Báo cáo nghiên cứu khoa học: " NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THỤ PHẤN THỤ TINH CỦA MỘT SỐ DÒNG CÀ VỤ XUÂN HÈ 2008 TẠI THỪA THIÊN HUẾ" - Pdf 19



79
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 57, 2010 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THỤ PHẤN
THỤ TINH CỦA MỘT SỐ DÒNG CÀ VỤ XUÂN HÈ 2008
TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Phạm Lê Hoàng, Lê Thị Khánh
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Ở Thừa Thiên Huế và các tỉnh duyên hải miền Trung, trồng cà chua vụ xuân hè tỷ lệ
đậu quả thường thấp, quả dị dạng, hay sẹo nhiều do ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến
quá trình thụ phấn thụ tinh của các giống, làm giảm năng suất và giá trị thương phẩm nghiêm
trọng. Nghiên cứu này nhằm xác định khả năng thụ phấn thụ tinh tốt nhất đối với cà chua trong
vụ xuân hè tại Thừa Thiên Huế, đồng thời làm cơ sở cho việc lựa chọn bố mẹ có khả năng phối
hợp tốt, phục vụ công tác lai tạo giống mới, sản xuất hạt lai đối với tổ hợp lai mới hoặc chọn
giống tiếp theo. Thí nghiệm gồm 10 dòng cà chua trồng trong vụ xuân hè 2008 tại nhà lưới
Trường Đại học Nông Lâm Huế, trong đó 6 dòng làm bố; 4 dòng làm mẹ. Diện tích mỗi ô là 10
m
2
, diện tích toàn thí nghiệm là 120 m
2
, trồng trên giá thể là vụn xơ dừa, áp dụng phương pháp
tưới nhỏ giọt. Dựa vào 5 nguyên tắc để chọn cặp bố mẹ, áp dụng phương pháp lai đơn, đã chọn
được 6 tổ hợp lai thích hợp, được mã hoá từ T1- T6 tương ứng. Kết quả cho thấy: Thời điểm lai
8 – 10 giờ sáng cho tỉ lệ đậu quả cao nhất, các quả đậu có hình dáng quả đẹp, không bị dị dạng.
Trong các yếu tố ảnh hưởng thì thời điểm lai 8-10 giờ cho tỉ lệ đậu quả cao nhất (30,0%). Vị trí
chùm hoa thứ 2/thân chính cho tỉ lệ đậu quả cao nhất (50,0 - 85,7%). Trong đó các dòng được
chọn để lai đơn thì cặp bố mẹ T4 (♀ CLN 1621L x ♂ CLN 5915D) và T5 (♀ CLN 1621L X ♂

2. Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Thí nghiệm gồm 10 dòng, trong đó 6 dòng làm bố (C125, CLN 5915D, CH
154, CLN 2443A, Bi, CHT 1050SE); 4 dòng làm mẹ (CLN 2071C, C155, CLN 1621L,
CLN 2498E). Thực hiện 6 cặp lai ký hiệu T1 đến T6 (1.♀CLN 2071C X ♂C125;
2.♀CLN 2498E X ♂CH 154; 3.♀C155 X ♂Bi; 4.♀CLN 1621L X ♂CLN 5915D;
5.♀CLN 1621L X ♂CHT1050SE; 6. ♀C155 X ♂CLN 2443A). Đây là những dòng cà
chua triển vọng được tuyển chọn và kế thừa từ những kết quả nghiên cứu năm 2006 –
2007.
2.2. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu 3 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả
năng thụ phấn thụ tinh (khả năng đậu quả) của các dòng cà chua trong vụ xuân hè
- Ảnh hưởng của các thời điểm lai trong ngày: 6-8 giờ, 8-10 giờ, 17-18 giờ
- Ảnh hưởng của các vị trí chùm hoa được lai trên/thân chính: chùm hoa thứ
nhất, chùm hoa 2, chùm 3 trên thân chính
- Nghiên cứu khả năng thụ phấn thụ tinh của dòng làm bố và dòng làm mẹ trong
điều kiện tự nhiên và quả thụ phấn nhân tạo do lai đơn (số hạt trong quả/chùm hoa thứ 2)
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên, không nhắc lại. Diện tích mỗi ô
là 10 m
2
, diện tích toàn thí nghiệm là 120 m
2
, thí nghiệm trong nhà lưới Trường Đại học
Nông Lâm, Đại học Huế, trồng trên giá thể là vụn xơ dừa, áp dụng phương pháp tưới
nhỏ giọt. Các biện pháp kỹ thuật khác được áp dụng đồng đều và thích hợp. Nhiệt độ và
ẩm độ không khí đo bằng nhiệt kế và ẩm kế cầm tay. 81
Dựa vào sự khác nhau về nguồn gốc địa lý sinh thái, các yếu tố cấu thành năng

o
KK
trung
bình
t
o
KK cao
nhất

t
o
KK
thấp nhất
Ẩm độ
KK trung
bình
Ẩm độ
KK thấp
nhất
2
Ngày 1-10
15,5 20,0 13,2 94 85
Ngày 11-20
16,0 20,0 13,0 93 82
Ngày 21-30
17,2 24,3 13,4 96 83
3
Ngày 1-10
19,0 23,0 15,0 92 80
Ngày 11-20

CLN 2001A có tỷ lệ đậu quả cao nhất (47,0-53,3%)
3.3. Ảnh hưởng của các thời điểm lai trong ngày đến tỷ lệ đậu quả cà chua
(lai đơn) vụ xuân hè 2008
Bảng 2. Tỷ lệ đậu quả của các dòng cà chua do ảnh hưởng của các thời điểm lai trong ngày
Chỉ tiêu
Cặp lai đơn

