ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc sức khoẻ sinh sản là lĩnh vực y tế luôn được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm và giành nhiều ưu tiên trong sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc
sức khoẻ nhân dân [3]. Trong giai đoạn hiện nay, công tác này được tiếp cận
một cách bao quát, rộng lớn hơn thể hiện bằng các chiến lược, chính sách, các
văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe
sinh sản, cụ thể như “Chiến lược Quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001 -
2010”; “Hướng dẫn Chuẩn Quốc gia về các dịch vụ CSSKSS” . . .
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có hơn 585.000 phụ nữ tử vong
do các nguyên nhân sản khoa, 640 triệu phụ nữ ốm yếu do liên quan đến thai
nghén, 64 triệu phụ nữ phải chịu đựng những biến chứng khi sinh, 500 triệu
phụ nữ phải chịu đựng sự thiếu hụt dinh dưỡng. Trong đó 90% trường hợp tử
vong mẹ xảy ra ở Châu Á và Châu Phi, 25-30% số tử vong ở vào độ tuổi sinh
sản ở các nước đang phát triển [1],[22],[41].
Tại các nước đang phát triển, mang thai và sinh đẻ là nguyên nhân
chính dẫn đến tử vong, bệnh tật và tàn phế cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ,
chiếm ít nhất 18% gánh nặng bệnh tật ở nhóm tuổi này - nhiều hơn bất kỳ một
vấn đề sức khoẻ nào khác [34]. Hàng năm có 8 triệu thai nhi và trẻ sơ sinh
chết vào cuối thời kỳ thai nghén, vào lúc lọt lòng và ngay sau khi sinh ít lâu,
nguyên nhân chủ yếu là do sức khỏe của bà mẹ kém hay biến chứng sau sinh.
Tử vong sơ sinh chủ yếu xảy ở các nước đang phát triển, chiếm 96% trẻ sơ
sinh chết hàng năm trên thế giới [22].
Tại Việt Nam tỷ lệ tử vong mẹ toàn quốc là 80/100.000 trẻ đẻ sống vào
năm 2005[5]. Tỷ lệ tử vong mẹ khác nhau ở từng khu vực, ở miền núi và
vựng sõu, vựng xa tỷ lệ tử vong mẹ cao hơn khu vực đồng bằng. Năm 2002,
Vụ Bảo vệ bà mẹ trẻ em ước tính tử vong mẹ ở miền núi và trung du là
269/100.000 và ở đồng bằng là 81/100.000. Về nguyên nhân, 75 - 80% trường
1
hợp tử vong mẹ là do các biến chứng và bệnh nhiễm trùng xảy ra trong quá
trình mang thai [34].
Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế sinh sản là rất khác nhau ở cỏc nhúm đối
các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, các biện pháp kế hoạch hoá gia đình an toàn,
có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho
người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp
vợ chồng cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh” [3].
Thai nghén và sinh đẻ là quá trình sinh lý tự nhiên, đồng thời có nhiều
thay đổi về giải phẫu, tâm sinh lý của người mẹ. Những thay đổi này có thể
xảy ra rất sớm và diễn ra liên tục trong suốt thời kỳ thai nghén để đáp ứng với
nhu cầu sinh lý của người mẹ và sự phát triển của thai nhi.
Trong mỗi lần mang thai và sinh nở, người phụ nữ phải đối mặt với nhiều
nguy cơ liên quan tới những tai biến đột ngột và khó lường trước. Những tai biến
này có thể dẫn tới thương tật thậm chí tử vong cho bà mẹ và thai nhi.
1.1. Chăm sóc trước sinh:
1.1.1. Khái niệm:
Chăm sóc bà mẹ khi có thai còn được gọi là chăm sóc trước sinh. Chăm sóc
trước sinh là những chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai
cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con
khỏe mạnh.
Chăm sóc bà mẹ khi có thai có tầm quan trọng to lớn, vì nếu khám thai đầy
đủ sẽ giảm được tử vong và bệnh tật cho cả mẹ lẫn con [11].
