1
đặt vấn đề
Bệnh răng miệng là loại bệnh rất phổ biến ở nước ta còng nh trên thế
giới, tuy bệnh không đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người bệnh nhưng thường
để lại hậu quả xấu về chức năng ăn, phát âm và thẩm mỹ. Mất răng sớm và
trầm trọng còn có thể gây tâm lý hoang mang, lo lắng, làm cho người bệnh
mất tự tin, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống.
Theo điều tra 900 người đại diện cho các vùng miền Việt Nam của
Võ Thế Quang và cộng sự năm 1990: Lứa tuổi 12 có 1,33 % số người mất
răng, lứa tuổi 15 có 7 % số người mất răng, lứa tuổi 35-44 có 47,33 % số
người mất răng. Theo điều tra năm 1999 của Viện Răng Hàm Mặt Quốc Gia
thì tỷ lệ mất răng ở đối tượng người lớn là trên 10%. Theo điều tra của
Nguyễn Đức Thắng (1991) tại các tỉnh phía Bắc, tỷ lệ mất răng ở độ tuổi 35-
44 là 36,67%.
Việc điều trị phục hình cho bệnh nhân mất răng có vai trò rất quan trọng
nhằm phục hồi chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, phát âm, phòng bệnh…Không
những thế, điều trị phục hình còn góp phần cải thiện cơ bản những sai sót về
thẩm mỹ như vẩu, khấp khểnh…cho bệnh nhân.
Điều trị phục hình cho bệnh nhân mất răng từng phần có nhiều phương pháp
nhưng ở những bệnh nhân mất răng loại I và II Kennedy thì làm hàm giả tháo lắp
từng phần thường được áp dụng do tính chất khoảng mất răng; Mặt khác đây là
cách điều trị hợp lý, đơn giản, kinh tế và an toàn. Trong các loại hàm giả từng
phần tháo lắp, hàm khung luôn được các thày thuốc lựa chọn ưu tiên.
Phục hình bằng hàm khung là một phương pháp được áp dụng khá phổ
biến vì nhiều ưu điểm như: tiết kiệm mô răng, lực nhai khỏe hơn hàm giả tháo
lắp nền nhựa, truyền lực nhai sinh lý lên hệ thống răng – vùng quanh răng –
xương, đáp ứng được cho bệnh nhân có tình trạng sức khỏe toàn thân không
2
đủ để can thiệp phẫu thuật…Ở nước ta, hàm khung ngày càng được sử dụng
rộng rãi và thay thế dần hàm nhựa.
Hàm khung là loại phục hình có thành phần chính là một khung sườn
gây sang chấn khớp cắn .
* Toàn thân
- Có thể gây rối loạn hoạt động của khớp thái dương hàm.
- Chức năng ăn nhai giảm, ảnh hưởng đến tiêu hóa.
- Có thể ảnh hưởng đến phát âm, hô hấp.
- Ảnh hưởng tới thẩm mỹ và giao tiếp của bệnh nhân nếu mất các răng
phía trước.
1.1.2.Phân loại mất răng
*Phân loại mất răng theo Kennedy [11]
-Loại I: mất răng sau hai bên không còn răng giới hạn xa.
-Loại II: mất răng sau mét bên không còn răng giới hạn xa.
-Loại III: mất răng sau còn giới hạn xa.
4
-Loại IV: Mất răng vùng cửa.
*Phân loại mất răng của Kennedy được Applegate bổ sung [11]
-Loại I: Mất răng sau hai bên không còn răng giới hạn xa.
-Loại II: mất răng sau mét bờn không còn răng giới hạn xa.
-Loại III: mất răng sau mét bên có giới hạn, nhưng những răng còn lại
không thể gánh được lực nhai tác dụng lên hàm giả.
-Loại IV:Mất nhóm răng trước, đường giữa cắt ngang khoảng mất răng.
-Loại V: Mất răng mét bên có giới hạn, nhưng răng trước kề khoảng
mất răng không thể dùng làm răng trụ được ( ví dụ như răng cửa bên ).
-Loại VI: mất răng mét bên có giới hạn, những răng còn lại có thể gánh
được lực nhai tác dụng lên hàm giả.
Mỗi loại ( trừ loại IV ) có 4 tiểu loại tuỳ theo nó kèm theo một. hai, ba
hay bốn khoảng mất răng phô.
Từ cách phân loại này ta có thể có 3 hướng điều trị
+ Trường hợp mất răng sau không giới hạn, hai bên hay mét bên (loại I,
loại II) thì chúng ta chỉ có thể làm hàm tháo lắp vừa tựa lên răng-nha chu vừa
tựa lờn niờm mạc-xương. Loại I, II với khoảng mất răng phía sau càng rộng
ăn nhai kém và dễ gây tiêu xương…Hiện nay, hàm khung đang dần thay thế
hàm tháo lắp từng phần nền nhựa.
