo thường xuyên 70 - 80%
thì sẽ cho năng suất cao. Còn trong điều kiện độ ẩm không khí thấp, nhiệt độ cao thì
hoa bé chóng già, năng suất thấp. Trái lại nếu độ ẩm không khí cao > 90% kết hợp
nhiệt độ cao hoa dễ thối, dễ bị các bệnh vi khuẩn làm hại bộ rễ [12], [45], [48].
- Đất và dinh dưỡng: Là loại cây không kén đất, có thể trồng trên các loại đất
khác nhau. Thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, nhiều mùn, pH = 6.
Súp lơ cần lượng phân bón lớn hơn các giống cây trong cùng họ thập tự từ 70 - 75%
vì lượng chất dinh dưỡng cần thiết tập trung vào thời kì hình thành hoa, vì thế bón
thúc rất có hiệu quả. Vậy cần phải đảm bảo lượng phân bón sao cho cây có trạng
thái tốt, chống đỡ sâu bệnh và cho năng suất cao. Bón phân hữu cơ rất tốt cho quá
trình sinh trưởng của cây, song do sự phân giải chậm, không đáp ứng nhanh được
yêu cầu của rau trong các thời kì sinh trưởng như phân vô cơ, do đó cần phải bổ
sung một lượng phân vô cơ cần thiết cho cây [12], [33].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
1.1.3. Đặc điểm sinh trƣởng, phát triển của Súp lơ
Sự sinh trưởng và phát triển ở thực vật nói chung được chia làm nhiều giai
đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những dấu hiệu đặc trưng. Đối với súp lơ phải trải
qua 4 thời kỳ quan trọng: Thời kỳ cây con, thời kỳ hồi xanh, thời kỳ trải lá bàng và
thời kỳ hình thành cụm hoa ứng với 4 giai đoạn [1], [40], [45]:
- Giai đoạn 1: Được tính từ lúc hạt nảy mầm đến khi hình thành cây con có 5
đến 6 lá thật đủ tiêu chuẩn đem trồng.
- Giai đoạn 2 (giai đoạn hồi xanh): Tính từ khi trồng đến khi cây bén rễ, hồi xanh.
- Giai đoạn 3 (giai đoạn trải lá bàng): Các lá phần gốc xuất hiện màu vàng

sớm thường 40 - 50 ngày, còn giống súp lơ muộn là 60 - 120 ngày. Sau khi ngù hoa
xuất hiện 15 - 20 ngày thì hoa đạt kích cỡ lớn nhất, chặt, xung quanh có hiện tượng
rão thì thu hoạch.
1.1.4. Thành phần hóa học trong súp lơ
Theo bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam 1972 thì thành phần các chất
trong súp lơ tính trong 100g phần ăn được thể hiện qua bảng 1.1 [32]
Bảng 1.1. Thành phần các chất hóa học trong súp lơ Việt Nam (1972)

Thành phần hóa học (%)
Muối khoáng
(mg)
Vitamin (mg)
Nước
Protein
Gluxit
Xenlulo
Tro
Calo
Ca
P
Fe
Caroten
B
1
B
2
B
5
C
90,9 2,5 4,9 0,9 0,8 30 26 51 1,4 0,05 0,11 0,1 0,6 70

(Mỹ) năm 2002 đã phát hiện ra rằng trong súp lơ xanh và mầm của nó có chứa chất
Sulforaphane tiêu diệt được vi khuẩn Helicobacter Dylori gây bệnh viêm loét dạ
dày và ung thư [43], [46] [47].
Theo những nghiên cứu khác (2004) cho rằng chất Sulforaphane tác động vào
tế bào gan để tạo ra những enzim có khả năng tiêu huỷ những chất hoá học gây ung
thư, ngăn chặt sự sinh trưởng của các tế bào ung thư vú [43], [46].
1.1.5. Tình hình sản xuất và sử dụng rau trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.5.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới
Rau là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao nên
đã được trồng và sử dụng từ lâu đời. Tình hình sản xuất rau trên thế giới hiện nay
cũng có những biến động nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Theo số liệu
thống kê của FAO (2006) diện tích, năng suất và sản lượng rau trên thế giới được
thể hiện qua bảng 1.3 như sau [16], [37].