Chǎm sóc chu đáo trong thời kỳ mang thai là đǎng ký quản lý thai và theo dõi
thai từ khi mang thai cho đến khi chuyển dạ và phải khám thai ít nhất là 3 lần để xác
định những nguy cơ, biến chứng của thai nghén; Giáo dục vệ sinh và hiểu biết về
thai nghén [11].
3
Diễn biến sức khỏe của người phụ nữ trong giai đoạn mang thai có ảnh
hưởng sâu sắc đến sự phát triển của thai nhi, của em bé trong giai đoạn sơ
sinh. Ví dụ: tình trạng thiếu máu nặng ở mẹ sẽ dẫn đến trẻ có thể bị ngạt, bị
chết lưu hoặc nhẹ cân; hay điều kiện thiếu vệ sinh khi đẻ rất có thể dẫn đến
việc trẻ sơ sinh bị uốn ván, bị nhiễm khuẩn v.v
1.1.2. Một số nội dung trong chăm sóc trước sinh:
Nhận xét
Khám
thai
T 2 T 3 T 4 T 5 T 6 T 7 T 8 T 9
0 lần Thai hoàn toàn
không được bảo vệ
1 lần x Tác dụng bảo vệ rất
kém
2 lần x x Tác dụng bảo vệ
kém
3 lần x x x Chỉ thích hợp với
thai thường
5 lần x x x x x Chất lượng bảo vệ
thai tăng dần theo số
lần khám thai
10 lần x x x x x x xx
xx
12- 13
lần
xx x x x xx xx xx
xx
5
1.1.2.4.Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ
• Giải thích lợi ích của bú mẹ.
• Hỏi kinh nghiệm nuôi con của bà mẹ.
• Giải thích tầm quan trọng của việc chăm sóc vú và núm vú, xin phép
khám.
• Tạo niềm tin là tất cả bà mẹ đều có thể nuôi con bằng sữa mẹ.
1.1.3. Tình hình chăm sóc trước sinh trên thế giới:
Tỷ lệ phụ nữ có thai khám thai ít nhất 1 lần trên toàn thế giới là 68%,
Hiệp quốc thì 2,9% phụ nữ không khám thai lần nào trước khi sinh; 21,4%
khám thai chưa đủ 3 lần;
Theo nghiên cứu của Hà Anh Thạch tại Bình Định năm 2004 có
96,47% phụ nữ có thai được khám thai; 74,87% số phụ nữ có thai được cán
bộ trạm y tế khám thai; tỷ lệ bà mẹ nuôi con nhỏ dưới 2 tuổi đi khám thai là
97,67%; tỷ lệ khám thai đủ 3 lần là 81,83%; tỷ lệ khám thai tại trạm y tế là
74% [19].
1.1.4.2. Tiêm phòng uốn ván:
Uốn ván sơ sinh là một trong 5 tai biến sản khoa mà chúng ta có thể
phòng chống được nếu trong thời gian mang thai người phụ nữ được tiêm đủ
2 mũi uốn ván (nếu người phụ nữ đã được tiêm phòng uốn ván trong lần
mang thai trước, thì lần mang thai này chỉ cần tiêm một mũi). Đây là một cấu
thành quan trọng của việc chăm sóc thai sản. Dưới đây là số liệu về tình hình
tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai qua 2 lần điều tra nhân khẩu học.
7
Bảng 1.2. Tình hình tiêm phòng uốn ván [18],[19].
Tiêm phòng uốn ván
Nội dung điều tra
Không tiêm Tiêm 1 mũi Tiêm 2 mũi
Kết quả điều tra nhân khẩu học
năm 1997 (n = 1818)
28,3% 16,8% 54,6%
Kết quả điều tra nhân khẩu học
năm 2002 (n = 1321)
14,9% 14,37% 70,5%
Theo báo cáo tổng kết của Vụ Sức khỏe sính sản năm 2003 có 88,45%
thai phụ tiêm phong uốn ván đủ 2 mũi [8]. Một số nghiên cứu trong những
năm gần đây tại các địa phương cho kết quả như sau: Tại Hương Long - Huế
83,3% (2002) [12], tại Chí Linh - Hải Dương 85,4% (2002) [23], tại Tiên Du -
Bắc Ninh 90,5% (2003) [20].
tầng sinh môn cũng phải thao tác đúng qui trình và đảm bảo vô khuẩn mới hy
vọng góp phần hạ bớt tỷ lệ 5 tai biến sản khoa.