1.2.3. Cấy ghép răng
6
Phương pháp này có thể thay thế một hoặc nhiều răng mất, gần như
không phụ thuộc và không ảnh hưởng tới các răng thật còn lại trên cung hàm.
Tuy nhiên, phương pháp này lại đòi hỏi cao về kỹ thuật, kinh phí và chỉ định
hạn hẹp nên không phải trường hợp nào cũng có thể làm được.
1.2.4. Hàm khung
Hàm khung cải thiện được nhiều nhược điểm của hàm tháo lắp nền
nhựa, đặc biệt là hàm có thể truyền lực nhai một cách sinh lý hơn, hạn chế
tiêu xương sống hàm vùng mất răng, tăng cường chức năng ăn nhai. Mặt
khác, hàm khung cũng có chỉ định rộng rãi hơn cấy ghép răng, phục hồi được
răng mất cho nhiều trường hợp mà cấy ghép răng không thể làm được.
1.3. Phục hình hàm khung
Hàm khung là loại hàm giả tháo lắp từng phần có phần chính là một
khung sườn. Toàn bộ cấu trúc bằng hợp kim của khung ( thanh nối, móc,
yên ) được đúc chung một lần, cùng một khối. Răng giả được gắn vào yên
nhờ nhựa Acrylic. Hàm khung truyền lực lên vùng quanh răng qua răng trụ
hoặc vừa lên răng vừa lên niêm mạc vùng mất răng.
1.3.1. Các thành phần cấu tạo hàm khung
1.3.1.1. Thanh nối chính
Thanh nối chính là thành phần cơ bản của hàm khung, các thành phần khác
được nối trực tiếp hoặc gián tiếp vào thanh nối chính. Thanh nối chính được thiết
kế tùy từng loại mất răng, tình trạng các răng và mô nha chu còn lại.[9]
*Thanh nối chính hàm trên: thường có các dạng:
- Thanh khẩu cái đơn phía sau.
- Thanh khẩu cái kép hay thanh trước sau.
7
- Bản khẩu cái.
*Phần giữ (retention):
Là phần tận cùng của móc có tác dụng giữ hàm giả không bị tuột ra
khỏi ổ đỡ, nằm dưới đường vòng lớn nhất.
Đặc tính:
*Nâng đỡ (support):
Là chức năng chống lại sự lún của phục hình xuống mô mềm khi thực
hiện chức năng, việc nâng đỡ chủ yếu nhờ phần tựa, phần ôm vòng chỉ
đóng vai trò thứ yếu.
*Giữ dính (lưu giữ):
Là khả năng lưu giữ phục hình trong lúc nghỉ hoặc thực hiện chức năng.
Phần giữ cần thiết kế hợp lý để lưu giữ tốt phục hình nhưng không làm
hại răng mang móc.
*Ôm (encirclement):
Móc cần ôm vòng quá nửa chu vi thân răng trụ để giúp hàm vững ổn
và không làm răng trụ di chuyển theo chiều ngang.
9
*Tính chất tĩnh (passivity):
Phần giữ cần có sự đàn hồi tốt để có thể duỗi ra khi vượt qua đường
vòng lớn nhất và co hồi lại trong trạng thái tĩnh, ở vị trí này móc không
được gây ra các lực có hại cho răng mang móc.
*Sự vững ổn (stability):
Các thành phần của móc đều tham gia giúp phục hình vững ổn, chống
lại tác dụng theo chiều ngang của phục hình. Cấu tạo của móc càng ôm
răng trụ nhiều thì tính vững ổn càng cao. Tác dụng vững ổn giảm dần
từ móc vòng đến móc thanh, kém nhất là móc dây tròn.
*Tương hỗ (reciprocation):
Phần lưu giữ của tay móc phải được đối kháng lại bằng một phần khác
của móc hay của hàm giả để vô hiệu hóa các lực nén ngang trên răng
trụ. Cánh tay lưu giữ và cánh tay đối kháng cần tiếp xúc cùng một lúc
trên răng khi tháo lắp hàm giả. Để có được tính chất này đôi khi phải
- Móc kẹp:
11
Được mô tả trong hệ thống móc ROACH, có hình dáng như mũi kẹp
ôm lấy răng cửa và răng nanh. Móc nối với khung bằng thanh nối lưỡi. Móc
được làm khi chỉ còn một hay hai răng vùng cửa.
c. Móc nối với hàm ở phía tiền đình:
Đa số các loại móc này nằm trong hệ thống móc của ROACH.
Nguyên tắc cơ bản của hệ thống móc này là sử dụng triệt để phần lẹm
phía gần và xa. Tay móc chỉ ôm một phần thân răng và được nối với khung
bằng các thanh nối. Các tay móc có hình dạng chữ cái: T, I, Y, hệ thống RPI.