Bảng 1.3. Tình hình sản xuất rau trên thế giới

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ ha) Sản lƣợng (tấn)
2000 14.827.365 147.255 218.339.574
2001 15.688.889 149.083 233.894.313
2002 15.808.997 147.855 233.744.659
2003 17.214.930 142.301 244.970.446
2004 17.373.273 139.365 247.195.559
2005 17.999.009 138.829 249.879.021
(FAO - 2006)
Qua bảng 1.3 cho thấy tình hình sản xuất rau trên thế giới từ năm 2000 đến
2005 có nhiều biến đổi cả về diện tích và năng suất, sản lượng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Về diện tích: Từ năm 2000 - 2005 diện tích trồng rau trên thế giới đã tăng

Về diện tích: Châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất (14.496.961 ha), Châu Âu
có diện tích trồng rau (1.058.730 ha). Trong các nước thì Trung Quốc là nước có
diện tích trồng rau lớn nhất (8.266.500 ha), ít nhất là Nhật Bản (110.000 ha). Điều
này dễ giải thích là do diện tích lãnh thổ của Trung Quốc đứng thứ 3 trên thế giới,
còn Nhật Bản thì có diện tích lãnh thổ rất nhỏ. Việt Nam có diện tích trồng rau là
525.000 ha đứng thứ 3, sau Trung Quốc và Ấn Độ.
Về năng suất: Châu Ấu là châu lục có năng suất rau cao nhất, đạt 153,765
tạ/ha. Trong các nước thì Nhật Bản có năng suất rau cao nhất đạt 245,455 tạ/ha, tiếp
đến là Trung Quốc, Pháp, và Việt Nam đạt 125,714 tạ/ha.
Về sản lượng: Châu Á có sản lượng rau cao nhất đạt 212.722.318 tấn. Trong
các nước thì Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất 142.010.000 tấn, tiếp đó
là Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đạt 6.600.000 tấn.
1.1.5.2. Tình hình sản xuất và sử dụng súp lơ trên thế giới
Ngay từ thời La Mã người ta đã nhập và trồng rộng rãi các giống súp lơ vùng
đông Địa Trung Hải. Khoảng 400 năm trở lại đây các giống súp lơ đã được gieo
trồng rộng rãi ở khắp nơi từ Italia đến các nước Trung và Bắc Âu. các nước này đã
trở thành trung tâm gieo trồng súp lơ quan trọng và đa dạng đứng thứ hai trên thế
giới. Sau đó các giống súp lơ bắt đầu từ Anh đã thích ứng dần với điều kiện nóng
ẩm của vùng nhiệt đới nên được trồng khá rộng rãi ở Ấn độ vào khoảng 200 năm
nay [12]. Có thể phân biệt một số giống súp lơ theo tên gọi từng vùng địa lí như sau:
+ Các giống súp lơ Italia
+ Các giống súp lơ ngắn ngày ở Bắc Âu.
+ Các giống súp lơ Oxtraylia...
Khoảng 50 năm trở lại đây, các giống súp lơ đã được trồng rộng rãi ở Nhật
Bản và nhiều nước khác trên thế giới. Theo tài liệu của FAO(1981) diện tích trồng
súp lơ trên thế giới là 345 nghìn ha và sản lượng 4555 nghìn tấn [16], [37].
Hiện nay nhờ những thành tựu của khoa học và công nghệ ứng dụng trong cải
tạo giống cây trồng, người ta đã tạo ra những giống súp lơ xanh lai F
1
có năng suất