Tận tình, kiên nhẫn và tỷ mỷ là những đức tính cần thiết của người
chăm sóc chuyển dạ. Trong quá trình theo dõi chuyển dạ cán bộ y tế cần động
viên, hỗ trợ về tinh thần để giúp cho sản phụ giảm bớt sự lo âu.
1.2.3.Theo dõi - chăm sóc bà mẹ trong 2 giờ đầu sau đẻ
• Sản phụ vẫn nằm ở phòng đẻ.
• Theo dõi mẹ: theo dõi thể trạng, mạch, huyết áp, co hồi tử cung, ra
máu tại các thời điểm 15 phút, 30 phút, 45 phút, 60 phút, 90 phút và
120 phút.
9
1.2.4.Tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ ngay sau đẻ
1.2.4.1.Tư vấn về con nằm chung với mẹ
• Mẹ sẽ chăm sóc con kịp thời hơn.
• Trẻ ớt khúc hơn.
• Thời gian bú mẹ sẽ được lâu hơn.
1.2.4.2.Tư vấn về bú sớm
• Lợi ích của sữa non.
• Không vắt bỏ sữa non, cần cho bú cả sữa non.
• Sữa về sớm hơn.
• Trẻ tăng cân tốt hơn.
• Ít bị cương vú tắc sữa.
1.2.4.3.Cách cho con bú
• Cho con bú ngay sau đẻ, càng sớm càng tốt, muộn nhất không quá 30
phút đầu sau đẻ.
• Cho trẻ nằm thoải mải trên ngực người mẹ, da áp da.
• Cho trẻ bắt vú (dấu hiệu trẻ sẵn sàng là mở miệng, quay về phía vú,
nhìn quanh).
1.2.4.4.Tư thế bỳ đỳng
• Giữ cho đầu và thõn bộ thẳng.
11
viện huyện.
Theo cuộc điều tra về thực trạng tình hình dịch vụ làm mẹ an toàn ở
Việt Nam tháng 7/2003, người đỡ đẻ cho các sản phụ cũng khác nhau ở các
tỉnh khác nhau. Tỷ lệ sản phụ được người cú chuyờn môn đỡ đẻ cao nhất ở
những tỉnh đồng bằng (Hà Tõy, Kiờn Giang) và thấp nhất ở những tỉnh miến
núi (Đắc Lắc) và còn một tỷ lệ khá lớn các bà mẹ sinh con với sự giúp đỡ của
các bà mụ vườn (14,3% ở Đắc Lắc và 13,3% ở Cao Bằng).
Điều tra y tế Quốc gia 2001 - 2002 do Bộ Y tế phối hợp với Tổng cục
Thống kê thì tỷ lệ phụ nữ đẻ tại trạm y tế xã là 29,8% (thành thị 9,7%, nông thôn
35,1%), đẻ tại nhà là 22,5% (thành thị 5,5%, nông thôn 26,9%); Tỷ lệ phụ nữ
được cán bộ y tế trợ giúp khi đẻ là 82,4% (thành thị 96,6%, nông thôn 78,7%).
Báo cáo tổng kết công tác chăm sóc SKSS năm 2005 và phương hướng
năm 2006 của Bộ Y tế tỷ lệ phụ nữ toàn quốc đẻ có cán bộ y tế đỡ là 94,7%
(2004) và 93,26% (2005).
Báo cáo đánh giá cuối kỳ về thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ
CSSKSS tại 11 tỉnh tham gia Chu kỳ Quốc gia 6 UNFPA Việt Nam năm 2005
thì tỷ lệ ca đẻ tại cơ sở y tế Nhà nước là 81,7% (2003) và 88,2%(2005); Tỷ lệ
ca đẻ được nhân viên y tế đỡ là 89,3% (2003) và 93,2% (2005).