- Móc chữ T và móc chữ Y:
Tay móc chạy chéo qua đường hướng dẫn có dạng chữ T hoặc Y, có
thân nối ở giữa nối với khung ở phía tiền đình. Các móc còn có phần cứng đặt
phía lưỡi để làm đối lực là thanh ngang thân răng và tựa.
- Móc hệ thống RPI (Rest Proximal Plate I Bar Clasps):
Móc RPI là một móc trong hệ thống ROACH được sử dụng rất rộng
rãi tại Mỹ hiện nay. KROL (1973) đã mô tả móc gồm 3 thành phần:
+ Một tựa nằm ở phía gần và được nối với khung ở phía lưỡi (Rest).
+ Một bản mặt bên (Proximal Plate).
+ Một móc chữ I phía ngoài.
1.3.1.6. Vật giữ gián tiếp
Vật giữ gián tiếp là bộ phận của hàm khung chống lại chuyển động
xoay của nền hàm giả quanh trục tưởng tượng nối giữa các tựa ở các răng trụ
sau cùng, đồng thời góp phần nâng đỡ và giữ ổn định cho hàm khung.
1.3.1.7. Nền hàm
Nền hàm là bộ phận trên đó gắn răng giả.
1.3.1.8. Răng giả
12
Răng giả được chọn phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Có thể được
làm bằng nhựa, sứ, kim loại, kim loại cẩn nhựa hoặc sứ, răng ống.
Theo giải phẫu học của một răng: Khi một đường thẳng tưởng tượng
song song với trục răng, tiếp xúc quanh thân răng sẽ xác định một đường
cong. Đó là ĐVLN theo giải phẫu học của răng. Đây là ĐVLN duy nhất theo
giải phẫu học của một răng, phụ thuộc hình dạng thân răng và trục răng.
Đường vòng lớn nhất của một răng theo quan niệm phục hình răng: Khi
hướng tháo lắp đã được xác định, cây chì di chuyển theo chiều dọc (thẳng góc
với mặt phẳng nằm ngang) và mặt bên cây chì tiếp xúc quanh thân răng sẽ xác
định một đường cong. Đó là ĐVLN của răng theo quan niệm phục hình răng.
Ở một hướng tháo lắp đã xác định, trên một răng, chỉ có một ĐVLN
duy nhất theo quan niệm phục hình. Đường này phụ thuộc hình dạng thân
răng và độ nghiêng của trục răng so với mặt phẳng nằm ngang.
ĐVLN có thể lên cao về phía còn răng và xuống thấp về phía mất răng
(ĐVLN số 1) hoặc ngược lại, xuống thấp về phía còn răng và lên cao về phía
mất răng (ĐVLN số 2). Mỗi loại ĐVLN lại có kiểu móc thích hợp. Với
ĐVLN số 1, đầu tận cùng phần giữ của tay móc sẽ nằm về phía còn răng, nh
14
móc Akers, Nally-Martinet Với ĐVLN số 2, đầu tận cùng này sẽ nằm về
phía mất răng, nh móc chữ T, móc kẹp
Trong nghiên cứu này, chúng tôi quan tâm đến răng trụ ở cạnh khoảng
mất răng chính. Do vậy, ĐVLN số 1 sẽ cho vùng lẹm ở phía gần, ĐVLN số 2
sẽ cho vùng lẹm ở phía xa.
Yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến ĐVLN của răng trụ theo quan niệm của
phục hình chính là hướng tháo lắp.
1.3.4. Hướng tháo lắp
Hướng tháo lắp của hàm khung phụ thuộc vào các yếu tố:
1.3.4.1. Mặt phẳng hướng dẫn
Hướng tháo lắp phải chọn sao cho mặt bên các răng cạnh khoảng mất
răng tương đối song song với nhau để tác động như các mặt phẳng hướng dẫn
quá trình tháo và lắp phục hình.
Các mặt phẳng hướng dẫn có thể có sẵn trên các răng trụ nhưng thường
Nếu tựa hướng về phía gần, khi lực nhai tác động thái quá lên răng thì
mô nha chu sẽ phản ứng lại bằng sự tiêu xương phía gần bên trên tâm cản và
phía xa bên dưới điểm này.
Hình vẽ: Tựa mặt lưỡi thường được dùng nhiều hơn tựa rìa cắn đối với
các răng phía trước vì nó gần tâm cản của răng hơn (b) và lực tổng hợp tác
động lên hàm giả qua tựa mặt lưỡi Ýt hơn lên tựa rìa cắn (a).