Việt Nam là nước nhiệt đới thuận lợi cho nhiều loại rau sinh trưởng và phát
triển tạo nguồn rau phong phú và đạt năng suất cao. Song, nghề trồng rau ở nước ta
còn manh mún, chủ yếu tự cấp, tự túc, chủng loại còn nghèo chưa tương xứng với
tiềm năng về đất đai, khí hậu và nguồn lao động dồi dào của dân ta. Do đó, cần có
nhiều biện pháp thiết thực để tăng năng suất và chất lượng cây rau, thúc đẩy nghành
trồng rau của nước ta phát triển hơn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
1.1.5.4. Tình hình sản xuất và sử dụng súp lơ ở Việt Nam
Nước ta có lịch sử trồng rau lâu đời nhưng diện tích và sản lượng quá thấp so
với tiềm năng đất đai, khí hậu và đức tính cần cù của người nông dân Việt Nam.
Nhưng hiện nay đời sống của con người được nâng cao nên nhu cầu sử dụng rau
ngày càng tăng, đặc biệt là nhu cầu sử dụng các loại rau cao cấp, giàu Vitamin. Súp
lơ là loại rau quí, giá trị dinh dưỡng cao, mới được nhập vào nước ta trong những
năm gần đây do vậy chưa phổ biến nhiều và diện tích còn ít. Hàng năm diện tích
trồng súp lơ khoảng 1500 ha [32].
Một số giống súp lơ đang trồng phổ biến ở nước ta hiện nay [28], [32]:
+ Marathon F
1
: là giống súp lơ xanh nhập từ Nhật Bản, giống này chịu được
rét, thích hợp với vụ đông xuân, mặt hoa cao, mịn rất đồng đều, kháng bệnh tốt, dễ
chăm sóc, thời gian sinh trưởng 90 - 95 ngày.
+ Greenmagic F
1
: Cũng nhập từ Nhật Bản, thời gian sinh trưởng 115 ngày,
chịu được nóng tốt, dễ chăm sóc.
+ Topgreen F
1
: là giống súp lơ xanh nhập từ Thái Lan.