Số hoa
đem lai
(hoa)
Thời điểm lai
6 – 8 giờ 8 – 10 giờ 17 – 18 giờ
Số quả
đậu
(quả)
Tỉ lệ
đậu
quả
(%)
Số
quả
đậu
(quả)
Tỉ lệ
đậu
quả
(%)

đến sự thụ tinh của cà chua rõ rệt.
3.5. Khả năng thụ phấn thụ tinh của dòng bố, dòng mẹ (trong điều kiện tự
nhiên) và quả lai (thụ phấn nhân tạo bằng lai đơn)
Bảng 4. Số hạt trung bình/quả của dòng làm bố, mẹ và quả lai đơn (hạt)
Số hạt/quả

Cặp lai đơn
Quả/cây làm mẹ
tự thụ*
Quả/cây làm bố
tự thụ *
Quả lai
T1
24,0
±
3,0 16,0
±
3,0 13,3
±
1,7
T2
33,0
±
3,0 8,0
±
3,0 19,3
±
2,7
Chỉ tiêu


đem
lai
(hoa)

Số
quả
đậu
(quả)

Tỷ lệ
đậu
quả
(%)
Số
hoa
đem
lai
(hoa)
Số
quả
đậu
(quả)

Tỷ lệ
đậu
quả
(%)
T1 70 20 28,5 70 50 71,4 60 10 16.6 40,0
T2 70 40 57,1 70 60 85,7 60 0 0 50,0
T3 100 40 40,0 100 80 80,0 70 20 28,5 51,9

T6
31,3
±
5,7 63,3
±
3,7 24,0
±
3,0
*: Số quả/cây làm bố và làm mẹ được chọn (đeo số) tương ứng với số quả lai ở
thời điểm lai 8-10 giờ trong ngày và vị trí chùm hoa thứ 2/thân chính).
Bảng 4 cho thấy nhìn chung tất cả các tổ hợp lai thì các dòng làm mẹ có số
hạt/quả tự thụ nhiều hơn các dòng làm bố tự thụ và quả thụ phấn nhân tạo. Trong đó số
hạt/quả của các dòng ♀CLN 1621L là cao nhất (71 hạt/quả) và cao hơn số hạt/quả của
dòng làm bố ♂CLN 5915D, ♂CHT1050SE (22,3- 43,6 hạt/quả) và cao hơn quả thụ
phấn nhân tạo (39 hạt/quả). Như vậy, lai T4 và T5 có số hạt/quả nhiều nhất chứng tỏ
những dòng làm bố mẹ này có khả năng phối hợp tốt nhất.
Điều này cũng cho ta nhận thấy số hạt trong quả thụ phấn nhân tạo bằng phấn
của dòng khác phụ thuộc vào sự nhận phấn của nhuỵ cái và sự nảy mầm ống phấn của
nhị đực. Ở những hoa tự thụ phấn thì số hạt trong quả thể hiện sự thích ứng của bố mẹ
với các yếu tố ngoại cảnh tác động đến thụ phấn thụ tinh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,
chất dinh dưỡng trong điều kiện tự nhiên. Còn ở quả thụ phấn nhân tạo bằng phấn của
dòng khác, ngoài thể hiện các yếu tố trên thì số hạt trong quả còn thể hiện khả năng
phối hợp của các giống bố mẹ với nhau. Khả năng phối hợp giữa các dòng bố mẹ cao
thì quá trình thụ tinh diễn ra tốt, số hạt trong quả sẽ nhiều.
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
Các yếu tố như thời điểm lai trong ngày, vị trí chùm hoa/thân chính và chọn cặp
bố mẹ thích hợp đều có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng thụ phấn thụ tinh của cà chua:
- Thời điểm lai 8 – 10 giờ sáng cho tỉ lệ đậu quả cao nhất, các quả đậu có hình
dáng quả đẹp, không bị dị dạng. Trong đó cặp lai T4 có tỉ lệ đậu quả cao nhất (30,0%).

TO STUDY ON SOME FACTOR EFFECT FOR POLLINATION,
INSEMINATION ABILITY OF TOMATO IN SPRING - SUMMER CROP 2008
IN THUA THIEN HUE PROVINCE
Pham Le Hoang, Le Thi Khanh
College of Agriculture and Foresty, Hue University
SUMMARY
During the cultivation of tomato in Thua Thien Hue and some provinces in Central
Vietnam in Spring - Summer crop, it has been observed that the fruit set-up rate is low, the fruit
is not in normal shape caused by environmental factors directly affecting the pollination and
insemination abilities of varieties, reducing the yield and quality of tomatoes. The objective of
this research is to bring up the highest pollination and insemination abilities of tomato in Spring
- Summer Crop in Thua Thien Hue Provinc. This research is also aimed at choosing the best
combination between father and mother plants for the next cross - breeding. Ten tomato lines
were used during the spring - Summer crop from 5 January 2008 to 30 May 2008 at Hue 86
University of Agriculture and Forestry Net hourse, from which 6 lines were used for father; 4
lines were used for mother. These lines were chosen from promising lines and based on the
results of the previous research on O.P varieties from 2000 - 2005. Based on 5 principles father
and mother couples were chosen to apply the sexual cross - breeding method (single cross -
breeding). Each plot consisted of four rows and the distance between the rows is 60 x 50 cm.
The total area is 120m
2
. The drip irrigation method was applied. The results showed that: 6
cross - breeding couples were chosen (♀CLN 2071C X ♂C125; ♀CLN 2498E X ♂CH 154;
♀C155 X ♂Bi; ♀CLN 1621L X ♂CLN 5915D; ♀CLN 1621L X ♂CHT1050SE; ♀C155

X
♂CLN 2443A). The ability to combine father and mother pair was good. The plants cross-bred


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status