Tại Binh Định tỷ lệ phụ nữ đẻ tại trạm y tế là 15,33%; tỷ lệ bà mẹ nuôi
con nhỏ dưới 2 tuổi đẻ tại các cơ sở y tế là 93,25%; tỷ lệ bà mẹ nuôi con nhỏ
dưới 2 tuổi đẻ tại trạm y tế xã là 15,58%; Còn 6,75% bà mẹ đẻ tại nhà; Tỷ lệ
bà mẹ đẻ được NVYT đỡ là 95,58%.
Báo cáo rà soát các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam giai
đoạn 2000-2005 của Quỹ dân số Liên Hiệp quốc thì hầu hết các phụ nữ tử
vong ở trong giai đoạn sau sinh hơn 4/5 (80-83%) là chết ngay trong ngày đầu
tiên sau đẻ. Số còn lại chủ yếu chết trong tuần lễ đầu tiên [6], [8]. Các nghiên
12
cứu đều thống nhất rằng khoảng 80% phụ nữ Việt Nam sinh tại các cơ sở y tế
hay tại nhà với người đỡ được đào tạo [9], [13], [17], [18]. Tỷ lệ sinh tại nhà
• Vận động nhẹ sau 6 giờ.
• Giúp và khuyến khích cho con bú sớm.
• Hướng dẫn người mẹ cách chăm sóc con, theo dõi chảy máu rốn.
• Yêu cầu bà mẹ và người nhà gọi ngay nhân viên y tế khi bộ khụng bỳ,
khụng thở, tím tái, chảy máu rốn.
• Yêu cầu gọi ngay nhân viên y tế khi sản phụ chảy máu nhiều, đau
bụng tăng, nhức đầu chóng mặt hoặc có bất cứ vấn đề gỡ khỏc.
• Theo dõi từ giờ thứ 7
• Theo dõi mẹ: thể trạng, co hồi tử cung (rắn-trũn), băng vệ sinh (kiểm
tra lượng máu mất).
• Theo dõi con: thở (nếu khó thở, đếm nhịp thở), da (nếu lạnh, đo thân
nhiệt, rốn (có chảy máu không), bú mẹ (đã bú mẹ chưa).
1.3.3. Chế độ ăn uống và sử dụng thuốc
• Uống nhiều nước.
• Ăn đủ chất và tăng bữa.
• Giải thích về những thức ăn và những yếu tố có ảnh hưởng đến số
lượng và chất lượng sữa (kể cả các thuốc)
14
• Sử dụng bất kỳ thuốc gì phải có ý kiến của thầy thuốc.
1.3.4.Cho con bú trong những ngày đầu
• Giải thích những thay đổi về vú trong những ngày đầu.
• Không hạn chế số lần bú.
• Bú theo nhu cầu.
• Bú hết sữa một bên vú mới chuyển sang bên kia.
• Không dứt vú khi bé chưa muốn thụi bỳ.
• Giải thích cho bà mẹ hiểu tại sao không cho uống thêm nước hoặc
thức ăn khác.
• Không dùng núm vú giả.
• Nếu đầu vú cương đau hoặc trẻ khó bắt vú giai đoạn đầu thì phải giải
thích, động viên mẹ cho bú.
Có bệnh lý khác
Nếu bình
thường
Ðiều trị thiếu
máu
Ðiều trị nhiễm
khuẩn
Chuyển tuyến.
Thảo luận và
hướng dẫn thực
hiện một biện
pháp KHHGÐ.
Ghi phiếu theo
dõi.
15
Ðã giao hợp lại
chưa?
Các nhu cầu về
KHHGÐ.