khác tập trung trong các cơ quan chứa nhiều vitamin. Co có nhiều trong vitamin
B
12
. B có liên quan đến sinh tổng hợp vitamin C; Mn, Zn, B, Mo, Cu có liên quan
đến sinmh tổng hợp vitamin nhóm B (B
1
, B
2
, B
6
, B
12
) [22], [29].
Các nguyên tố vi lượng có tác dụng sâu sắc và nhiều mặt tới quá trình quang
hợp. Cùng với Fe, các nguyên tố vi lượng như Mn, Cu, B, Co, Mo tác dụng thúc
đẩy quá trình sinh tổng hợp diệp lục, tăng cường mối liên kết giữa sắc tố tối quan
trọng đó với prôtit, do đó làm giảm sự phân giải của nó lúc để cây trong bóng tối
hoặc lúc gặp các điều kiện bất lợi. [29] Sinh tổng hợp clorophin không những cần
có Fe, Mg, mà còn cần tập trung trong lục lạp cả Mn, Cu. Các nguyên tố Co, Cu,
Zn, Mo có ảnh hưởng tốt đến độ bền vững của clorophin. Các nguyên tố Zn, Co có
ảnh hưởng tốt đến sự tổng hợp carotenoit [22], [26], [29].
Ngoài ảnh hưởng đến quá trình tạo thành các sắc tố, nhiều nguyên tố vi lượng
như B, Mn, Cu, Mo... còn tham gia trực tiếp trong các phản ứng quang hợp và ảnh
hưởng rõ rệt đến cường độ quang hợp ngay cả trong trường hợp hàm lượng sắc tố
chưa có gì thay đổi đáng kể [7], [29].
Đối với quá trình hô hấp, các nguyên tố vi lượng có những tác động trực tiếp.
Nhiều nguyên tố, đặc biệt là Mg, Mn là tác nhân hoạt hoá mạnh mẽ các enzim xúc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
[15], . Đáng chú ý là tác dụng thuận lợi của việc xử lý các nguyên tố vi lượng đã
ảnh hưởng rõ rệt ngay trong pha sinh trưởng đầu tiên là nảy mầm. Cu, Mo, Mn, B
làm cho ngô chóng trổ cờ, phun râu và chín hạt một cách rõ rệt. Các nguyên tố B,
Mo, Cu, Mn, Zn có khả năng rút ngắn giai đoạn xuân hoá của lúa, lúa mì, và giai
đoạn ánh sáng của các cây ngày dài, Fe và Co có tác dụng thúc đẩy sự ra hoa của cây
xanthium [26], [29].
Phân vi lượng có tác dụng làm tăng khả năng chịu nóng, chịu lạnh của cây do
sự tăng độ nhớt của keo và ảnh hưởng thuận lợi đến các quá trình trao đổi chất và
năng lượng.[7], [10], [29].
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ảnh hưởng của B, Mn, Al, Zn, Cu, Mo đến việc
tăng khả năng chịu mặn của cây bông, cà chua và nhiều cây khác [29]. Dưới tác
động của nguyên tố vi lượng tính thấm của tế bào đối với Cl giảm xuống và tốc độ
hấp thụ P, K, Ca tăng lên đồng thời quá trình tích luỹ albumin và glôbulin, tinh bột,
đường là những chất có tác dụng tự vệ cũng được xúc tiến thêm. Nguyên nhân này
có thể là do sự tăng cường hoạt động của các emzim ôxy hoá khử [29]. Nghiên cứu
cũng cho thấy các nguyên tố vi lượng có tác dụng làm tăng độ nhớt, lượng chứa keo
ưa nước, lượng nước liên kết và khả năng giữ nước của lá tăng độ bền của liên kết
diệp lục tố với prôtit trong lục lạp[22], [26], [29]. Ngoài ra các nguyên tố vi lượng
còn có tác dụng to lớn làm tăng khả năng chống nhiều loại nấm bệnh (rỉ sắt, đạo ôn,
phytôphtora...) của cây trồng. [29].
Tóm lại, nguyên tố vi lượng có ảnh hưởng tích cực đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây, đến tính chống chịu của cây trước các điều kiện bất lợi của
môi trường ngoài, do các nguyên tố vi lượng đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp
đến toàn bộ quá trình trao đổi chất của cơ thể thực vật.
1.2.2. Ảnh hƣởng của nguyên tố Cu đối với sinh trƣởng, phát triển của cây
Ý nghĩa của Cu đối với cây trồng được phát hiện ra cách đây từ rất lâu. Trong
số các loài cây đòi hỏi Cu một cách mạnh mẽ nhất là các loại ngũ cốc (ngô, kê, các
loại đậu, các loại rau, lanh, gai dầu, củ cải đường và các loại cây ăn quả). Hoà thảo

Bất cứ một loại cây trồng nào cũng cần có nước để duy trì sự sống. Mức độ
cần nhiều hay ít nước phụ thuộc vào từng loại cây trồng và từng giai đoạn phát triển
của chúng. Hạn đối với thực vật là khái niệm dùng để chỉ sự thiếu nước của thực vật
do môi trường gây nên trong suốt cả quá trình hay trong từng giai đoạn, làm ảnh
hưởng đến sinh trưởng và phát triển. Mức độ tổn thương từng giai đoạn làm ảnh
hưởng đến sinh trưởng và phát triển. Mức độ tổn thương của cây trồng do khô hạn
gây ra có nhiều mức khác nhau: chết, chậm phát triển, hoặc phát triển tương đối
bình thường. Những cây trồng có khả năng duy trì sự phát triển và cho năng suất ổn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
định trong điều kiện khô hạn gọi là cây chịu hạn và khả năng của thực vật có thể
giảm thiểu mức độ tổn thương do thiếu nước gây ra gọi là tính chịu hạn.
Tuy nhiên khó có thể xác định được thế nào là một trạng thái hạn đặc trưng vì
mức độ hạn do môi trường gây nên khác nhau theo từng mùa, từng năm, từng khu
vực, vùng địa lí và không thể dự đoán trước được. Mức độ khô hạn là do môi
trường gây nên ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây, nhẹ thì làm giảm
năng suất, nặng thì dẫn đến tình trạng huỷ hoại cây cối và mùa màng [8], [18].
1.3.2. Ảnh hƣởng của hạn đối với thực vật
Nước là yếu tố giới hạn đối với cây trồng, nước vừa là sản phẩm khởi đầu,
trung gian và cuối cùng của các quá trình chuyển hoá sinh hoá, vừa là môi trường
để các phản ứng trao đổi chất xảy ra, vì vậy, việc cung cấp đủ nước cho cây trồng
canh tác và hướng nghiên cứu tăng cường tính chịu hạn của cây trồng là mục tiêu
tạo giống thường xuyên được quan tâm[18], [21].
Mức độ thiếu hụt nước càng lớn thì ảnh hưởng càng lớn đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây: Thiếu hụt nước nhẹ thì giảm tốc độ sinh trưởng, thiếu
hụt nước trầm trọng sẽ dẫn đến biến đổi hệ keo nguyên sinh chất làm tăng cường
quá trình già hoá tế bào. Khi bị khô kiệt nước, nguyên sinh chất bị đứt vỡ cơ học
dẫn đến tế bào, mô bị tổn thương và chết [17].
Đối với cây trồng nói riêng và thực vật nói chung, hạn ảnh hưởng mạnh nhất