18
Lực được truyền qua tựa mặt nhai, và nhờ thiết kế của tựa, lực được
truyền xa hơn dọc theo trục của răng trụ. Dây chằng chịu lực nén dọc tốt hơn
lực nén ngang.[25]
-Tựa gót:
Khi lực nhai tác động quá mạnh lên răng thì sẽ làm xoay răng về phía
tiền đình.
1.3.5.1.2. Tác động của móc
Khi lắp và tháo hàm, tay móc băng qua đường vòng lớn nhất sẽ gây ra
mét lực trên răng trụ. Tác động này sẽ được giảm bằng cách thực hiện một tay
cân bằng đối kháng lại lực xoắn gây ra trên răng bởi tay móc dẻo.
19
Vị trí tương ứng của cánh tay đối kháng với cánh tay lưu giữ trong giai
đoạn lắp hàm. Khi đầu tận cùng của cánh tay lưu giữ bị biến dạng thì cánh tay
đối kháng hóa giải lực tác động ngang.
1.3.5.2. Tác động lên mô sợi- niêm mạc
Nếu phục hình thực hiện tốt, các mô sợi- niêm mạc khi chịu lực chức
năng sẽ ở dạng sừng hóa. Các trường hợp kém thuận lợi do lực nhai phân bố
không tốt sẽ làm mất đi lớp sừng hóa. Mô sợi- niêm mạc khi đó sẽ mất đi sự
đàn hồi và trở thành một lớp đệm mềm giữa phục hình và mô xương bên
dưới. Khi đó, mô sợi- niêm mạc sẽ tiếp nhận các kích thích cơ học và chuyển
chuyển chúng xuống bên dưới gây tiêu xương.
1.3.5.3. Tác động lên mô xương nâng đỡ phục hình
Phòng ngõa sự tiêu xương bên dưới phụ thuộc vào hai yếu tố:
trục băng qua các tựa mặt nhai ở phía gần nhất. Trục xoay phía trước càng
được đặt về phía trước thì càng làm giảm lực xoay nói trên. Nhưng điều này
còn phụ thuộc vào thẩm mỹ của phục hình và khả năng chịu lực của các răng
phía trước.
- Đối với mất răng loại Kennedy II: lực nhai có thể gây ra chuyển động
xoay một trục nối các tựa. Khi đú, yờn mở rộng phía sau di chuyển về phía
mô nâng đỡ sẽ tác động lên răng trụ cạnh khoảng mất răng như một đòn bẩy
nếu tựa mặt nhai đặt cạnh yên và nối vào yên ( ví dụ: móc Akers). Chuyển
21
động này có thể được cân bằng bởi một lực kháng lại khi sử dụng vật giữ gián
tiếp.
1.3.7. Cấu tạo móc chữ T và móc Nally – Martinet
Móc đúc gồm các thành phần: phần nâng đỡ, phần ôm, và phần giữ.
1.3.7.1. Cấu tạo móc chữ T
Móc chữ T bao gồm một tay móc bắt nguồn từ yên và đi bắt cầu ngang
qua nướu viền. Phần đứng của chữ T tiếp xúc với mặt ngoài của răng ở phần
giữa và nằm ngang tầm ĐVLN. Từ đây xuất phát hai đầu kéo dài tạo thành
thanh ngang của chữ T. Một đầu đi vào trong vùng lẹm để đảm bảo sự lưu
giữ, còn đầu kia nằm trên ĐVLN và tham gia vào tác động ôm. Móc này còn
có thêm một tựa mặt nhai liên kết trực tiếp với thanh nối và tay móc đối
kháng đi từ tựa và bao quanh mặt lưỡi của răng.
Móc này thường được dùng cho trường hợp mất răng loại I, II
Kennedy. Móc chữ T đặt trên răng có đường vòng lớn nhất đi cao về phía mất
răng và đi thấp ở phía còn răng.
Móc chữ T nhìn từ mặt ngoài, phía lưỡi và mặt nhai.
1.3.7.2. Móc Nally- Martinet
Móc này gồm một tay cứng rắn nối với tựa mặt nhai nằm trên ĐVLN,
ôm khoảng 3/4 chu vi răng trụ. Phía mặt lưỡi, tay này nối với khung bởi một
22
phần nối phụ ở phía gần và nối dài lên với tựa mặt nhai. Sự giữ dính của móc
2
2
1
1
p
p)p(
n
Z
α
ε
−
=
−Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu vừa đủ
p: là tỷ lệ đáp ứng tốt. Chọn p=0,6 theo nghiên cứu của Phạm Lê
Hương.
α: là mức ý nghĩa thống kê; α = 0.5 thì Z
1 -
α
/2
=1,96.
ε: là mức sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu so với tỷ lệ
thực trong quần thể.
Thay vào công thức, ta có n = 33 hàm khung.
24
Mẫu được chia thành hai nhúm cú sử dụng móc T hoặc móc Nally-
Martinet cho răng trụ cạnh khoảng mất răng chính.