1.3.6. Tình hình chăm sóc sau sinh trên Thế giới:
Ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều phụ nữ thích sinh con ở nhà với sự giúp
đỡ của các bà mụ vườn hoặc người thõn. Một trong những nguyên nhân đó là yếu
tố văn hoá. Bên cạnh đó, còn có một vài lý do khác như môi trường chăm sóc y
tế không thân thiện hoặc sự thiếu cảm thông của nhân viên y tế. Ở một vài nơi
khác sự có mặt của các nam nhân viên y tế là điều không thể chấp nhận được đối
với nền văn hoá của một số dân tộc (Sundari,1992) [34].
1.3.7. Tình hình chăm sóc sau sinh tại Việt Nam:
1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước,
trong và sau sinh:
Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ là dịch vụ chăm sóc đảm
bảo nhu cầu cho những người cần thiết: họ có thể dễ dàng và không có sự
cản trở nào trong việc sử dụng dịch vụ như là sự sẵn có của dịch vụ, hoặc là
vì quá nghèo khó hoặc chất lượng chăm sóc của cán bộ y tế không đảm bảo?
(World Health Day 1998)
Kinh nghiệm triển khai các chương trình dịch vụ y tế cho thấy, thiếu
tiếp cận với các dịch vụ y tế nói chung sẽ làm gánh nặng bệnh tật tăng lên
và trong một số trường hợp thậm chí còn dẫn đến tử vong.
Theo mô hình sử dụng dịch vụ y tế của Anderson 1968 và được
Friedler sửa đổi năm 1981. Có 3 nhóm yếu tố:
17
• Các yếu tố về đặc trưng cá nhân và các yếu tố về lịch sử sinh sản.
• Các yếu tố khả năng kinh tế, khả năng tiếp cận.
• Các yếu tố về dịch vụ y tế.
18
1.4.1 .Ảnh hưởng nhóm yếu tố về đặc trưng cá nhân và yếu tố về lịch sử sinh sản
Thực tế cho thấy phụ nữ tuổi càng cao thì càng ít tiếp cận với dịch vụ y
tế; những người dân tộc thiểu số thì khả năng tiếp cận kém hơn so với người
kinh; những phụ nữ sinh nhiều con, đẻ dày, nạo hút thai nhiều lần . . . thì càng
ít có cơ hội tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
1.4.2.Tiếp cận về địa lý:
Tiếp cận địa lý không chỉ bao gồm khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế
mà còn là chất lượng của đường xá, sự sẵn có của các loại phương tiện
giao thông. Sự khan hiếm của các phương tiện đi lại, đặc biệt ở những vùng
sâu vùng xa và điều kiện đường xá không đảm bảo đã ảnh hưởng đến việc
tiếp cận cơ sở y tế của phụ nữ. Ở nhiều nơi khó khăn, phụ nữ đi bộ đến cơ sở
y tế là việc thường gặp. Nhìn chung, khoảng cách đến cơ sở y tế thường
được đo lường bằng thời gian đến cơ sở y tế bởi các phương tiện thông
Niềm tin văn hoá, cấu trúc xã hôi và đặc tính của mỗi cá nhân cũng rất quan
trọng. Nhiều phụ nữ cho rằng không cần thiết phải đi khám thai. Một cuộc
điều tra ở Ấn độ cho thấy khoảng 60% phụ nữ cảm thấy chăm sóc thai
nghén là không cần thiết. Ở một số nơi, mang thai được xem như vấn đề sức
khoẻ bình thường không cần phải chăm sóc y tế, hoặc sự chăm sóc chỉ cần
thiết khi người phụ nữ mang thai cảm thấy có vấn đề. Ndyomugyenyi và
cộng sự (1998) thấy rằng rất nhiều phụ nữ trong nghiên cứu của họ tại vùng
nông thôn Uganda không biết rằng chăm sóc thai nghén là để theo dõi
sự phát triển của thai nhi và tình trạng sức khoẻ của bà mẹ. Sự thiếu hiểu
biết của phụ nữ về thai sản là một vấn đề chính. Sự mang thai ngoài ý muốn
cũng là lý do làm cho các bà mẹ không đi khám thai. 60% số người không
nhận được chăm sóc thai nghén là mang thai ngoài ý muốn [34].