1.3.4. Cơ chế chịu hạn
Theo Musell và Staples, Paleg và Aspinall, Tumer và Kramer có hai cơ chế
bảo vệ thực vật tồn tại trên môi trường thiếu nước, đó là cơ chế tránh mất nước và
cơ chế chịu mất nước. Cơ chế tránh mất nước phụ thuộc vào khả năng thích nghi
đặc biệt về cấu trúc và hình thái của rễ và chồi nhằm giảm tối đa sự mất nước hoặc
tự điều chỉnh áp suất thẩm thấu nội bào thông qua tích luỹ các chất hoà tan, các
protêin và axit amin. Ví dụ: Prolin, Mannitol, Glicine betaine, ion K
+
, các enzim
phân huỷ gốc tự do... nhằm duy trì lượng nước tối thiểu trong tế bào. Cơ chế chịu
mất nước liên quan tới những thay đổi sinh hoá trong tế bào nhằm sinh tổng hợp ra
các chất bảo vệ hoặc nhanh chóng bù lại sự thiếu hụt nước [8], [18].
Khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu có mối liên quan trực tiếp tới khả năng
cạnh tranh nước của tế bào rễ cây đối với đất. Trong điều kiện hạn áp suất thẩm
thấu tăng lên giúp tế bào rễ thu nhận được những phần tử nước ít ỏi còn trong đất.
Bằng cơ chế này, thực vật có thể vượt qua được tình trạng khô hạn cục bộ [8].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Có nhiều nghiên cứu tập trung tìm hiểu cơ chế sinh hoá của tính chịu hạn
(Ingam, Kramer, Levitt). Trong đó, không ít nghiên cứu đề cập đến vai trò của axit
Abscisic (ABA) và Prolin (Chandlez và cs; Verma) [8].
Nhìn chung, khi tế bào bị mất nước dần dần, chất hoà tan sẽ được tích luỹ dần
dần trong tế bào chất, nhằm chống lại việc giảm tiềm năng nước và tăng khả năng
giữ nước của chất nguyên sinh. Các chất hoà tan có liên quan bao gồm: các loại
đường, các axit hữu cơ, các loại axit amin; các loại rượu đa chức hay các ion ( chủ
yếu là ion K
+
). Hầu hết các chất hoà tan hữu cơ có tác dụng điều chỉnh áp suất thẩm
thấu được sinh ra ngay trong quá trình đồng hoá và trao đổi chất. Quá trình phân

trồng nông nghiệp Thái Nguyên cung cấp.

Bảng 2.1. Đặc điểm nông sinh học của giống súp lơ xanh Marathon F
1

Thời vụ
Mật độ
Khoảng cách
Thời gian sinh trưởng
Khối lượng một cây
Năng suất

Từ tháng 10,11 đến tháng 12
21.000 - 23000 cây/ha
40 x 50 cm
90 ngày
1,5 - 2,5 kg/cây
15 - 20 tấn
- Yếu tố tác động thí nghiệm: đồng sunfat (CuSO
4
).
2.2. ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM
- Thời gian: Từ tháng 11/2006 đến tháng 12/2007
- Địa điểm: Trên đất chuyên màu thuộc cánh đồng rau Đồng Bẩm, huyện Đồng
Hỷ, Thái Nguyên.
- Các chỉ tiêu sinh hóa, nông hóa, thổ nhưỡng, tiến hành tại các phòng Thí
nghiệm - Khoa Sinh - Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và Trung tâm

Công thức IV: 0,125%
Liều lượng phun: 50ml/m
2

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp tuần tự bậc thang. Đối chứng 1 2 3 4
3 4 Đối chứng 1 2
1 2 3 4 Đối chứng

Như vậy, chúng tôi sẽ có 15 ô thí nghiệm với tác động riêng rẽ của các nồng
độ CuSO
4
lên cây súp lơ theo 5 công thức nhắc lại 3 lần. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
2.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trƣởng
- Các chỉ tiêu sinh trưởng được chúng tôi tiến hành đo sau trồng 10 ngày (sau
khi đo, tiến hành phun hoá chất ngay). Cứ cách 7 ngày chúng tôi tiến hành đo một
lần: Chiều rộng lá (cm); Chiều dài lá (cm); Số lá / cây. Sau khi cây bắt đầu ra hoa thì
chúng tôi ngừng theo dõi các chỉ tiêu này và bắt đầu tiến hành đo đường kính của hoa
(cũng 7 ngày đo một lần) cho đến khi thu hoạch.
+ Chiều rộng lá: Đo chiều ngang của lá to nhất.
+ Chiều dài lá: Do chiều dài của lá dài nhất (tính từ phần cuống sát với thân
đến mép trên của lá).
+ Số lá / cây: Đếm toàn bộ lá thực có trên mỗi cây.
+ Đường kính hoa: Đo chiều rộng của hoa.

- Cân 2 gam mẫu tươi cho vào cối sứ, thêm vào đó vài giọt nước cất, nghiền kĩ
thành dạng đồng thể. Cho 20ml nước cất vào cối, tiếp tục nghiền để lắng, chắt lấy
phần nước trong sang cốc. Sau đó tiếp tục lặp lại quá trình trên 3 lần, dùng nước cất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
tráng lại chày cối sứ, chuyển dịch chiết sang bình định mức (100 ml), dùng nước cất
dẫn dung dịch đến mức của bình.
Lọc dịch chiết qua phễu lọc có giấy lọc hoặc bông, được dịch chiết để xác định
lượng đường khử trong dung dịch.
- Phản ứng Fehling: Cho vào bình nón 5ml (Vp) dung dịch đã lọc và 20ml
dung dịch Fehling, đun trên bếp điện cho đến khi xuất hiện kết tủa đỏ gạch Cu
2
O
(khoảng 3 phút), để nguội, kết tủa lắng xuống đáy bình.
- Rửa tủa Cu
2
O.
- Hoà tan tủa Cu
2
O bằng dung dịch Fe
2
(SO
4
)
3
.
- Chuẩn độ bằng KMnO
4
0,1N cho đến khi xuất hiện màu hồng bền trong 30

+ Bước 1:
- Pha vitamin C nguyên chất trong HCl 2% (1)
- Lấy 5ml dung dịch (1) đem chuẩn độ bằng dung dịch KIO
3
0,001N cho đến
khi xuất hiện màu xanh bền trong 30 giây ( lượng KIO
3
dùng để chuẩn độ kí hiệu là x)

Trích đoạn Phương pháp đánh giá nhanh khả năng chịu hạn của cây súp lơ giai đoạn mạ đã được xử lý đồng Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến các chỉ tiêu nông sinh học của súp lơ đã được xử lý đồng Ảnh hƣởng của CuSO4 đến hàm lƣợng Vitami nC Ảnh hƣởng của CuSO4 đến hàm lƣợng nitrat (NO 3) Ảnh hƣởng của CuSO4 đến hàm lƣợng chất khô và thuỷ phần
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status