20
Yếu tố bình đẳng về giới cũng là một vấn đề quan trọng ở nhiều
vùng trên thế giới. Việc quyết định sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho
bà mẹ nhiều khi được quyết định bởi mẹ chồng, chồng hoặc các thành viên
khác trong gia đình, còn tiếng nói của bản thân người phụ nữ lại rất ít trọng
lượng. Ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều phụ nữ thích sinh con ở nhà với sự
giúp đỡ của các bà mụ vườn hoặc người thõn. Một trong những nguyên nhân
đó là yếu tố văn hoá. Bên cạnh đó, còn có một vài lý do khác như môi
trường chăm sóc y tế không thân thiện hoặc sự thiếu cảm thông của nhân
viên y tế. Ở một vài nơi khác sự có mặt của các nam nhân viên y tế là điều
không thể chấp nhận được đối với nền văn hoá của một số dân tộc
(Sundari,1992) [34].
Báo cáo rà soát các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam
giai đoạn 2000-2005 của Quỹ dân số Liên Hiệp quốc thì:
Một số yếu tố kinh tế - xã hội được kể đến như học vấn thấp, tuổi trẻ,
tín ngưỡng (thiên chúa giáo), dân tộc thiểu số, và thu nhập thấp của bà mẹ có
tác động rõ rệt đến các thực hành sau sinh [29], [31], [33], [35].
Các yếu tố khác được coi là cản trở cho phụ nữ có thể tiếp cận chăm
tộc [28], [29], [31], [36]. Một số thực hành được xếp là có lợi, tuy thế, rất
nhiều các tập quán khác là trung tính và/hoặc có hại [31].
Tại Bình Định các yếu tố có liên quan đến sự tiếp cận và sử dụng dịch
vụ CSSKSS tại trạm y tế của bà mẹ là khu vực, khoảng cách từ trung tâm xã
đến trung tâm y tế, bệnh viện tỉnh, trạm y tế xó đã đạt Chuẩn Quốc gia về y tế
hay chưa, dân tộc và trình độ văn hoá của bà mẹ.
22
Kết quả nghiên cứu “Đỏnh giỏ hành vi tìm kiếm và sử dụng dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ sinh sản của phụ nữ dân tộc thiểu số” của cho thấy kiến
thức, hiểu biết của phụ nữ dân tộc thiểu số Tõy Nguyờn về chăm sóc sức khoẻ
trước, trong và sau sinh còn rất hạn chế, mơ hồ thậm chí còn hiểu sai. Mô
hình hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ còn mang tính bị động. Ở
đây còn tồn tại nhiều phong tục tập quán, thói quen có ảnh hưởng xấu đến
hành vi chăm sóc sức khoẻ, coi việc sinh nở là chuyện kín đáo, cúng bái, tin
vào các bà đỡ. Bên cạnh đú thỡ khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế xã hội của
địa phương, năng lực kinh tế của gia đình, trình độ học vấn, ngôn ngữ cũng ảnh
hưởng rất lớn đến nhận thức, thái độ và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ bà mẹ của phụ nữ dân tộc thiểu số. Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng
như chồng, người thân đối với hoạt động chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, chưa
khuyến khích được phụ nữ tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế.
23
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng: Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
- Các bà mẹ sinh con từ ngày 1 tháng 9 năm 2006 đến nay.
- Hiện đang sống tại tỉnh.
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những bà mẹ có con đã bị chết vì bất cứ lý do gì.
(1-p
2
)/d
2
2
]
Trong đó:
* n
1
: cỡ mẫu cho vùng núi.
24
* n
2
: cỡ mẫu cho vùng đồng bằng.
* Z
(1-
α
/2)
: Hệ số tin cậy (Với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96).
* p
1
: Tỷ lệ bà mẹ đẻ tại trạm y tế xã vùng núi năm 2005(= 16%) [5]
* p
2
: Tỷ lệ bà mẹ đẻ tại TYTX vùng đồng bằng năm 2005(= 80%) [5]
* d
1
: Độ chính xác mong muốn cho vùng núi (= 5%).
* d
2